Xem Nhiều 1/2023 #️ Xuân Quỳnh Ngắn Gọn Nhất # Top 10 Trend | Maiphuongus.net

Xem Nhiều 1/2023 # Xuân Quỳnh Ngắn Gọn Nhất # Top 10 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Xuân Quỳnh Ngắn Gọn Nhất mới nhất trên website Maiphuongus.net. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Soạn văn bài Sóng – Xuân Quỳnh trang 156 SGK ngữ văn 12 tập 1 các bạn tham khảo soạn bài tốt hơn.

Câu 1 trang 156 SGK Ngữ văn 12, tập 1 

– Âm điệu, nhịp điệu của bài thơ là âm điệu, nhịp điệu của những con sóng trên biển và cũng là những con sóng lòng tràn đầy xúc cảm của người phụ nữ đang yêu.

– Âm điệu, nhịp điệu trên được tạo bởi các yếu tố sau:

+ Thể thơ năm chữ ngắn gọn cùng cách ngắt nhịp linh hoạt, phóng túng.

+ Phương thức tổ chức ngôn từ và hình ảnh, sử dụng những đối sánh liên tiếp phân thành hai cực (dữ dội – dịu êm, ồn ào – lặng lẽ, sông – biển, ngày xưa – ngày sau, lòng sâu – mặt nước, ngày – đêm, xuôi – ngược, phương Bắc – phương Nam, dài – rộng) tạo nhịp sóng xô ra – vào của con sóng biển, sóng lòng.

Câu 2 trang 156 SGK Ngữ văn 12, tập 1 

– Cũng như sóng, khát vọng tình yêu của tuổi trẻ là muôn đời: Ngày xưa – ngày sau, vẫn thế, bồi hồi (khổ 2).

Câu 3 trang 156+157 SGK Ngữ văn 12, tập 1 

– Hai hình tượng sóng và em có mối quan hệ gắn bó, mật thiết, cùng song hành xuyên suốt bài thơ. Thực chất, đó sóng là sự phân thân của em, giúp em diễn tả tình yêu một cách kín đáo, ý nhị, tinh tế. Hai hình tượng này ẩn hiện trong nhau và làm nổi bật lẫn nhau.

– Bài thơ có kết cấu sóng đôi

– Người phụ nữ đang yêu tìm thấy sự tương đồng giữa các trạng thái của tâm hồn mình với con sóng, đó là: sự mâu thuẫn, phức tạp; những khát khao mãnh liệt; nỗi nhớ tha thiết cồn cào; sự trường tồn vĩnh cửu:

+ Con sóng ở tự nhiên mênh mông biển lớn kia có rất nhiều đối cực khác nhau, trạng thái khác nhau. Cũng như tình yêu vậy, tình yêu cũng có rất nhiều cung bậc, trạng thái và cuối cùng điều muốn nói nhất ở đây chính là như tâm hồn người phụ nữ có những mặt mâu thuẫn mà thống nhất (Hai câu đầu khổ 1)

+ Cuộc hành trình có thể nói đầy táo bạo của sóng khi tìm ra với biển khơi hay nói khác đi đó cũng chính là cuộc hành trình của tình yêu hướng về cái vô biên, tuyệt đích. Và phải chăng nó giống như tâm hồn người phụ nữ không chịu chấp nhận sự chật hẹp, tù túng (hai câu cuối khổ 1)

+ Điểm khởi đầu bí ẩn của sóng chính là điểm khởi đầu và sự mầu nhiệm, mọi việc, mọi chuyện dường như khó nắm bắt của tình yêu (Phân tích các khổ 3, 4 )

+ Sóng luôn luôn vận động như tình yêu gắn liền với những khát khao mãnh liệt, trăn trở cứ lặp đi lặp lại không yên, và cũng như người phụ nữ khi yêu luôn da diết nhớ nhung, cồn cào ước vọng về một tình yêu vững bền, chung thủy (Phân tích các khổ 5, 6, 7, 8 )

+ Sóng còn chính là hiện tượng thiên nhiên vĩnh cửu và lấy cái vĩnh cửu của sóng để nói , để ví von với tình yêu. Và đó là khát vọng muôn đời của bất cứ ai trong cuộc đời khi yêu nồng cháy. Và trước hết là người phụ nữ (nhân vật trữ tình trong bài thơ) muốn dâng hiến cả cuộc đời cho một tình yêu đích thực (khổ cuối)

Câu 4 trang 157 SGK Ngữ văn 12, tập 1 

Bài thơ là lời tự bạch của người phụ nữ đang yêu. Đó là một tâm hồn chân thành, đằm thắm, luôn da diết khát vọng tình yêu, khát vọng hạnh phúc. Tình yêu của người phụ nữ ấy qua bài Sóng thật thiết tha, chung thủy, mạnh mẽ, mong muốn vượt lên trên thử thách của thời gian, khó khăn trong cuộc đời và sự hữu hạn của kiếp người.

Luyện tập

Câu hỏi (trang 157 SGK Ngữ văn 12 tập 1)

– Biển (Xuân Diệu)

– Thuyền và biển (Xuân Quỳnh)

– Bên biển (Huy Cận)

Bố cục

Bố cục( 4 phần)

– Phần 1 (khổ 1+2) : Sóng – Khát vọng tình yêu của người con gái

– Phần 2 (khổ 3+4) : Ngọn nguồn của sóng – Truy tìm sự bí ẩn của tình yêu

– Phần 3 (khổ 5+6+7) : Sóng – Nỗi nhớ thủy chung trong tình yêu

– Phần 4 (Khổ 8+9) :  Những suy tư về cuộc đời và khát vọng trong tình yêu.

ND chính

Qua hình tượng sóng, trên cơ sở khám phá sự tương đồng, hòa hợp giữa sóng và em, bài thơ diễn tả tình yêu của người phụ nữ thiết tha, nồng nàn, chung thủy, muốn vượt lên thử thách của thời gian và sự hữu hạn của đời người. Từ đó thấy được tình yêu là một tình cảm cao đẹp, một hạnh phúc lớn lao của con người.

Bài Soạn Sóng Của Xuân Quỳnh Ngắn Gọn Ở Ngữ Văn Lớp 12

Tham khảo bài soạn Sóng của Xuân Quỳnh ngắn gọn ở ngữ văn lớp 12 được blog chọn lọc và chia sẻ trong bộ tài liệu học tốt môn ngữ văn lớp 12, nhằm mang đến tài liệu tham khảo hay.

Hướng dẫn soạn bài Sóng của Xuân Quỳnh ở ngữ văn lớp 12

Câu 1:

* Về âm điệu, nhịp điệu bài thơ.

-Nhịp điệu bài thơ mô phỏng nhịp điệu của sóng biển: dữ dội, dịu êm, ồn ào, lặng lẽ, dưới lòng sâu, trên mặt nước…

* Âm điệu, nhịp điệu đó được tạo nên bởi những yếu tố:

– Thể thơ năm chữ

– Những câu thơ liền mạch, từng không ngắt nhịp

– Các khổ thơ được gắn kết với nhau bằng cách nối vần

– Nhịp thơ gợi dư âm sóng biển

– Vần thơ: vần chân, vần cách, gợi hình ảnh các lớp sóng đuổi nhau.

