Top 6 # Tự Học Tiếng Anh Ngữ Pháp Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Maiphuongus.net

Review Sách 30 Phút Tự Học Ngữ Pháp Tiếng Anh Mỗi Ngày

Độc giả Hương B Hoàng nhận xét về tác phẩm 30 Phút Tự Học Ngữ Pháp Tiếng Anh Mỗi Ngày

– Sử dụng cách giải thích đơn giản, dễ hiểu, ít dùng thuật ngữ chuyên ngành. Tôi rất hài lòng.!

Một cuốn sách học tiếng anh hay và bổ ích. Cuốn sách hướng dẫn cách học mỗi ngày 30 phút để giúp người học dễ dàng tiếp thu, nắm bắt kiến thức. Để từ đó nâng cao khả năng, trình độ tiếng anh của mình. Sách chia sẻ những phương pháp học tập khá là hữu ích, dễ học nên người học chúng ta có thể dễ dàng học theo. Cuốn sách dành cho học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông cũng như người đã đi làm nhưng đang có nhu cầu nâng cao trình độ tiếng anh

Độc giả yuki nhận xét về tác phẩm 30 Phút Tự Học Ngữ Pháp Tiếng Anh Mỗi Ngày

30 Phút Tự Học Ngữ Pháp Tiếng Anh Mỗi Ngày. Tôi rất hài lòng.!

Mình quyết định đặt mua cuốn này vì mình mất căn bản tiếng anh nên muốn học lại từ đầu để lấy lại kiến thức. Sách khá dày in đầy đủ nhưng chủ yếu viết về danh từ và tính từ nên mình thấy không thích cuốn này. Mình nghĩ là cuốn này sẽ viết đầy đủ ngữ pháp cơ bản của tiếng anh nhưng ngữ pháp hầu như là không có. Cuốn này sẽ phù hợp với ai mới cập chững học tiếng anh những ngày đầu tiên thì cuốn sách này sẽ bổ ích và giúp ích rất nhiều.

Độc giả Lê Thu Hiền nhận xét về tác phẩm 30 Phút Tự Học Ngữ Pháp Tiếng Anh Mỗi Ngày

Hi vọng người học qua quyển sách này sẽ xây dựng được năng lực viết đúng, tự tin hơn trên con đường học tập và chinh phục tiếng Anh. Sao lại hỏi như vậy?. Sao lại hỏi như vậy?

Mỗi này chỉ cần bỏ ra 30 phút để học tiếng anh giúp chúng ta nâng cao trình độ tiếng anh, củng cố lại kiến thức, từ từ vựng đến cấu trúc câu, các thì, cách dùng từ phù hợp. Sách được thiết kế rất đẹp, vừa dễ nhìn, dễ đọc, dễ hiểu, chú thích cả từ mới dưới mỗi bài học, chất lượng giấy in tốt với chữ màu xanh nhấn mạnh, củng cố kiến thức. Mình thực sự rất hài lòng về cuốn sách này và cảm thấy rất vui vì không lãng phí 82000đồng để giúp mình học tốt tiếng anh hơn.

Độc giả Phan Tường Vy nhận xét về tác phẩm 30 Phút Tự Học Ngữ Pháp Tiếng Anh Mỗi Ngày

– Cung cấp nhiều bài tập nhằm ứng dụng và củng cố những quy tắc ngữ pháp nêu ra. Sao lại hỏi như vậy?

Mình quyết định mua cuốn sách này vì mình khá về từ vựng nhưng có một số ngữ pháp trong tiếng anh cũng thách thức trí nhớ của mình. Cuốn sách rất có ích. Cách trình bày thông minh, không rắc rối khó hiểu, giải thích đơn giản và không sử dụng thuật ngữ chuyên ngành. Có những phần mục quan trọng thì in đậm màu xanh. Chất lượng giấy tốt. Phần bài tập có đáp án ở phía sau cũng rất tiện lợi nữa. Ưu điểm của cuốn sách là cách trình bày khoa học dễ hiểu, không thấy tẻ nhạt mà thú vị.

Độc giả Đậu Đậu nhận xét về tác phẩm 30 Phút Tự Học Ngữ Pháp Tiếng Anh Mỗi Ngày

– Phần “Answer Key” ở cuối cuốn sách giúp người học tự kiểm tra lại. Sao lại hỏi như vậy?

Độc giả Phan Yen nhận xét về tác phẩm 30 Phút Tự Học Ngữ Pháp Tiếng Anh Mỗi Ngày

– Sách bao hàm được hầu hết các bình diện cơ bản của ngữ pháp tiếng Anh. Sao lại hỏi như vậy?

Mình mua sách này để ôn tập cho đứa em mình nó mất căn bản về tiếng Anh khá nhiều. Sau khi đọc nội dung sách thấy chương trình được sắp xếp khá hợp lý và nội dung cũng khá hay. Ôn luyện được về ngữ pháp rất nhiều và bên cạnh đó cũng cung cấp được nhiều từ mới giúp bổ sung vốn từ vựng cho người đọc mỗi ngày. Sau khi đọc hết sách này thấy em mĩnh nó cũng khá lên về tiếng Anh. Như vậy là quyển sách khá có chất lượng đấy. Mình chỉ không thích một tí đó là một vài chỗ có sai chính tả.

Độc giả Nguyễn Phương Quyên nhận xét về tác phẩm 30 Phút Tự Học Ngữ Pháp Tiếng Anh Mỗi Ngày

– Chú thích một số hiện tượng đặc biệt giúp người Việt tránh được lỗi sử dụng ngôn ngữ. Sao lại hỏi như vậy?

Khi có trong tay cuốn sách”30 phút tự học ngữ pháp tiếng anh mỗi ngày” dựa trên quan điểm đọc giả,tớ thấy đây là một trong những cuốn sách tự học tiếng anh khá hay.Bìa sách trông không bắt mắt lắm song chất lượng giấy in khá tốt.Nội dung được trình bày khoa học,dễ hiểu bao gồm những kiến thức rất trọng tâm cho những ai muốn bổ trợ vốn tiếng anh thông dụng mỗi ngày một cách dễ dàng.Từng trang sách có thêm phầm in màu xanh có tác dụng nhấn mạnh kiến thức hay phần đóng khung kiến thức đều rất tốt,làm tớ không thấy tẻ nhạt,không thấy rối mắt.

Độc giả Le Phuong nhận xét về tác phẩm 30 Phút Tự Học Ngữ Pháp Tiếng Anh Mỗi Ngày

30 phút tự học ngữ pháp tiếng Anh mỗi ngày là cuốn sách cung cấp cho các thầy cô một tư liệu dạy tiếng Anh ở bậc sơ cấp, và giúp các bạn học viên học tiếng Anh viết đúng ngữ pháp, viết câu có ý nghĩa rõ ràng. Sao lại hỏi như vậy?. Sao lại hỏi như vậy?

Sách in màu đẹp. Chất lượng giấy tốt, tiện lợi cho việc làm bài tập và ghi chú. Mình rất hài lòng. 30 phút học ngữ pháp không lâu nhưng để kiên trì học mỗi ngày thật không dễ. Cách trình bày đơn giản, rõ ràng cùng với nội dung dễ hiểu và dễ nhớ khiến mình hứng thú nên chăm chỉ học hơn. Dù biết sách chú trọng ngữ pháp nhưng nếu phần từ vựng có thêm phiên âm quốc tế thì sẽ càng hay hơn nữa. Sách xứng đáng với 5 sao.

Độc giả Vương Lê Ngọc Trân nhận xét về tác phẩm 30 Phút Tự Học Ngữ Pháp Tiếng Anh Mỗi Ngày

Theo tôi thấy nó là một quyển sách vô cùng bổ ích cho những người muốn tìm hiểu về tiếng anh. Trong cuốn sách có rất nhiều kiến thức lẫn phần bài tập cho chúng ta thực hành ngay. Vì phần bài tập có lời giải phía cuối sách cho nên khi làm xong có thể lật ra xem đúng sai. Đặc biệt cách giải thích của tác giả rất dễ hiểu. Bài sách nhìn cũng đẹp, giấy lại tốt ( cả bìa lẫn các trang bên trong). Đây là một quyển sách tốt và tôi vô cùng hài lòng.

Độc giả thaoduyen nhận xét về tác phẩm 30 Phút Tự Học Ngữ Pháp Tiếng Anh Mỗi Ngày

Mình thấy cuốn sách này rất hay…. phù hợp với những người đang cần nâng cao Tiếng Anh như mình. Quyển sách xoáy sâu vào trọng tâm của mỗi bài học và hướng dẫn rất hay. sử dụng cách giải thích đơn giản dễ hiểu, ít dùng thuật ngữ chuyên ngành. Cung cấp nhìu bài tập nhằm ứng dụng và củng cố những quy tắc ngữ pháp nêu ra. Chỉ cần 30 phút có thể học được một số ngữ pháp quan trọng. Sách in đẹp rõ ràng có cả phần chú thích cho mỗi từ mới. Chất lượng giấy cũng tốt nữa. Mình rất hài lòng về cuốn sách này và rất thích sự uy tín của Tiki.

Độc giả TOSHIROU nhận xét về tác phẩm 30 Phút Tự Học Ngữ Pháp Tiếng Anh Mỗi Ngày

Mỗi ngày chỉ cần dành ra 30 phút là có thể nắm vững ngữ pháp dễ dàng.Thật sự sách này đã làm được điều đó.Sách không viết lan man như các quyển sách khác mà xoáy sâu vào các vấn đề trọng tâm về mặt từ loại như danh từ, động từ,hình thức của từ…Đặc biệt sách còn có phần giải thích khá rõ ràng về phần dấu câu.Trước đây mình học mình không quan tâm đến phần dấu câu vì mình nghỉ viết dấu thế nào cũng được,nhưng nhờ có sách mình mới biết mình đã lầm vì dấu câu cũng rất quan trọng.Sách không chỉ có nội dung hay mà hình thức bên ngoài cũng khá đẹp,chất lượng giấy thì rất tốt với chữ màu xanh.Phải nói đây là quyển sách hoàn toàn xứng đáng với 5 sao.

Độc giả Phạm Ngọc Hà Ngân nhận xét về tác phẩm 30 Phút Tự Học Ngữ Pháp Tiếng Anh Mỗi Ngày

Là một quyển sách rất bổ ích cho việc tự học tiếng anh mỗi ngày. Sách trình bày đẹp, khoa học, rõ ràng và rất dễ hiểu, ngắn gọn, súc tích, giá thành lại rẻ nữa, có các ví dụ, giải thích dễ hiểu cho người đọc, sách khá phù hợp cho những người muốn củng cố trình độ tiếng anh của bản thân cũng như muốn học tiếng anh mà lại không có quá nhiều thời gian. Một quyển sách rất hữu dụng và đáng để nghiên cứu, cũng như tìm đọc và ứng dụng trong việc học hằng ngày.

ĐÁNH GIÁ SÁCH

Phương Pháp Học Tốt Ngữ Pháp Tiếng Anh

Hamdan, là giáo viên của trung tâm tiếng Anh nổi tiếng sẽ chia sẻ một số phương pháp mang tính thực tiễn nhằm giúp học viên học tốt ngữ pháp tiếng Anh – một trong những phần khó nhằn của những người chọn lựa học ngôn ngữ này, từ chính kinh nghiệm của Hamdan.

Chia sẻ của Hamdan khi còn là học viên tại các trung tâm tiếng Anh

Khi tôi học tiếng Anh, các thầy cô giáo đã dành ra rất nhiều thời gian trong lớp chỉ để tập trung vào hình thức của ngôn ngữ, nhưng lại không có ngữ cảnh, hậu quả là khả năng sử dụng tiếng Anh tự nhiên và phong phú của tôi bị ảnh hưởng nhiều từ việc ấy.

Sau đó, tôi đã tự mình trải nghiệm “tiếng Anh tự nhiên” thông qua phim ảnh, âm nhạc và tiểu thuyết. Những nguồi tài liệu này đã giúp tôi tìm ra ý nghĩ và các dạng ngữ pháp trong tiếng Anh. Ngoài ra, còn tạo cho tôi một nền tảng vững chắc hơn để xử lý và học tập ngôn ngữ. Từ đó, bản thân tôi cũng bắt đầu nhận thấy được sự hữu ích từ các cấu trúc mà giáo viên đã tập trung vào giảng dạy trên lớp.

Có thể nói, việc chú ý để cả hình thức và ý nghĩa của ngôn ngữ sẽ có những đóng góp đáng kể vào việc học một ngoại ngữ cá nhân. Nhưng làm thế nào để thực hiện được điều này?

Nhận thấy những lỗ hổng trong kiến thức ngôn ngữ

Khi người học tập trung nghiêm túc vào những thiếu sót trong ngôn ngữ của họ, khi ấy, họ nhận ra những lỗ hổng kiến thức. Thậm chí, họ còn có thể phát hiện ra những lỗ hổng này khi tham gia vào phương pháp Dictogloss – việc học ngữ pháp được lồng ghép trong giao tiếp tiếng Anh, hiện nay phương pháp này được sử dụng rộng rãi ở các trung tâm tiếng Anh.