Câu 2:

Hình tượng bao trùm, xuyên suốt bài thơ là hình tượng sóng.

– “sóng” mang nghĩa tả thực: con sóng với nhiều trạng thái mâu thuẫn, trái ngược nhau. Sóng được miêu tả chân thực, sinh động ngoài biển khơi. Sóng có tính cách, tâm trạng, tâm hồn.

– Nghĩa biểu tượng của “sóng”:

+ Sức sống và vẻ đẹp tâm hồn của nhà thơ cũng như mọi sáng tạo nghệ thuật trong bài thơ đều gắn liền với hình tượng sóng.

+ Hình tượng sóng được gợi ra trong cả bài thơ bằng âm điệu: dào dạt, nhịp nhàng, lúc sôi nổi trào dâng, lúc thì thầm sâu lắng, gợi âm hưởng của những đợt sống miên man, vô tận.

+ Là hình tượng ẩn dụ, sự hoá thân của nhân vật trữ tình “em”. Xuân Quỳnh lấy hình tượng sóng để thể hiện một tình yêu sôi nổi, chân thành và dạt dào khát vọng.

Câu 3:

* Hai hình tượng là “sóng và em”: song hành, tuy hai mà một, khi hoà nhập, khi tách rời diễn tả sâu sắc,sinh động,mãnh liệt khát vọng của Xuân Quỳnh.

* Kết cấu bài thơ là kết cấu liền mạch trong dòng suy nghĩ và cảm xúc

* Sự tương đồng trong tâm hồn người phụ nữ với các con sóng:

Câu 4:

Bài thơ là lời tự bạch của một tâm hồn phụ nữ đang yêu. Đó là một tâm hồn rất chân thành, sôi nổi và mạnh mẽ, hết mình trong tình yêu. Người phụ nữ trong tình yêu, tình yêu thật đằm thắm, thật dịu dàng, thật hồn hậu dễ thương, thật chung thủy. Người phụ nữ đã táo bạo, mãnh liệt, dám vượt qua mọi trở ngại để giữ gìn hạnh phúc, dù có phấp phỏng trước cái vô tận của thời gian, nhưng vẫn vững tin vào sức mạnh của tình yêu.

Luyện tập:

Một số bài thơ viết về tình yêu có sự so sánh với sóng và biển:

+ Biển (Xuân Diệu):

“Bờ đẹp đẽ cát vàng

Thoai thoải hàng thông đứng

Như lặng lẽ mơ màng

Suốt ngàn năm bên sóng

Anh xin làm sóng biếc

Hôn mãi cát vàng em

Hôn thật khẽ, thật êm

Hôn êm đềm mãi mãi…”

+ Khúc thơ tình người lính biển (Trần Đăng Khoa):

“…Biển ồn ào, em lại dịu êm

Em vừa nói câu chi rồi mỉm cười lặng lẽ

Anh như con tàu lắng sóng từ hai phía

Biển một bên và em một bên”

Sưu tầm

5 Bài Thơ Hay Nhất Của Xuân Quỳnh

Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, được biết đến rộng rãi trong làng thơ Việt bởi bút danh Xuân Quỳnh. Nữ thi sĩ sinh năm 1942 và qua đời vào năm 1988. Xuân Quỳnh thể hiện niềm đam mê với nghệ thuật ngay từ khi còn nhỏ. Cô từng là diễn viên múa từ năm 13 tuổi. Bài thơ đầu tiên của cô được đăng báo vào năm cô 19 tuổi. Xuân Quỳnh ‘chính thức’ trở thành nhà thơ chuyên nghiệp sau khi trải qua lớp bồi dưỡng của Hội Nhà Văn Việt Nam. Đây là lớp bồi dưỡng dành cho những người viết văn trẻ, và là khoá đầu tiên của Hội (1962-1964). Dù tuổi thọ, tuổi thơ không dài, nhưng Xuân Quỳnh được tôn vinh là nữ thi sĩ hàng đầu nửa cuối thế kỷ 20.

Đọc thơ Xuân Quỳnh, độc giả sẽ có một cảm nhận rất ‘lạ’. Cảm giác như thể cô không hề ‘chế tạo’ câu chữ, ‘gượng ghép’ thành thơ. Thơ Xuân Quỳnh giống như những dòng hồi ký, kể lại những gì chính tác giả đã sống, đã trải. So với lớp thi sĩ cùng thời, nét riêng của Xuân Quỳnh đã được lột tả rõ ràng bởi chính khía cạnh nội tâm đó.

Thơ Xuân Quỳnh đầy tâm trạng cá nhân chứ không phải thứ tháp ngà phi hiện thực, tách xa đời sống. Đọc thơ của cô, độc giả cảm nhận đời sống đích thực, như chính đời sống của nữ thi hào trong giai đoạn lịch sử đó. Giai đoạn này, Việt Nam vẫn đang bị chia cắt, chiến tranh vẫn hiện diện. Sự nghèo khó, gian truân, nỗi lo toan con cái, cơm áo gạo tiền phảng phất trong mỗi vần thơ. Xuân Quỳnh – một người phụ nữ làm thơ, ngược xuôi trên mọi ngả đường bom đạn.

Thời kỳ đó, rất nhiều bài thơ mang hơi hướng phản ánh sự kiện chính trị, xã hội. Một số nhà thơ đưa tâm trạng chung của xã hội vào thơ, chứ không hẳn là cảm xúc của bản thân. Xu hướng ‘vui buồn của thi sĩ hòa trong buồn vui chung của công dân’ dễ dàng được tìm thấy. Nhưng thơ Xuân Quỳnh thì hoàn toàn khác. Thơ của cô là vần thơ tâm trạng mang đúng chất Xuân Quỳnh. Tâm trạng đó nảy sinh từ đời sống của chính cô, từ hoàn cảnh của riêng cô chứ không phải ai khác.

Thơ Xuân Quỳnh khác lắm. Có bài thơ về chiến tranh, viết trên đường 20, nhưng lại mang nỗi lòng của cô gái đang yêu. Có bài thơ lại tràn đầy chi tiết hiện thực, giống như một ký sự. Nhưng đó không phải một ký sự về Hà Nội những ngày chống Mỹ, mà lại là những dòng thơ thấm đẫm nỗi lòng riêng của Xuân Quỳnh. Vần thơ viết ra theo dòng cảm xúc của cô gái, đã tạo nên một mạch trữ tình. Mạch trữ tình đó lại vô thức xâu chuỗi các chi tiết rời rạc của ngày thường, tổ chức nó thành kết cấu độc đáo của bài thơ.

Tinh tế, sâu sắc, đậm tình ý nhưng lẩn khuất phía sau những vần thơ Xuân Quỳnh lại là tư tưởng nhân văn, triết luận (Cơn mưa không phải của mình, Đồi đá ong và cây bạch đàn, Chuyện cổ tích về loài người, Những người mẹ không có lỗi…). Đó không phải những triết lý tư biện, viễn vọng, ‘vô phương ứng dụng’. Đó là những tâm tư đúc kết từ đời thực, đầy tính thực tiễn, giúp ích thật sự cho độc giả trên khía cạnh nhận thức và ứng xử trong cuộc đời.