There are an estimated nine million olive trees in Palestine, which can produce tons of oil. Green ripe olives are picked in October by thousands of Palestinian population participate in the olive harvest. Once the harvest is completed, fresh olives are sent to the press. Olive oil is then exactred from the olives and packaged in yellow gallons. The product is not only sold in Palestine but also shipped around the world.

(Ước tính có khoảng chín triệu cây ô liu ở Palestine, số lượng này có thể sản xuất hàng tấn dầu. Ô liu xanh được thu hoạch vào tháng 10 bởi hàng ngàn nông dân Palestine. Sau khi thu hoạch xong, ô liu tươi được chuyển đến máy ép. Dầu ô liu sau đó được chiết xuất từ ô liu và được đóng gói trong những gallon màu vàng. Sản phẩm không chỉ được bán ở Palestine mà còn được vận chuyển trên phạm vi toàn thế giới).

Giáo viên đã kiểm tra góc độ hiểu biết chung của người học về văn bản, sau đó giáo viên đọc lại nó một lần nữa. Lần này người học sẽ viết ra những từ khóa mà họ nghe được. Học viên được yêu cầu làm việc nhóm để cố gắng xây dựng lại văn bản bằng việc ghi nhớ sao cho càng giống với bản gốc càng tốt. Sau đó, mỗi nhóm sẽ so sánh kết quả của mình với những nhóm khác để đi đến quyết định chung. Cuối cùng, giáo viên sẽ chiếu đoạn văn bản mà học vừa đọc trước đó lên bảng.

Trong suốt hoạt động này, người học đã sử dụng kiến thức ngôn ngữ của mình, cũng như tìm ra ý nghĩa và hình thức của ngôn ngữ. Đây là cách để họ chú ý đến những “khoảng trống” nghe được trong bản ghi chú tiếng Anh của họ. Quá trình này có thể dẫn đến một sự tái cấu trúc trong tổng quan ý thức của họ về hệ thống ngôn ngữ.

Làm thế nào người học có thể tập trung vào ý nghĩa lẫn hình thức?

Mặc dù chúng ta có thể suy ra các quy tắc và hình thức ngôn ngữ nhưng khi giao tiếp để truyền tải một thông điệp, dù trôi chảy đến đâu nhưng chúng ta lại thiếu sự chính xác về mặt ngữ pháp.

A man killed a cat. (Một người đàn ông đã giết con mèo).

A cat was killed by a man. (Một con mèo đã bị giết bởi một người đàn ông).

A man killed cats. (Một người đàn ông đã giết nhiều mèo).

The man may have killed his cats. (Người đàn ông có thể đã giết con mèo của mình).

“Grammaticalisation” là một thuật ngữ được đặt ra bởi Dianne Larsen-Freeman và Marti Anderson trong cuốn sách có tên “Techniques and Principles in Language Teaching” (2011). Thuật ngữ này mang ý nghĩa là người học tập trung đồng thời vào ngữ nghĩa và các dạng ngữ pháp.

Một trong những lớp học dành cho độ tuổi thanh thiếu niên ở cấp độ B1, giáo viên đã đọc to văn bản đã được đơn giản hóa ngữ pháp sau đây:

Jemina – Jeremy – young – rich – couple – live – work – London – Sunday evening – drive – home – Jaguar – see – car – resemble – Porsche – rush – home – discover – Porsche – not there – stolen – feel – terrible – call – police.

(Jemina – Jeremy – trẻ – giàu – cặp vợ chồng – sống – làm việc – London – tối chủ nhật – lái xe – về nhà – Jaguar – thấy – xe – giống – Porsche – vội vàng – nhà – khám phá – Porsche – không ở đó – bị đánh cắp – cảm thấy – khủng khiếp – gọi cảnh sát).

Giáo viên đã yêu cầu học viên kể một câu chuyện bằng cách sử dụng các từ đơn. Sau đó, người dạy viết các từ vựng lên bảng và khuyến khích học viên xây dựng một câu chuyện bằng cách thêm các điểm ngữ pháp cần thiết. Khi kết thúc, giáo viên sẽ hiển thị toàn bộ câu chuyện hoàn chỉnh lên bảng để so sánh với kết quả của học viên.

Jemina and Jeremy were a young, rich couple who lived and worked in London. One Sunday evening, they were driving home in their Jaguar when they saw a car resembling their Porsche. They rushed home and discovered that there; it had been stolen! They felt terrible and called the police.

(Jemina và Jeremy là một cặp vợ chồng trẻ, giàu có, sống và làm việc ở London. Một tối chủ nhật, họ đang lái xe về nhà trong chiếc Jaguar thì thấy một chiếc xe giống chiếc Porsche của họ. Họ vội vã về nhà và phát hiện ra rằng ở đó; nó đã bị đánh cắp! Họ cảm thấy thật khủng khiếp và gọi cho cảnh sát).

Bằng cách này, người học đã cải thiện được sự hiểu biết của họ về các câu tường thuật trong quá khứ thông qua sự chú ý để tìm ra hình thức và ý nghĩa của ngôn ngữ,

Làm thế nào để chuyển thái độ học tập từ thụ động sang tích cực?

Trong cuốn sách: “Implementing the Lexical Approach: Putting Theory into Practice” của Michael Lewis, ông đã chủ trương các hoạt động cho phép người học chú ý và quan sát vào các hình thức ngôn ngữ. Theo ông, những hoạt động này khuyến khích người học chuyển từ học tập thụ động sang học tập tích cực, từ đó đảm bảo sự hiểu biết nhanh hơn và người học xây dựng nền tảng về quy tắc ngữ pháp cẩn thận hơn.

Giáo viên có thể làm điều này bằng cách áp dụng hoạt động “điền từ vào chỗ trống” – dạng bài kiểm tra người học về kiến thức hiện có khi họ dự đoán các cấu trúc ngữ pháp bị thiếu.

Trong một lần học về các cụm động từ ở một nhóm người có trình độ B2, giáo viên đã yêu cầu người học dự đoán các động từ bị thiếu trong một văn bản về Maya Anglou:

Khi hoạt động này kết thúc, người học sẽ so sánh dự đoán của họ với văn bản gốc. Dạng bài tập này giúp học viên nhận ra rằng phần lớn họ sẽ tránh sử dụng các cụm động từ và thích các động từ quen thuộc hơn. Điều này thúc đẩy họ tìm hiểu sâu hơn về sự khác biệt, cũng như ý nghĩa và cách sử dụng ngôn ngữ đích.

Điều gì sẽ xảy ra nếu người học không chú ý đến ngữ pháp?

Nếu không có chú ý đến ngữ pháp, người học vẫn có thể sẽ mắc lỗi mặc dù đã có kinh nghiệm kha khá với các thì động từ trong tiếng Anh. Học viên cũng có thể suy luận chính xác các quy tắc và mô hình ngôn ngữ dựa trên những gì họ đã học, nhưng tránh sử dụng các cấu trúc này trong các tình huống thực tiễn.

Việc thay đổi trạng thái từ “không chú ý” sang “chú ý” và sử dụng ngôn ngữ một cách tự nhiên không phải là một chuyện có thể diễn ra ngay lập tức. Quá trình chuyển đổi có thể mất vài phút, vài giờ hoặc thậm chí là vài ngày, cũng có khi nó chẳng xảy ra. Tuy nhiên, nhiệm vụ của giáo viên chính là giúp người học khám phá cách ngữ pháp hoạt động trong tình huống thực tế.

Phương Pháp Học Ngữ Pháp Tiếng Anh Hiệu Quả

Học tiếng Anh

Thầy giáo Quang Nguyen bật mí thay vì nghiền ngẫm sách ngữ pháp tiếng Anh, bạn hãy đọc và giao tiếp thật nhiều, kết quả sẽ cải thiện rõ rệt.

Rất nhiều người Việt ám ảnh với việc học ngữ pháp tiếng Anh. Họ mua những cuốn sách ngữ pháp chuyên ngành về để “cày” và sau đó tự hỏi tại sao mình vẫn không thể giao tiếp, đọc viết tiếng Anh tốt được.

Ở hầu hết trường học Mỹ, trẻ em không phải học ngữ pháp. Thay vì thế, chúng học đọc. Ở cấp 1, trẻ em nghe đọc sách và đọc sách rất nhiều, tới nỗi hiểu được các cấu trúc ngữ pháp phức tạp mà không cần học.

Nhưng chúng ta là người Việt Nam và không sử dụng tiếng Anh hàng ngày, việc rập khuôn theo Mỹ e rằng cũng không hoàn toàn hiệu quả. Vậy, làm thế nào để học ngữ pháp? Theo kinh nghiệm của mình, có thể áp dụng một số phương pháp.

1. Đọc sách

Nhiều người nhìn thấy sách tiếng Anh là sợ. Lý do có lẽ là họ chọn loại sách quá khó với trình độ của mình. Chọn một cuốn sách vừa sức có nghĩa là lượng từ vựng không quá tải, và bạn có thể đọc, thưởng thức cuốn sách một cách thoải mái.

Khi đọc sách, bạn được “nạp” vào đầu một cách tự nhiên rất nhiều kiến thức ngữ pháp, từ cách dùng thì, đến giới từ, chia động từ… và quan trọng nhất là học được cách sắp xếp từ ngữ sao cho đúng, chuẩn và tự nhiên.

Một người đọc sách nhiều có thể không đạt điểm tối đa trong một bài thi ngữ pháp, nhưng khả năng cao là sử dụng được ngữ pháp trong giao tiếp và viết lách.

2. Dịch sách

Đối với người học ngữ pháp, việc dịch sách mang lại nhiều lợi thế. Khi dịch, bạn buộc phải hiểu được ý của người viết và đương nhiên là nắm rất vững những cấu trúc ngữ pháp và hàm ý của nó. Ví dụ:

– He liked his sister.

– He likes his sister.

– He’s like his sister.

Một người “amateur” có thể đọc lướt lướt và tự nhủ hiểu câu này rồi. Nhưng nếu buộc phải dịch ra tiếng Việt, ai không vững ngữ pháp sẽ dịch sai ngay lập tức. Ý của 3 câu là:

– Nó từng quý em gái nó (giờ không quý nữa).

– Nó quý em gái nó.

– Nó giống em gái nó.

Hạn chế của dịch so với đọc là dịch mất rất nhiều thời gian và đôi khi cần cả kỹ năng ngôn ngữ nữa. Do đó, cùng thời gian, bạn dịch được một cuốn sách thì người khác đọc được vài chục cuốn rồi.

Nhưng nếu bỏ thời gian nghiên cứu và dịch trọn được một cuốn sách, khả năng cao là ngữ pháp của bạn đã rất tiến bộ. Rất nhiều người học ngoại ngữ thông qua phương pháp dịch là vì vậy.

3. Giao tiếp

Trẻ em Mỹ học ngữ pháp đầu tiên là qua giao tiếp và điều này đến một cách rất tự nhiên. Bạn cũng sẽ học nhiều cấu trúc ngữ pháp qua giao tiếp, đặc biệt nếu có điều kiện giao tiếp với người bản xứ. Hồi còn ở Mỹ, mình đã rất ngạc nhiên khi nghe con trai sử dụng “ngữ pháp” chuẩn chỉnh.

Tất nhiên, mình không phải trẻ con, cũng không sống ở Mỹ để học theo kiểu của tụi nhỏ. Tuy nhiên, giao tiếp tiếng Anh nhiều sẽ giúp bạn hoàn thiện ngữ pháp rất nhiều. Một phần là khi nghe tiếng Anh, bạn sẽ “học” được ngữ pháp và cách diễn đạt mới. Và hơn thế, khi giao tiếp, bạn sẽ phải “nói” và sẽ không thể biến ý tưởng của mình thành lời nói một cách tự nhiên nếu thiếu ngữ pháp.

4. Nghe tiếng Anh

Nghe là đầu vào quan trọng. Tất nhiên, phải đến 90% người học mình biết sợ nghe và nghe yếu nên làm sao mà nghe để học ngữ pháp được.

Thứ nhất, nếu nghe TV, bạn có thể bật “subtitle” (phụ đề) tiếng Anh lên để nghe và đọc. Việc xem TV như vậy sẽ giúp nâng cao khả năng nghe và ngữ pháp của bạn. Các chương trình phù hợp để luyện ngữ pháp là: thế giới động vật, game show, chương trình truyền hình thực tế. Nếu thích xem phim, bạn nên chọn phim tình cảm, sẽ có nhiều lời thoại và “chuẩn chỉnh” hơn nhiều so với phim hành động hay kinh dị.

Nếu nghe được đài hoặc CNN, bạn cũng có thể học được rất nhiều cả về từ vựng và ngữ pháp.

Bạn cũng có thể học ngữ pháp từ các tài liệu tiếng Anh như IELTS, TOEFL, hay sách luyện nghe khác. Đôi khi, chỉ cần tập trung nghe và cố hiểu người nói là bạn cũng tăng khả năng ngữ pháp của mình rồi. Còn nếu bạn mở “transcript” để nghiên cứu được nữa thì càng tốt.