Sự tinh tế trong quan sát có lẽ chính là khả năng thiên bẩm của Xuân Quỳnh. Cô quan sát không chỉ bằng thị giác, mà bằng tất cả giác quan và phong phú trong liên tưởng. Những chi tiết vốn gần gũi bỗng trở nên mới lạ, tạo ý vị đậm đà cho câu thơ.

Một màu cỏ mùa xuân:

“Cỏ bờ đê rất lạ Xanh như là chiêm bao…” “Mưa trên cọ bàng hoàng rồi vụt tạnh…”

Hay tiếng mưa trên lá cọ:

Cũng có thể vì có tài quan sát mà ở một số bài Xuân Quỳnh ham tả, ham kể. Kể có duyên nhưng vẫn làm loãng chất thơ. Những bài thơ dài của Xuân Quỳnh thường dài vì quá dày chi tiết.

Một số tác phẩm tiêu biểu trong sự nghiệp của Xuân Quỳnh

Truyện: – Bến tàu trong thành phố, NXB Kim Đồng, 1984 – Vẫn có ông trăng khác (tập truyện ngắn), NXB Kim Đồng, 1988 – Bao giờ con lớn (truyện tranh), NXB Kim Đồng, 1975 – Mùa xuân trên cánh đồng, NXB Kim Đồng, 1981 – Bầu trời trong quả trứng, NXB Kim Đồng, 2005

Thơ: – Gió Lào cát trắng, NXB Văn học, 1974 – Hoa dọc chiến hào, NXB Văn học, 1968 – Tự hát, NXB Tác phẩm mới, 1984 – Lời ru trên mặt đất, NXB Tác phẩm mới, 1978 – Sân ga chiều em đi, NXB Văn học, 1984 – Truyện Lưu, Nguyễn (truyện thơ), NXB Kim đồng, 1983 – Thơ viết tặng anh Tp. Hồ Chí Minh, Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh, 1988

Dịch: – Bố ơi, bố làm con sợ đi (truyện tranh, t/g: Tamara Đăngblông), NXB Kim Đồng, 1989

5 bài thơ hay nhất của nhà thơ Xuân Quỳnh

(Biển Diêm Điền, 29-12-1967)

1. Sóng

2. Thuyền và biển

Em sẽ kể anh nghe Chuyện con thuyền và biển:

Nếu từ giã thuyền rồi Biển chỉ còn sóng gió”

3. Tự hát

4. Thơ tình cuối mùa thu

chúng tôi

5. Chuyện cổ tích về loài người

Phong Cách Thơ Xuân Quỳnh

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VẪN

NGUYÊN THỊ KIM ĐỊNH

PHONG CÁCH THƠ XUẲN QUỲNH Chuyén ngành: Văn học Việt Nam Mã số: 60 22 34

LUẬN VẢN THẠC Sĩ NGỮ VÃN

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Nam

Hà Nội – 2009

Phong cách thơ Xuân Quỳnh

M ỤC LỤ C PHẨN MỎ ĐẦU 1. Lý do chọn đé tài…………………………………………………………………………………..

2. Lịch sử vấn đ ề …………………………………………………………………………………………….

5

Mục đích và phạm vi nghiên cứu…………………………………………………………. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………………………………… Đóng góp của luận văn…………………………………………………………………………. Cấu trúc luận văn…………………………………………………………………………………..

DẪN LUẬN: PHONG CÁCH

19

CHƯƠNG 1 CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ XUÂN QUỲNH 1.1. Cái tôi nồng nàn, đắm say, yêu thương, khát khao hạnh phúc mà vị tha, sẵn sàng hi sinh dâng h iế n ………………………………………………………………….. 1.1.1. Cái tôi nồng nàn, đắm say, yêu thương,khát khao hạnh phúc………… 1.1.2. … mà vị tha, sẵn sàng hi sinh dâng hiến………………………………………… 1.2. Cái tôi táo bạo, chủ động, quyết liệt, hiện đại mà vẫn nhuần nhị, nữ tính, truyền thống ……………………………………………………………………………………… 1.2.1. Cái tôi táo bạo, chủ động, quyết liệt, hiện đ ại………………………………… 1.2.2. … mà vẫn nhuần nhị, nữ tính, truyền thống……………………………………. 1.3. Cái tôi tràn đầy tình yêu cuộc sống mà nặng trĩu mặc cảm, âu lo .. 1.3.1. Cái tôi tràn ngập tình yêu cuộc sống, giàu khát vọng, ước m ơ………. 1.3.2. … mà vẫn nặng trĩu những mặc cảm âu lo………………………………………

21

CHƯƠNG 2

NHỮNG CẢM HỨNG LỚN TRONG THƠ XUÂN QUỲNH 2.1. Cảm hứng về quê hương, đất nước trong những năm tháng chiến tranh………………………………………………………………………………………………………….. 2.1.1. Viết về chiến tranh với cái nhìn mang thiên tính nữ ………………………. 2.1.1.1. Viết về chiến tranh bằng sự trải nghiệm của bản thân………………… 2.1.1.2. Giá trị hạnh phúc đời thường trong chiến tranh…………………………… 2.1.2. Viết về quê hương, đất nước với tình yêu thiết th a ………………………… 2.1.2.1. Cảm xúc về những miền đất nơi Xuân Quỳnh đã đi qu a……………… 2.1.2.2. Tình yêu quê hương, đất nước bắt nguồn từ những sự vật đơn sơ, bình d ị ……………………………………………………………………………………………………….. 2.1.2.3. Tinh yêu quê hương, đất nước xuất phát từ tình yêu thương con n g ư ờ i………………………………………………………………………………………………………….

1

Nguyẻti Thị Kim Định

2.2. Cảm hứng về hạnh phúc đời thường………………………………………………….. 2.2.1. Tổ ấm gia đình……………………………………………………………………………….. 2.2.1.1. Anh – trụ cột gia đình “người vĩ đại của em ” ……………………………… 2.2.1.2. Con cái – trái tim tổ ấm ………………………………………………………………. 2.2.1.3. Mẹ – “mẹ của chúng mình” ………………………………………………………… 2.2.1.4. Chị – “chăm cho em từng việc hàng ngày” ………………………………….. 2.2.2. Những chuyện đời thường……………………………………………………………… CHƯƠNG 3 NÉT ĐỘC ĐÁO VẾ PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN THO XUÂN QUỲNH

3.1. Hình ảnh, biểu tượng………………………………………………………………………… 3.1.1. Hình ảnh sóng, thuyền, biển, con tàu – Hình ánh tượng trưng của tình yêu, khái vọng kiếm tim và sự khao khát vươn tới những chân trời mới… 3.1.2. Hình ảnh hoa và cỏ dại – Hình ảnh thân phận người phụ nữ…………. 3.1.3. Hình ảnh trái tim và bàn tay – Hình ảnh tượng trưng cho sự hy sinh, dâng hiến; khao khát được nương tựa, gắn bó ………………………………………….. 3.2. Ngôn ngữ………………………………………………………………………………………….. 3.2.1. Ngôn ngữ giản dị, tự nhiên gắn với sinh hoạt hàng ngày 3.2.1.1. Ngôn ngữ giàu chất dân gian 3.2.1.2. Ngôn ngữ giản dị, dân giã của cuộc sống tình yêu, lao động và chiến đ ấ u ………………………………………………………………………………………………….. 3.2.2. Một số cách tổ chức ngôn ngữ……………………………………………………..