5. Sách ngữ pháp

Đây là phương pháp học dễ gây chán nản nhất. Cuốn sách ngữ pháp thường sẽ giúp bạn làm bài kiểm tra tốt hơn, nhưng để ứng dụng vào giao tiếp hay viết thì sẽ tốn thời gian hơn nhiều.

Lời khuyên của mình là hãy thử hết các cách ở trên và áp dụng bước 5 cuối cùng. Như vậy, bạn không chỉ giỏi ngữ pháp, mà còn dễ dàng nuôi dưỡng được tình yêu với thứ ngôn ngữ toàn cầu này.

Theo VnExpress

Ngữ Pháp Tiếng Anh Cơ Bản : Cấu Trúc Ngữ Pháp Tiếng Anh Cốt Lõi

LỜI MỞ ĐẦU

Khi nói về ngữ pháp tiếng Anh , chắc hẳn nhiều bạn học tiếng Anh nói chung đều thấy nhức nhối và có phần “bất lực”. Dù có thể đã trải qua nhiều năm trời tại các cấp trung học và đại học để học tiếng Anh nhưng nhiều người vẫn cảm thấy mông lung về ngữ pháp tiếng Anh.

“Vì sao phải dùng danh từ ở đây?”, “Vì sao từ này lại đứng được ở vị trí này?”, “Vì sao động từ phải chia thì hiện tại hoàn thành?” Câu hỏi cứ mọc lên như nấm nhưng câu trả lời thì không có, thế thì làm sao mà không “ngán đến tận cổ” ngữ pháp tiếng Anh chứ nhỉ!

Nhưng đâu phải là họ không được học ngữ pháp tiếng Anh! Hầu hết đều đã học qua từ danh từ, động từ, tính từ, trạng từ, cho đến câu điều kiện, câu bị động, rồi cả mệnh đề quan hệ, vân vân, nhưng nhiều người vẫn không viết được một câu tiếng Anh đúng ngữ pháp. Đó chính là bởi vì, dù có rất nhiều kiến thức rời rạc nhưng họ chưa biết cách lắp ghép chúng lại với nhau để tạo nên một câu hoàn chỉnh.

Hay nói cách khác, vấn đề của họ chính là: họ chưa được học về cấu trúc ngữ pháp tiếng Anh một cách có hệ thống.

Nếu bạn đang đọc đến dòng này và nhận thấy mình là một trong số những người “lạc lối” trong việc học ngữ pháp tiếng anh thì bạn đã đến đúng nơi rồi!

Tiếng anh Mỗi ngày là nơi sẽ giải quyết cho bạn điểm thiếu sót lớn nhất của các sách ngữ pháp tiếng Anh bạn thường gặp, đó là trình bày từ điểm ngữ pháp này sang điểm ngữ pháp khác mà không nơi nào đề cập đến điểm cốt lõi nhất trong ngữ pháp tiếng Anh: cấu trúc câu tiếng Anh.

Chúng tôi xin chúc mừng bạn, vì khi bạn đã hiểu vấn đề của mình, nghĩa là bạn đã đạt được 50% chặng đường chinh phục ngữ pháp tiếng Anh rồi. Và 50% còn lại, Tiếng anh Mỗi ngày sẽ giúp bạn chinh phục cốt lõi của ngữ pháp tiếng Anh – CẤU TRÚC CÂU TIẾNG ANH. Chúng tôi tin chắc rằng, sau khi bạn học xong loạt bài này, bạn sẽ nắm chắc cấu trúc ngữ pháp tiếng Anh trong tay thông qua:

Phân tích được các thành phần câu

Hiểu được mối quan hệ của các thành phần câu

Từ đó, có thể nghe/đọc hiểu được tất cả các câu và nói/viết đúng ngữ pháp

Hãy bắt đầu ngay bây giờ để việc học ngữ pháp tiếng Anh không còn khó khăn và cản bước bạn nữa!

1. Cấu trúc ngữ pháp của một câu tiếng Anh

Trong tiếng Anh, một câu có thể rất đơn giản:

I sleep. Tôi ngủ.

nhưng cũng có thể rất phức tạp:

Although she was very tired, Julie still went to the store to buy a birthday cake for her friend. Mặc dù rất mệt, Julie vẫn đi đến cửa hàng để mua một cái bánh sinh nhật cho bạn của cô ấy.

Nhưng chúng chắc chắn có những điểm chung mà một câu bắt buộc phải có, và những điểm riêng để mở rộng thêm ý nghĩa cho câu.

Chúng ta có thể dễ dàng thấy được rằng thành phần quan trọng “không thể không có” trong một câu chính là động từ. Hãy thử tưởng tượng, một câu mà không có động từ thì câu đó không nói lên được điều gì cả.

Tom coffee in the kitchen. (?)

Tom cà phê trong nhà bếp. (?)

Nếu không có động từ, ta không thể hiểu được chuyện gì đang xảy ra. Tom, cà phê, trong nhà bếp, rồi sao nữa? Khi đặt động từ vào thì ý nghĩa của câu mới trở nên sáng tỏ:

Tom made coffee in the kitchen.

Tom đã pha cà phê trong nhà bếp.

Thế giới xung quanh ta lúc nào cũng chuyển động và mọi thứ không ngừng hoạt động. Nếu không có động từ, chúng ta sẽ không thể diễn tả được bất cứ điều gì.

Vậy thì động từ là một thành phần bắt buộc trong câu. Ta cũng biết chắc chắn phải có cái gì đó hoặc ai đó thực hiện hành động này, và đó chính là chủ ngữ:

Tom made coffee in the kitchen.

Tom đã pha cà phê trong nhà bếp.

Tom chính là người thực hiện hành động “pha cà phê trong nhà bếp”, có nghĩa là Tom chính là chủ ngữ trong câu. Nếu bỏ chủ ngữ “Tom” ra, người nghe sẽ không hiểu ai “pha cà phê”. Vì vậy, chủ ngữ cũng là một thành phần không thể thiếu của một câu.

Đến đây chúng ta có “công thức” cho một câu đơn giản, đó là:

Trong câu ví dụ vừa rồi, chúng ta đã xác định được hai thành phần thiết yếu trong câu là Chủ ngữ (Tom) và Động từ (made). Vậy còn “coffee in the kitchen” là gì, và chúng có quan trọng không?

Để thử mức độ cần thiết của chúng, chúng ta hãy bỏ nó ra để xem câu còn có ý nghĩa không. Trước tiên chúng ta loại bỏ “coffee” ra khỏi câu:

Tom made in the kitchen.

Tom đã pha trong nhà bếp.

Phản xạ tự nhiên khi nghe câu này sẽ là hỏi xem Tom đã pha cái gì. Nếu không có “coffee”, câu này sẽ bị cụt ngủn vì ta không biết rõ Tom pha cái gì. “Coffee” là được gọi là tân ngữ của động từ, hiểu nôm na là thứ bị động từ tác động vào. Đây là một thành phần quan trọng trong câu này vì nó hoàn thiện ý nghĩa của động từ “made”.

Tuy nhiên, không phải động từ nào cũng cần một tân ngữ, bằng chứng là câu ví dụ đầu tiên trong bài này:

Cho nên, có thể kết luận là sự tồn tại của tân ngữ trong câu là tùy theo vào động từ đó có cần một tân ngữ hay không.

Tiếp theo, chúng ta thử bỏ đi “in the kitchen”:

Tom made coffee.

Tom đã pha cà phê.

Câu này đã trọn vẹn về mặt ý nghĩa. Nếu không tò mò thêm về hành động này thì khi nghe câu này chúng ta đã hiểu được điều gì đã xảy ra: Tom đã pha cà phê, chấm hết. Như vậy, có thể nói rằng “in the kitchen” là một thông tin nền, vì nó có tác dụng làm rõ ý nghĩa của câu hơn, cung cấp người nghe biết được nơi mà hành động “pha cà phê” diễn ra nhưng không bắt buộc phải có trong câu.

Trên thực tế, thông tin nền không chỉ giới hạn trong thông tin về nơi chốn mà còn bao gồm rất nhiều những thứ khác, chẳng hạn như thời gian, cách thức, lý do, v.v.

Tom made coffee last night. (thời gian)

Tom made coffee slowly. (cách thức)

Tom made coffee because his mother asked him to. (lý do)

Đây là những thông tin cung cấp thêm cho người nghe về hành động trong câu xảy ra trong hoàn cảnh hay tình huống nào thôi, “có thì tốt, không có cũng chả sao”, cho nên chúng ta mới gọi nó là “thông tin nền”.

Nếu chưa hiểu thông tin nền là gì, hãy thử tưởng tượng một vở kịch: nhân vật trên sân khấu chính là chủ ngữ, những cử chỉ và hành động của nhân vật đó chính là động từ, còn cảnh vật và đạo cụ xung quanh nhân vật trên sân khấu chính là thông tin nền.

Qua việc phân tích một câu khá đơn giản từ nãy đến giờ, ta có thể tự tin xác định được một câu bao gồm các thành phần sau đây:

Chủ ngữ: là người/vật thực hiện hành động & là thành phần bắt buộc.

Động từ: biểu hiện hành động của câu & là thành phần bắt buộc.

Tân ngữ: là người/vật bị hành động tác động vào & có thể có, có thể không có, tùy theo động từ.

Vì chủ ngữ và động từ là hai thành phần bắt buộc trong câu, câu nào cũng có, nên bạn phải học cách nhận diện được hai thành phần này. Một khi bạn đã xác định được chúng thì bạn sẽ nhận biết được những thành phần “râu ria” còn lại trong nháy mắt, và từ đó không bao giờ nhầm lẫn các thành phần này với nhau nữa.

2. Xác định vị trí của động từ

Trước khi đi vào cách xác định động từ nằm ở đâu trong một câu, bạn cần nhớ một NGUYÊN TẮC VÀNG bất di bất dịch sau:

Mỗi câu đơn chỉ có một động từ chính. Nếu một câu có nhiều động từ chính thì đó là một câu ghép từ nhiều câu đơn lại với nhau.

Động từ chính là gì?

Động từ chính trong câu là động từ được chia thì:

Mỗi động từ bình thường trong tiếng Anh có 6 dạng:

Dạng Ví dụ động từ “to write”

Đơn giản

write

Thêm s/es

writes

Quá khứ

wrote

To + nguyên mẫu

to write

V-ing

writing

V-ed / V3

written

Tuy nhiên, chỉ có 3 dạng đầu tiên mới được xem là chia thì, vì khi đứng riêng một mình tự thân nó đã biểu hiện một thì nào đó:

Dạng Ví dụ động từ “to write” Thì động từ

Còn những dạng còn lại không có biểu hiện được thì, nên chúng không được xem là chia thì:

Dạng Ví dụ động từ “to write” Thì động từ

Xác định vị trí của động từ trong câu

Như vậy, cách xác định động từ chính là đi tìm xem động từ nào được chia thì trong câu. Phần này nếu giải thích lý thuyết sẽ có vẻ “hàn lâm”, có khả năng gây nhức đầu chóng mặt ù tai mệt mỏi, nên mình sẽ giải thích thông qua các ví dụ cụ thể.

1. Những câu chỉ có một động từ

Ví dụ 1

Annie usually goes to school at 7am.

Annie thường đi học lúc 7 giờ sáng.

Ta thấy câu này có động từ “goes”. Động từ này đang được chia theo thì hiện tại đơn → đây là động từ chính trong câu.

Ví dụ 2

Yesterday Alex visited his grandmother in New York.

Hôm qua Alex đến thăm bà của anh ấy ở New York.

Ta thấy câu này có động từ “visited”. Động từ này đang được chia theo thì quá khứ đơn → đây là động từ chính trong câu.

2. Những câu có hai động từ

Tiếp theo, chúng ta đến với các ví dụ có hai động từ, nhưng chỉ có một trong hai động từ được chia thì.

Ví dụ 3

Kate is doing her homework at the moment.

Kate đang làm bài tập về nhà vào lúc này.

Ta thấy câu này có hai động từ “is” (trợ động từ “to be” được chia thì) và “doing” (động từ “to do” được chia ở dạng V-ing), cùng tạo nên cụm động từ “is doing” để diễn tả thì hiện tại tiếp diễn → đây là động từ chính trong câu.

Ví dụ 4

John has worked for Samsung for three years.

John đã làm việc cho Samsung được ba năm.

Ta thấy câu này có hai động từ “has” (trợ động từ “to have” được chia thì) và “worked” (động từ “to work” được chia ở dạng V-ed), cùng tạo nên cụm động từ “has worked” để diễn tả thì hiện tại hoàn thành → đây là động từ chính trong câu.

Ví dụ 5

I will watch The Voice with my friends tonight.

Tôi sẽ xem Giọng Hát Việt với bạn bè của tôi tối nay.

Ta thấy câu này có hai động từ “will” (trợ động từ “will” được chia thì) và “watch” (động từ “to watch” được chia ở dạng nguyên mẫu), cùng tạo nên cụm động từ “will watch” để diễn tả thì tương lai đơn → đây là động từ chính trong câu.