3.2.2.1. Câu kể, liệt k ê ……………………………………………………………………………………

103

3.2.2.2. Kết cấu đối thoại………………………………………………………………………… 3.3. Giọng điệu………………………………………………………………………………………… 3.3.1. Giọng điệu lời ru vừa thủ thi’ vừamạnh m ẽ…………………………………… 3.3.2. Giọng điệu khắc khoải lo âunhưng cũng đầy tin tưởng………………….. 3.4. Thời gian………………………………………………………………………………………….. 3.4.1. Thời gian quá khứ………………………………………………………………………….. 3.4.2. Thời gian hiện tại…………………………………………………………………………… 3.4.3. Dự cảm tương lai…………………………………………………………………………… 3.5. Không gian……………………………………………………………………………………….. 3.5.1. Không gian hiện thực……………………………………………………………………. 3.5.2. Không gian tình yêu……………………………………………………………………….

PHẦN KẾT LUẬN

131

DANH MỰC TÀI LIỆU THAM KHẢO

133

2

Nguyễn Thị Kim Định

Phong cách thơ Xuân Quỳnh

PHẨN MỞ ĐẨU 1. Lý do chọn đé tài: Chọn đề tài Phong cách thơ Xuân Quỳnh”, chúng tôi xuất phát từ những lý do sau: 1.1 “Qua tiếng hát anh nhận ra người hát. Qua nét khắc anh nhân ra người thợ bạc” (“Đatxa của tôi” – Raxun Gamratôp). Qua tiếng hát, ta nhận ra tâm hổn người nghệ sĩ. Đó là tâm hồn lạc quan, khoẻ khoắn hay là tâm hồn của người dịu dàng, đằm thắm…Qua nét khấc, những đường nét hoa văn tinh tế, ta nhận ra những cảm nhận sâu sắc về cuộc sống của người nghệ sĩ. Có thể nói, qua mỗi tác phẩm nghệ thuật, người ta nhận ra tâm hồn, nét dáng riêng, dấu ấn riêng của người làm nghệ thuật. Dấu ấn riêng, nét dáng riêng mà tác giả tạo ra trong tác phẩm, đó chính là phong cách. Phong cách của tác giả tạo nên sự mới lạ trong tác phẩm và sự phong phú, đa dạng của một nền văn học. Vì vậy, phong cách là một trong những vấn đề trọng tâm trong nghiên cứu văn học. Nó xác định được những mặt độc đáo về nội dung tư tưởng cũng như những đặc sắc về nghệ thuật biểu hiện trong sáng tác của nhà văn. Mang một ý nghĩa quan trọng như vậy, song cho đến nay, vấn đề phong cách đã được chú ý hơn trước rất nhiều nhưng vẫn còn rất nhiều tác giả đã được ghi nhận có phong cách của riêng mình nhưng vẫn chưa được nghiôn cứu đầy đu. Trên con đường đi vào thế giới nghệ thuật thơ, vì lý do này khác hình như còn dè dặt, e ngại khi khai phá mảnh đất màu mỡ nhưng cũng đầy thử thách này. Bởi vậy, cũng dễ hiểu khi thấy có rất nhiều bài viết về Xuân Quỳnh, về thơ của chị, song còn thiếu những cồng trình mang tính hệ thống. Các bài viết hầu hết mới chỉ dừng lại ở việc cảm nhận, khai thác một vài khía cạnh, một vài bài thơ tiêu biểu của chị mà chưa đi sâu vào nghiên cứu phong cách thơ chị. Đây là lý do đầu tiên khuyến khích chúng tôi lựa chọn đề tài này. 1.2.

Lý do thứ hai xuất phát từ chính thơ Xuân Quỳnh: Cùng trưởng thành

trong kháng chiến chống Mỹ, Xuân Quỳnh nổi bật lên là một gương mặt tiêu biểu mang đậm bản sắc riêng, một nhà thơ nữ có vị trí quan trọng của nền văn học Việt Nam hiện đại. Tha chị dù viết trong khói lửa đạn bom hay trong hoà bình xây dựng, lúc nào cũng thống nhất ở một cách nhìn, cách cảm của riêng chị. Dù ở bước thăng trầm nào của cuộc đời, thơ vẫn là nơi để chị trang trải lòng mình, là chốn đi về sau những nhọc nhằn, vất vả của đời thường, để từ đó chị lại đến với đời thiết tha hơn.

3

Nguyễn Thị Kim Định

Nguyễn Thị Kim Định

5

Nguyễn Thị Kim Định

Phong cách thơ Xu án Quỳnh 1.1. Trước năm 1988: Dù không phái là người được “cuộc đời chuẩn bị để trở thành nhà thơ” nhưng như một nghiệp dĩ. Xuân Quỳnh lại đến với thơ khá bất ngờ. Từ bỏ ánh đèn hào quang của sân khấu, đến với thơ, cô diễn viên múa xinh đẹp hầu như không có một quá trình tu dưỡng về nghề thơ, không có gì hết ngoài một trái tim biết yêu. biết khao khát sáng tạo. Hơn hai mươi năm cầm bút, thời gian không dài nhưng Xuân Quỳnh đã để lại một số lượng không nhỏ (khoảng 10 tập thơ và một số truyện viết cho thiếu nhi). Từ tập thơ đầu tay “Chổi biếc” đến uHoa cỏ may” – tập thơ cuối cùng là một chặng đường thơ không ngừng nghỉ, luôn biết vươn lên trong hành trình tới chính mình của người phụ nữ “trời bất làm thơ”. Ngay từ khi mới xuất hiện, thơ Xuân Quỳnh đã được chú ý. Từ những tập thơ đầu. chị đã được đánh giá là một cây bút có nhiều triển vọng. Song như đã nói ớ trên, từ thời điểm 1988 trớ về trước, sự nghiên cứu, phê bình về thơ Xuân Quỳnh không nhiều mà mới chỉ dừng lại ở các tập thơ hoặc những bài phê bình, nhận xét ngắn gọn về phong cách nghệ thuật biểu hiện. – Tơ tằm và chồi biếc (Lê Đình Kỵ, Nghiên cứu văn học, số 1, trang 20). – Xuân Quỳnh – Một chồi thơ sắc biếc (Chu Nga, Tạp chí văn học 1973, sô’ 1, trang 20). – Thơ Xuân Quỳnh (Thiếu Mai, Tạp chí Vãn học 1983, sô’ 1, trang 39). – v ẻ đẹp thơ Xuân Quỳnh (Nguyễn Xuân Nam, Trích trong Thơ, tìm hiểu vả thưởng thức – NXB Tác phẩm mới 1985). – Thơ kháng chiến chỏng Mỹ cứu nước 1965 – 1967 (Lời giới thiệu – NXB Văn học 1986). – Ý thức về thời gian, cảm giác về hạnh phúc (‘Vương Trí Nhàn, trích Bước đầu đến với Vãn học – NXB Tác phẩm mới, 1986). – Sóng (Nguyễn Đức Quyền, trích trong Những vẻ đẹp thơ Văn nghệ Thành phô’ HỒ Chí Minh, 1987). Khi đé cập đến tập thơ đầu tay “Chồi biếc” của Xuân Quỳnh, hai tác giả Chu Nga và Lê Đình Kỵ đã phát hiện ra một hồn thơ tươi trẻ với những khao khát hạnh phúc và tình yêu đích thực. Các nhà nghiên cứu đã bằng các cách tiếp cận khác nhau, sự cảm nhận khác nhau đã góp phần làm nổi bật đời sống nội tâm phong phú, sâu sắc có sự hòa đổng, giao cảm với thiên nhiên, yêu cuộc sống tha thiết của hổn thơ Xuân Quỳnh.

6

Nguyễn Thị Kim Định

Phong cách thơ Xuân Quỳnh Hà Minh Đức trong một bài viết về lực lượng thơ trẻ đã nhận xét: “Xuân Quỳnh đã đến với thơ từ phần riêng tâm tình, kỷ niệm tuổi thơ, từ tình yêu tha thiết của tuổi trẻ và lòng gắn bó với nghề nghiệp (…) Xuân Quỳnh tiếp tục vượt qua ranh giới những khó khăn nhất đối với nhiều cây bút trẻ, từ cái riêng đi vào cái chung (…) thơ Xuân Quỳnh dần dần trở nên phong phú và bản sắc hơn. Xuân Quỳnh luôn chân thật và mém mại trong cảm xúc, chị nhìn cuộc sống không đơn giản một chiều”. Chưa phải là một bài nghiên cứu chuyên sâu về tác giả song những nhận xét của Hà Minh Đức đã nói đúng và nói “trúng” về nhà thơ trong thời điếm ấy. Tác giả khẳng định vị trí của Xuân Quỳnh trong thế hệ nhà thơ trẻ và đặc biệt đã phát hiện ra bản sắc thơ chị là chân thực vẻ cảm xúc và cái nhìn sâu sắc về cuộc sống. Từ phần riêng tâm tình với cái nhìn cuộc sống một cách khách quan, tỉnh táo, Xuân Quỳnh có một hướng đi riêng, một bản lĩnh riêng so với ít những nhà thơ cùng thời (viết theo khuynh hướng sử thi). Từ những ưu điểm trên Hà Minh Đức cũng nhận xét “thơ của chị đang phát triển nhưng chưa lộ rõ chiều cao ổn định và trọn vẹn”. Như vậy, qua đánh giá của Hà Minh Đức, ta có thể thấy thơ Xuân Quỳnh đang thực sự “vận dộng” về tư tưởng, về cách phản ánh cuộc sống tinh tế, sắc sảo nhưng chưa già dặn về thi pháp. Tập “Thơ Việt Nam chống M ỹ cứu nước 1965 – 1967” trong phần nhận định “Thơ ba năm đánh Mỹ cứu nước” của thi sĩ Chế Lan Viên, Xuân Quỳnh được nhân ra là một trong “những tâm hổn đáng yêu” bên cạnh Bằng Việt, Vãn Thảo Nguyên, Lưu Quang Vũ (tr. 14). Chế Lan Viên khẳng định Xuân Quỳnh là một tâm hồn thơ nữ trẻ trung, yêu đời, giàu khát vọng. Ông đã trích một bài thơ “Tiếng gà trưa” để nhận xét rằng: “Một ổ trứng bình thường thôi, trong mắt Xuân Quỳnh, đã thành một giấc mơ rực rỡ.. (tr. 16). Sự trẻ trung hồn nhiên ấy cũng được khẳng định trong bài viết về ”’Thơ Xuân Q uỳnh” của Thiếu Mai, đặc biệt là tác giả đi sâu vào mảng thơ thiếu nhi của chị và khẳng định bước đi ban đầu của thơ Xuân Quỳnh đó “không phải là những nét phác nhẹ nhõm, mà là bàng chứng của một tình yêu mạnh m ẽ…”. Thiếu Mai cho rằng mảng sáng tác cho thiếu nhi (chiếm tới 7/14 tác phẩm của chị) hầu như chưa được khai thác, nghiên cứu như đúng tầm tác phấm. Mai Hương trong bài viết ”’Xuân Quỳnh ” trong Xuân Quỳnh nhà thơ Việt Nam hiện đại” (NXB Khoa học xã hội, 4.1984) cũng đã khẳng định ngay ở những dòng đẩu tiên: “Từ Chổi biếc (1963) đến Lời ru trên mặt đất (1978) là một quá trình phát triển liên tục và đều đặn của thơ Xuân Quỳnh. Có thể nói qua bốn tập thơ được xuất bản, Xuân Quỳnh đã hình thành một phong cách riêng có bản sắc. Đó là điều

7

Nguyễn Thị Kim Định

Phong cách thơ Xuàn Quỳnh dáng quý đầu tièn ớ Xuân Quvnh. Xuân Quỳnh chủ yếu đi vào khai thác tâm trạng của chính nhà thơ. Nét riêng ấy của ngòi bút Xuân Quỳnh đậm hơn cả và phát huy được mổt mặt mạnh của nó, khi chị đi vào khai thác những vấn đề của chính mình…”. Có thể nói, trong chặng đường những năm 1970, thơ Xuân Quỳnh đã được chú ý nhưng nhìn chung các bài viết mới đánh giá về chị như một gương mặt mới, hứa hẹn, nhiéu triển vọng. Cho đến những nãm 1984 khi hai tập thơ “Tự hát” và “Sân ga chiều em đ i” của Xuân Quỳnh ra đời trong bối cảnh hòa bình, vấn đề đời tư được bộc lộ rõ hưn thì thơ chị trở thành đối tượng thu hút giới phê bình nghiên cứu văn học. Nhà nghicn cứu phê bình Nguyền Xuân Nam đã phát hiện ra “Vẻ đẹp thơ Xuân Quỳnh” và dành cho chị những trang ưu ái trong cuốn “Tho – Tìm hiểu và thưởng thức”. Tác giả khẳng định vẻ đẹp hồn nhiên, mang được nét nữ tính, dịu dàng đằm thám, nhân hậu nhưng lại không vướng mặc cảm cho mình là phái yếu của con người Xuân Quỳnh trong thơ. Với bản tính ấy, thơ tình của chị chú động, bao dung mà cũng tha thiết dữ dội “như nước lũ mùa xuân chảy xiết (tr. 21). Trơng những bài thơ chị viết ở vùng cửa ngõ chiến trường – vùng Vĩnh Linh, Quảng Trị, tác giả nhìn thấy tuy còn ít giá trị hiộn thực nhưng lại có sự “chân cảm”. Chính nó đã làm nên sức hấp dẫn độc giả. Cuối cùng, cũng như nhận xét của nhiều nhà nghiên cứu khác, Nguyễn Xuân Nam cho rằng thơ Xuân Quỳnh có bản sắc riêng, đó là “sự trẻ trung, chân thành trong cảm xúc’ chất tự nhiên của một bản năng nghệ thuật. Sau khi tuyển thơ “Sân ga chiêu em đì” của Xuân Quỳnh ra mắt bạn đọc, Vương Trí Nhàn đã bước đầu đề cập đến vấn đề thi pháp trong thơ Xuân Quỳnh. Đó là: “ý thức vé thời gian, cảm giác vé hạnh phúc”. Mượn hình thức đôi thoại với một người bạn văn chương – nhà thơ Phạm Tiến Duật, tác giả đã phát hiện khá sâu sắc, tinh tế về con người Xuân Quỳnh, thơ Xuân Quỳnh. Người viết đã thấy, ngay từ “Chồi biếc”, mặc dù còn quá trẻ cả tuổi đời lẫn tuổi thơ, nhưng Xuân Quỳnh đã có ý thức về thời gian: đang cùng anh sóng bước “tay ấm trong tay” đã nghĩ đến lúc “hết phiên” và sẽ bước qua đây là những cặp tình nhân khác (tr. 69 – 70). Theo năm tháng, ý thức đó ngày càng rõ rệt trở thành cảm giác về sự biến đổi. Thơ Xuân Quỳnh có sự nhạy cám về sự chảy trôi của thời gian, sự đổi thay của sự vật, con