Ví dụ 6

Thomas can run very fast.

Thomas có thể chạy rất nhanh.

Ta thấy câu này có hai động từ “can” (trợ động từ – động từ khiếm khuyết “can” được chia thì) và “run” (động từ “to run” được chia ở dạng nguyên mẫu), cùng tạo nên cụm động từ “can run” kết hợp ý nghĩa của “can” và “to run”→ đây là động từ chính trong câu.

Ví dụ 7

The bridge was built in one year.

Cây cầu đã được xây dựng trong một năm.

Ta thấy câu này có hai động từ “was” (trợ động từ “to be” được chia thì) và “built” (động từ “to build” được chia ở dạng V-ed), cùng tạo nên cụm động từ “was built” để diễn tả thể bị động → đây là động từ chính trong câu.

Ví dụ 8

Allison practices swimming every day.

Allison luyện tập bơi lội mỗi ngày.

Ta thấy câu này có hai động từ “practices” (động từ “to practice” được chia thì) và “swimming” (động từ “to swim” được chia ở dạng V-ing), cùng tạo nên cụm động từ “practices swimming” kết hợp ý nghĩa của “to practice” và “to swim” → đây là động từ chính trong câu.

Ví dụ 9

Noah learned to swim three years ago.

Noah đã học bơi ba năm về trước.

Ta thấy câu này có hai động từ “learned” (động từ “to learn” được chia thì) và “to swim” (động từ “to swim” được chia ở dạng To + Verb), cùng tạo nên cụm động từ “learns to swim” kết hợp ý nghĩa của “to learn” và “to swim”→ đây là động từ chính trong câu.

Ví dụ 10 trường hợp mệnh đề quan hệ

The man that I saw yesterday was Helen’s father.

Người đàn ông tôi thấy hôm qua là cha của Helen.

Ta thấy câu này có hai động từ “saw” (động từ “to see”) và “was” (động từ “to be”). Cả hai đều là động từ chia thì, vậy đâu là động từ chính?

Nếu bình tĩnh nhìn lại bức tranh toàn cảnh, ta nhận ra là “that I saw yesterday” là mệnh đề quan hệ (một loại câu đơn) bổ nghĩa cho danh từ “man”. Vì vậy, thật ra cả cụm “the man that I saw yesterday” là một cụm danh từ đóng vai trò chủ ngữ, với “that I saw yesterday” cũng có chức năng bổ nghĩa cho danh từ “the man” tương tự như một tính từ, ví dụ như “handsome”. Vậy nên, “was” mới là động từ chính.

Ví dụ 11 trường hợp mệnh đề bình thường

Terry said that he liked icecream.

Terry nói rằng anh ấy thích kem.

Ta thấy câu này có hai động từ “said” (động từ “to say”) và “liked” (động từ “to like”). Cả hai đều là động từ chia thì, vậy đâu là động từ chính?

Nếu để ý một chút, ta có thể nhận ra “he liked icecream” là một câu đơn nhỏ nằm trong một câu đơn lớn, và bản chất “he liked icecream” chính là tân ngữ động từ “said”. Nếu bạn chưa tin, hãy so sánh hai câu sau:

Terry said that he liked icecream.

Terry said it.

Như vậy nghĩa là động từ “liked” là một phần của tân ngữ của động từ, còn “said” mới là động từ chính của câu.

Ví dụ 12

I broke my leg when I played football with my friends.

Khi tôi đá bóng với bạn, tôi bị gãy chân.

Ta thấy câu này có hai động từ “played” (động từ “to play”) và “broke” (động từ “to break”). Cả hai đều là động từ chia thì, vậy đâu là động từ chính?

Một lần nữa, chúng ta hãy lùi lại một bước để nhìn bức tranh toàn cảnh, và ta thấy được “when I played football with my friends yesterday” là một mệnh đề phụ thuộc (một loại câu đơn nhỏ) nằm trong một câu đơn lớn hơn, với bản chất của nó là thông tin nền cho câu đơn lớn, cung cấp thông tin về thời điểm xảy ra hành động. Nếu chưa hiểu rõ, hãy thử thay thế “when I played football with my friends yesterday” bằng một thời điểm cụ thể, chẳng hạn như “yesterday”.

I broke my leg when I played football with my friends yesterday.

I broke my leg yesterday.

Cho nên, chúng ta thấy được là “when I played football with my friends yesterday” chỉ là thông tin nền, còn “broke” mới là động từ chính của câu.

Đến đây thì Tiếng Anh Mỗi Ngày hy vọng đã giúp bạn hiểu được về cấu trúc câu tiếng Anh cơ bản bao gồm những thành phần nào, cũng như xác định được động từ chính trong câu nằm ở đâu.

3. Làm bài tập ngữ pháp tiếng Anh “Xác định các thành phần trong câu”

Mỗi câu đơn chỉ có một động từ chính. Nếu một câu có nhiều động từ chính thì đó là một câu ghép từ nhiều câu đơn lại với nhau.

Vì vậy, để xác định thành phần của câu, bạn cần xác định động từ chính ở đâu, sau đó tìm chủ ngữ (cái thực hiện hành động) ở khu vực phía trước động từ chính, sau đó tìm tân ngữ (cái bị tác động bởi hành động) ở khu vực phía sau động từ chính, và cuối cùng các thông tin còn lại sẽ là các thông tin nền xung quanh động từ chính.

1

I hope to try the other two restaurants you listed sometime soon.

Đáp án

I hope to try the other two restaurants you listed sometime soon. Tôi hy vọng được thử hai nhà hàng mà bạn đã liệt kê một lúc nào đó sớm.

Trong câu này chỉ có một động từ được chia thì là “hope”. Đây là động từ chính.

Trước “hope” có đại từ “I”. “I” thực hiện hành động “hope”. Đây là chủ ngữ.

Sau “hope” là cụm “to try the other two restaurants you listed sometime soon”. Tương tự như ví dụ 11, nếu thay toàn bộ “to try the other two restaurants you listed sometime soon” thành “it” chúng ta có “I hope it”, với “it” là tân ngữ của động từ “hope”. Vậy ta có thể thấy cụm này có chức năng tương tự với “it”, nên đây là tân ngữ.

“Sometime soon” là thông tin nền chỉ thời gian nhưng không phải của câu chính mà là thời gian của “try the other two restaurants you listed”

2

Jenny hates driving in heavy traffic on the way to work.

Đáp án

Jenny hates driving in heavy traffic on the way to work. Jenny ghét lái xe trong tình trạng kẹt xe trên đường đi làm.

Trong câu này chỉ có một động từ được chia thì là “hates”. Đây là động từ chính.