8

Nguyễn Thị Kim Định

Phong cách thơ Xuân Quỳnh

người. Bởi thế mà thơ Xuãn Quỳnh thường có những tương quan đối lập tạo cho câu thơ những bất ngờ. đa dạng… Với một bài viết ngắn, đánh giá của Vương Trí Nhàn đã ghi nhận được những nét nổi bật đặc sắc trong hổn thơ, giọng thơ Xuân Quỳnh: “Chưa phải lúc tổng kết vé thơ Xuân Quỳnh, vì tác giả đang viết, nhưng có thể tin chỉ với những bài thơ hôm nay, Xuân Quỳnh mới có những điều cần thiết đối với một tác giả thơ, một cách nghĩ, một nhân cách nói của riêng mình” (tr. 79). Phát hiện của Vương Trí Nhàn ờ thời điểm ấy rất quan trọng, sẽ mờ ra một hướng tiếp cận mới trong việc chiếm lĩnh thế giới nghệ thuật và tìm hiểu phong cách thơ Xuân Quỳnh. 2.2. Sau năm 1988: Cuộc đời bất hạnh của Xuân Quỳnh được đánh dấu bằng cái ngày định mệnh 29/8/1988, kết thúc chặng đường thơ hơn hai mươi năm của Xuân Quỳnh. Sau sự ra đi đột ngột ấy, ngưòi ta chợt nhận ra một sợi dây vô hình, bền vững gắn kết cuộc đời chị với những gì chị để lụi trong thơ. Và rồi, khi những bông cúc vàng – loài hoa mà chị yêu thích – phú đầy ngôi mộ, những người thân của chị, bạn bè chị, cá những người không biết chị nhưng yêu thơ chị chỉ biết làm vợi đi nỗi tiếc thương bằng những bài viết về chị, về thơ chị. Từ năm 1988 trở lại đây – nhất là khi tập thơ “Chót út”, “f/oa cỏ may” (Chữ dùng của Ngô Vãn Phú) ra mắt bạn đọc trên các báo – tạp chí có nhiều bài viết về chị hơn. Một loạt các bài viết, công trình nghiên cứu về cuộc đời, sáng tác của Xuân Quỳnh đã ra mắt công chúng: – Thơ viết tặng anh (NXB Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 1988, Lời bạt của Mai Quốc Liên). – ThơXiiân Quỳnh (Nhiều tác giả – NXB Tác phẩm mới, 1989). – Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh gửi lợi (Nhiều tác giả – Hội Văn học – Nghệ thuật Đà Nẵng, 1989). – ThơXiiứn Quỳnh (NXB Hội nhà văn, 1990, Ngô Văn Phú sưu tầm biên soạn). – Xiián Quỳnh – Lim Quang Vũ – Tình yêu và sự nghiệp (NXB Hội nhà văn, 1994). – Xiiãn Quỳnh – một nửa cuộc đời tôi (Đông Mai, NXB Khoa học xã hội, 1995). – Thơ Xuân Quỳnh (Ngô Thị Thịnh tuyển chọn, NXB Hội nhà văn, 1996). – Xiiàn Quỳnh – Thơ và đời (Vân Long sưu tầm và tuyển chọn. NXB Văn hóa, 1998). – Đối thoại văn chương (Xuân Quỳnh một giọng thơ tình ám ảnh – TS. Nguvễn Thị Minh Thái, NXB Hội nhà văn, 1999 trang 82).

9

Nguyễn Thị Kim Định

10

Nguyễn Thị Kim Định

Pho tig cách thơ Xuân Quỳnh –

Thể giới nghệ thuật thơ Xuân Quỳnh, Hà Thị Dung (Luận vãn thạc sĩ khoa học,

chuyén ngành Lý luận văn học. năm 2007).

Qua nghiên cứu tài liệu, các công trình nghiên cứu về nữ thi sĩ Xuân Quỳnh, hầu hết các tác giả viết về chị đều có cách cảm nhận riêng, cách nhìn riêng và ở nhiều góc độ khác nhau. Ngay trong điếu văn đọc tại lễ tang Xuân Quỳnh – Lưu Quang Vũ, Vũ Tú Nam đã xúc động viết: con người Xuân Quỳnh cũng như ngòi bút của chị thật là đa dang, có vẻ cảm tính bồng bột mà lại trí tuệ, lắng sâu. Tác giả khẳng định “Thơ Xuân Quỳnh là thơ của một tấm lòng trung thực, luôn luôn gắn bó với đất nước và nhân dân (…) thơ chị trong sáng, cái trong sáng đã được gạn lọc qua nhiều nỗi đau” Năm 1989, NXB tác phẩm mới cho ra đời cuốn “‘Thơ Xuân Quỳnh”. Cuốn sách được làm trong sự tiếc thương, trân trọng đối với một tài năng đang à độ chín, đã tập hợp một số bài viết về Xuân Quỳnh và chọn in một số bài tiêu biểu trong gia tài thơ chị để lại. Nãm 1994, NXB Hội nhà văn cho ra mắt cuốn “Xuân Quỳnh – Lưu Quang Vũ – Tình yêu và sự n g h i ệ p đề cập đến bản sắc và sức sáng tạo của nhà thơ nữ này. Cuốn sách đã ghi lại những cảm nhận về thơ Xuân Quỳnh, phần lớn là của bạn bè, đổng nghiệp cùng các nhà nghiên cứu: Nguyễn Quân, Chu Văn Sơn, Đoàn Thị Đặng Hương, Nguyễn Thị Minh Thái, Lê Minh Khuê, Vương Trí Nhàn, Lại Nguyên Ân, Lưu Khánh Thơ… Các tác giả đó là những người có đóng góp đáng kể trong quá trình tìm hiểu, đánh giá thơ Xuân Quỳnh. Với con mắt họa sĩ, Nguyễn Quân phát hiên trong thơ Xuân Quỳnh đậm đặc các chi tiết, hình ảnh của thiên nhiên. Hình ảnh trong thơ thường giản dị, thậm chí không có gì mới, ít chọn lọc nhưng lại khổng gây nhàm chán vì cảm giác tươi mới và cảm động. Theo tác giả, ngôn ngữ thơ Xuân Quỳnh cũng là ngôn ngữ đời thường, không hoa mĩ. Thơ chị là loại thơ của hình ảnh thị giác. Câu thơ “rà/ có duyên mà không làm dáng”. Điều đáng chú ý là bài viết đã chỉ ra một đặc trưng về giọng điệu Ihơ Xuân Quỳnh với tên gọi, hình ảnh – gợi cảm “Phong cảnh Ỉ T một giọng thơ phong phú luôn sôi động, trẻ trung, tươi mới. Giọng thơ ấy cũng mang đậm chất nữ tính từ cách chọn lọc gam màu đến cái nhìn sự vật, nhưng mặt khác ớ đó lại có những khao khát mãnh liệt, khao khát đi xa đến tận cùng mơ ước, tần cùng khát vọng. Với “Phong cảnh 1 T Nguyễn Quân đã bước đẩu thổ hiện cái nhìn khá sắc sảo, tinh tế và rất thi ca về thơ Xuân Quỳnh. Nãm 1995, NXB Khoa học xã hội xuất bản cuốn hồi ký của Đông Mai – chị ruột Xuân Quỳnh với nhan đề: “Xuân Quỳnh – một nửa cuộc đòi tôi”. Bằng sự xúc động chãn thành, tác giả hồi tưởng lại những năm tháng thăng trầm, vất vả, nhiều

Nguyễn Thị Kim Định

Phong cách they Xuân Quỳnh niềm vui nhưng cũng không ít nỗi buồn trong cuộc đời người phụ nữ, người vợ. người mẹ. nhà thơ Xuân Quỳnh. Qua đó, người viết giúp ta dựng lại chân dung chị, tính cách chị, là cơ sở để chúng ta soi chiếu giữa tác phẩm và cuộc đời nhà thơ, từ đó tìm ra tư tưởng nghệ thuật, phong cách thơ chị. Cũng năm 1995, NXB Văn hóa cho ra mắt bạn đọc cuốn sách “Xuàn Quỳnh – thơ VÀđời”, in lại một số bài viết về Xuân Quỳnh đã xuất bản năm 1990, tuyển thơ và trích 20 bài của tập thơ “Chót út” – “Hoa cỏ may”. Cho đến nay, qua việc tái bản nhiều lần thơ Xuân Quỳnh, bình thơ chị trên các tạp chí, báo Văn nghệ, Giáo dục thời đại, Tiền phong… và những phương tiện thông tin nghe nhìn khác, có thể thấy được sức sống, sức hấp dẫn của thơ Xuân Quỳnh. Điều đó chứng tỏ “chị là hiện tượng rất quan trọng của nền thơ chúng ta” [45; 138]. Dù chưa có bài viết nào nghiên cứu một cách toàn diện, nhưng từ việc tìm hiểu con người, cuộc đời Xuân Quỳnh, đặc biệt từ chính thơ chị, các tác giả cũng đã khắc họa được những nét cơ bản nhất trong phong cách thơ chị. Các cuốn sách của Vân Long, Ngân Hà, Vũ Thị Kim Xuyến đã tập hợp được nhiều bài viết về Xuân Quỳnh. Đó là những kí ức, cảm nhận của bạn bè, đồng nghiệp và người thân dành cho chị. Ngoài những tình cảm yêu thương, nhớ nhung, luyến tiếc, một số bài viết đã đề cập đến phong cách sáng tạo nghệ thuật của thơ chị. Trong bài “Thơ tình Xuân Quỳnh – sự thê hiện sức mạnh của một lảm hổn phụ nữ” [25;96], tác giả Nguyễn Thị Bích Ngọc đã khẳng định Xuân Quỳnh có “trái tim yêu rộng mở, ỏm trùm” và chính nhờ có trái tim yêu thương ấy, Xuân Quỳnh thực sự là “biểu hiện của một tâm hồn phụ nữ rất phong phú” với một “tâm hồn thơ trong sáng, yêu đời, trẻ trung, hồn nhiên” [25; 105]. Mảng thơ tình yêu của Xuân Quỳnh có lẽ là nơi gập gỡ của nhiều cây bút, là nơi các tác giả khẳng định tài năng của chị. Nguyễn Thị Minh Thái qua bài viết “Mộ/ giọng thơ tìm ám ảnh” đã gọi vẻ đẹp thơ Xuán Ọuỳnh là vẻ đẹp “đẫm tình” Thơ chị là những câu thơ không thuận bằng, trắc khôns dễ thuộc lòng nhưng sẽ mắc lại ở hổn người và trở thành những câu thơ “thuộc nỏm lòng”. Nguyễn Thị Minh Thái đã nhận xét rất hình ảnh về thơ Xuân Quỳnh “Những câu thơ ấy giống hệt như những giọt nước sau cơn mưa qua, còn đọng lại trên lá cây. Chỉ cần một làn cảm xúc chợt đến, khẽ chạm vào lá, là những câu thơ ấy sẽ rơi rụng ngay xuống vùng tâm thức và mổn một hiện lên giữa lòng ta… Có lẽ cái “khát vọng tình yêu” từng thiêu đốt thơ Quỳnh cũng thiêu đốt luôn cả người đọc nó” [25; 121].

12

Nguyễn Thị Kim Định

Phong cách thơ Xuân Quỳnh

Nguyễn Thị Kim Định

Phong cách thơ Xuân Quỳnh

__

14

Nguyễn Thị Kim Định

Phong cách thơ Xuân Quỳnh

đã trở thành một hiện tượng nghê thuật độc đáo cho nhiều nhà nghiên cứu và phê bình văn học viết về chị. Ngoài ra, còn có rất nhiều bài viết dưới dạng bình giảng thơ Xuân Quvnh được tuyển chọn vào trường THPT như bài viết của Nguyễn Vãn Long. Trần Đăng Xuyền, Hà Minh Đức, Nguyễn Đãng Mạnh… Bên cạnh những bài viết đã đăng trên báo, trên sách là các công trình nghiên cứu về để tài Xuân Quỳnh của các nghiên cứu sinh, thạc sĩ, các sinh viên làm khóa luận tốt nghiệp… Trong luận văn thạc sĩ “Những chặng đường thơ Xuân Quỳnh”. Chu Thị Thơm cũng đã đi sâu tìm hiểu các chặng đường thơ Xuân Quỳnh, quá trình vận động cùa cái tôi trữ tình trong thơ chị qua hai giai đoạn: trước và sau chiến tranh, đê từ đó khái quát quá trình sáng tạo của Xuân Quỳnh, khẳng định vị trí của Xuân Quỳnh trong nền thơ hiện đại. Nói về thơ tình yêu của Xuân Quỳnh, Chu Thị Thơm gọi đó là: “Một tri thức và văn hoá yêu của Xuân Quỳnh”. Đó là một nhận xét rất hay và tinh tế về thơ tình yêu Xuân Quỳnh. Trong báo cáo khoa học “Cảm thức thời gian trong thơ nữ sĩ Xuân Quỳnh”. Phạm Thị Kim Anh đã đưa ra một cái nhìn sâu sắc hơn về một khía cạnh trong thư Xuân Quỳnh. Đó là Thời gian. Từ đó gợi cho ta nhiều suy nghĩ về quá trình sáng tạo của người nghệ sĩ… Tuy vậy, những công trình nghiên cứu, những bài viết về Xuân Quỳnh trước và sau năm 1988 mới chỉ dừng lại ở việc tuyển chọn, biên soạn hoặc là cảm nhận, đánh giá, nghiên cứu về Xuân Quỳnh, về thơ Xuân Quỳnh trên một số bình diện. Qua quá trình tổng hợp, phân tích, thống kê và nghiên cứu chưa có một công trình nghiên cứu cụ thể nào về phong cách thơ Xuân Quỳnh. Đó chính là lý do để chúng tôi đi sâu nghiên cứu phong cách thơ Xuân Quỳnh. Các bài viết trên là nguồn tư liệu quý giá đổ chúng tôi tiếp tục viết về chị. 3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu: 3.1. Mục đích : Luận văn hướng tới mục đích khám phá những đặc điểm, nét độc đáo tạo nên phong cách thơ Xuân Quỳnh. Từ đó, chúng ta có thể đánh giá những sáng tạo và đóng góp của Xuân Quỳnh cho nền nghệ thuật thơ đương đại; khẳng định vị trí cúa thơ Xuân Quỳnh trong nền Văn học Việt Nam hiện đại.

15

Nguyễn Thị Kim Định

Phong cách thơ Xuân Quỳnh

16

Nguyễn Thị Kim Định

Phong cách thơ Xuân Quỳnh 4.2. Phương pháp so sánh, dói chiếu: Luận văn sứ dụng phương pháp này để làm rõ giọng điệu, phong cách thơ Xuân Quỳnh, những nét độc đáo trong phương thức biểu hiện của ngôn ngữ thơ. hình ánh thơ, các quan niệm về thời gian, không gian… Phương pháp này, một mặt được áp dụng với các tác phẩm của chính tác giá; mặt khác, với các tác phẩm của các tác giả cùng thời. Điều này, giúp chúng ta thấy được sự độc đáo trong phong cách của tác giả, cũng như thấy được điểm gặp gỡ và sự khác biệt giữa Xuân Quỳnh với các tác giả khác. Mục đích của phương pháp này là khẳng định những đóng góp của Xuân Quỳnh, phát hiện những đặc sắc trong thơ Xuân Quỳnh, thấy được sự khác biệt trong phong cách thơ của tác giả so với một số gương mặt thơ khác. 4.3. Phương pháp phán tích, chứng minh: Đây là một phương pháp không thể thiếu được của quá trình phân tích, cảm thụ thơ. Với đề tài này, chúng tôi tiến hành phân tích kỹ một số tác phẩm, hình tượng thơ… có tác dụng soi sáng và khắc sâu phong cách thơ Xuân Quỳnh. 4.4. Phương pháp hệ thông: Việc nghiên cứu một tác giả được xem như nghiên cứu một chính thể nghệ thuật và một chỉnh thể nghệ thuật bao giờ cũng có tính hệ thống. Mặt khác, phong cách không phải là một khái niệm “dĩ thành bất biển”, nó vừa có tính đa dạng nhưng đồng thời cũng có tính thống nhất. Do vây, chúng ta phải tìm được tính ổn định, thống nhất trong tính đa dạng của phong cách. Để luận văn giàu tính khoa học và có hệ thống, chúng tôi sẽ phối hợp chật chẽ giữa 4 phương pháp trên để có thể khẳng định một cách đầy đủ, chính xác, giàu sức thuyết phục về phong cách thơ Xuân Quỳnh. Ngoài ra, chúng tôi còn vận dụng các thao tác nghiên cứu cùa thi pháp học, phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu nhằm đi đến xác định phong cách riêng độc đáo của Xuân Quỳnh.

17

Nguyễn Thị Kim Định

18

Nguyễn Thị Kim Định

Phong cách thơ Xuân Quỳnh

DẪN LUẬN: PHONG CÁCH Phong cách là một trong những khái niệm được sử dụng rộng rãi và bàn luận nhiều nhất không những trong sáng tác, nghiên cứu vãn học mà còn trong nhiều ngành khoa học khác, kê cả trong đời sống xã hội. Phong cách được hình dung như sau: Phong cách là những “nét”, “kiểu “, “thể”, “điệu ” riêng biệt có tính ổn định và độc đáo của đôi tượng. Trong sáng tác và nghiên cứu văn học, khái niệm phong cách đã được biết đến ngay từ thời cổ đại. Trước hết là ỏ phương Tây với các đại biểu như Platôn. Aristôle… “Tính cách thế nào thì phong cách thế ấy” (Platôn), “Lời nói là diện mạo cùa tâm hồn” (Sinle). Vào thế kỷ sau, ở phương Đông, nhà lý luận văn học nổi tiếng Lưu Hiệp cũng thống nhất ý kiến với các đại biểu phương Tây khi ông cho rằng “văn như kỳ nhãn”. Nhưng ông đã tiến xa hơn các nhà triết học cổ đại phương Tây ở việc dành riêng hai chương ‘T hể tính” bàn về phong cách tác giả và “Định thể” bàn về phong cách thể loại. “Theo Lưu Hiệp, nội dung quyết định thể tài và mỗi thể tài cũng có phong cách riêng… Bởi vậy, người lấy kinh điển làm mẫu mực thì tự nhiên đi vào cái đẹp cổ điển, trang nhã, người theo kiêu cách thể “tao” thì tự nhiên hướng tới vé đẹp diễm lệ. siêu phàm…” [92; 90-91]. Sang thế kỷ XVIII, Butfon định nghĩa: “Phong cách chính là bản thân con người”. Đến thế kỷ XÍX, cuộc bàn luận về phong cách ngày càng trở nên sôi nổi với sự góp mặt của các đại biểu như nhà văn Stendhal, Balzac, các nhà lý luận văn học như Saint – Beuve, các triết gia như Herbert. Spencer, các nhà ngôn ngữ học như Steithal… Xuất hiện muộn hơn, song các công trình nghiên cứu của các nhà văn, nhà ]ý luận văn học Việt Nam đã bước đầu bắt nhịp với công cuộc tìm kiếm về mặt lý luận đối với vấn đề phong cách trong vãn học. Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu: Một số vấn dê thi pháp học hiện đại (Trần Đình Sử), Dẫn luận phong cách học (Nguyền Thái Hòa), Nhà văn tư tưởng và phong cách (Nguyễn Đăng Mạnh); Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiểu (Phan Ngọc); Những thế giới nghệ thuật thơ (Trần Đình sử); Thi pháp hiện đại (Đỗ Đức Hiểu)… Tác phẩm và chân dung (Phan Cự Đệ), Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu (Tôn Phương Lan)… Khi tổng kết lại các thành tựu cơ bản đã đạt được, các nhà nghiên cứu Việt Nam đã thống nhất và đưa ra những kiến giải có ý nghĩa khoa học tích cực: “Phong cách là một phạm trù thẩm mỹ, chi’ sự thống nhất tương đối ổn định của hệ

Nguyễn Thị Kim Định

Bạn đang xem bài viết Xuân Quỳnh Ngắn Gọn Nhất trên website Maiphuongus.net. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!