Trước “hates” có danh từ riêng “Jenny. “Jenny” thực hiện hành động “hates”. Đây là chủ ngữ.

Sau “hates” là cụm “driving in heavy traffic on the way to work”.

Tương tự như ví dụ 11, nếu thay toàn bộ “driving in heavy traffic on the way to work” thành “it” chúng ta có “Jenny hates it”, với “it” là tân ngữ của động từ “hates”. Vậy ta có thể thấy cụm này có chức năng tương tự với “it”, nên đây là tân ngữ.

3

He failed the final exam because he didn’t make any preparation for it.

Đáp án

He failed the final exam because he didn’t make any preparation for it. Anh ấy trượt kỳ thi cuối kỳ vì anh ấy không chuẩn bị gì cho nó cả.

Trong câu này ta thấy có hai động từ được chia thì là “failed” và “didn’t make”. Tương tự ví dụ 12, ta thấy “because he didn’t make any preparation for it” là một loại thông tin nền chỉ lý do của động từ chính. Vậy nên “failed” mới chính là động từ chính.

Trước “failed” có đại từ “he”. “He” thực hiện hành động “failed”. Đây là chủ ngữ.

Sau “failed” là cụm “the final exam”. Đây là cụm danh từ, với danh từ chính là “exam” và từ bổ nghĩa cho danh từ chính là “final”. Cụm danh từ này bị tác động bởi động từ “failed” nên nó đóng vai trò làm tân ngữ.

4

Business owners should think about what they can do for the public.

Đáp án

Business owners should think about what they can do for the public.Chủ doanh nghiệp nên suy nghĩ về những gì họ có thể làm cho cộng đồng.

Trong câu này ta thấy có hai động từ được chia thì là “should think” và “can do”. Nếu thay toàn bộ “what they can do for the public” là “it” thì ta có câu “Business owners should think about it”, với “it” bổ nghĩa cho “about”, nên “do” không thể là động từ chính được. Suy ra, “should think” mới là động từ chính.

Trước “should think” có cụm danh từ “business owners”, với danh từ chính, là “owners” và từ bổ nghĩa cho danh từ chính là “business”. Cụm danh từ này đóng vai trò chủ ngữ.

Sau “should think” là cụm “about what they can do for the public”. Tương tự ví dụ 11, nếu thay toàn bộ “what they can do for the public” thành “it” chúng ta có “Business owners should think about it”, với “it” là tân ngữ của động từ “think” và giới từ “about”. Vậy ta có thể thấy cụm này có chức năng tương tự với “it”, nên đây là tân ngữ.

5

The express train always arrives on time, unlike the local, which is always late.

Đáp án

The express train always arrives on time, unlike the local, which is always late.​ Tàu cao tốc luôn luôn đến đúng giờ, không giống như tàu địa phương, lúc nào cũng trễ.

Trong câu này ta thấy có hai động từ được chia thì là “arrives” và “is”. Tương tự như ví dụ 10, ta thấy cụm “which is always late” là mệnh đề quan hệ bổ nghĩa cho “the local”. Vậy nên “arrives” mới là động từ chính.

Trước “arrives” có “the express train always”. “Always” là một trạng từ chỉ mức độ thường xuyên, nên đây là một dạng thông tin nền. “The express train” là cụm danh từ, với danh từ chính là “train” và từ bổ nghĩa cho danh từ chính là “express”. Cụm danh từ này đóng vai trò chủ ngữ.

Sau “arrives” là “on time, unlike the local, which is always late”. “On time” là một cụm trạng ngữ chỉ cách thức, nên đây là một dạng thông tin nền. “Unlike the local, which is always late” là một cụm giới từ chỉ sự so sánh, với giới từ là “unlike”, tân ngữ của giới từ là cụm danh từ “the local, which is always late”. Đây đây là một dạng thông tin nền.

6

Although she was very tired, Julie still went to the store to buy a birthday cake for her friend.

Đáp án

Although she was very tired, Julie still went to the store to buy a birthday cake for her friend. Mặc dù cô ấy rất mệt, Julie vẫn đi đến cửa hàng để mua một cái bánh sinh nhật cho bạn cô ấy.

Trong câu này ta thấy có hai động từ được chia thì là “was” và “went”. Tương tự ví dụ 12, ta thấy “although she was very tired” là một loại thông tin nền chỉ hành động của động từ chính trái ngược với một sự việc khác. Vậy nên “went” mới chính là động từ chính.

Trước “went” có “Julie still” “Still” là một trạng từ chỉ cách thức, là một loại thông tin nền. “Julie” là danh từ riêng thực hiện hành động “went”, nên đây là chủ ngữ.

Sau “went” có “to the store to buy a birthday cake for her friend”. Đây là cụm giới từ chỉ đích đến của hành động “went”, nên đây là một dạng thông tin nền.

7

When I came home, my mother was cooking dinner.

Đáp án

When I came home, my mother was cooking dinner.​ Khi tôi về đến nhà, mẹ tôi đang nấu bữa tối.

Trong câu này ta thấy có hai động từ được chia thì là “came” và “was cooking”. Tương tự ví dụ 12, ta thấy “when I came home” là một loại thông tin nền chỉ thời điểm xảy ra hành động. Vậy nên “was cooking” mới chính là động từ chính.

Trước “was cooking” có “my mother”, là một cụm danh từ với danh từ chính “mother” và tính từ sở hữu “my”. “My mother” thực hiện hành động “was cooking” nên đây chính là chủ ngữ.

Sau “was cooking” có “dinner”. Đây là danh từ bị tác động bởi động từ “was cooking” nên đây là tân ngữ.

8

Due to a rainy weather forecast, today’s Free Musical Concert, scheduled for 11:30 AM, has been cancelled.

Đáp án

Due to a rainy weather forecast, today’s Free Musical Concert, scheduled for 11:30 AM, has been cancelled. Vì dự báo thời tiết có mưa, buổi hòa nhạc Free Musical, được lên lịch diễn ra lúc 11:30 sáng, đã bị hủy.

Trong câu này chỉ có một động từ được chia thì là “has been canceled”. Đây là động từ chính.

“Today’s Free Musical Concert, scheduled for 11:30 AM” là một cụm danh từ có danh từ chính là “concert”, có các cụm từ bổ nghĩa cho nó là “Free Musical”, “today’s” và “scheduled for 11:30 AM”. Đây là cụm danh từ có vai trò chủ ngữ.

“Due to a rainy weather forecast” là một loại thông tin nền chỉ lý do của hành động.

9

As I mentioned in our phone call, the convention center has a lot of exciting new events next week.

Đáp án

As I mentioned in our phone call, the convention center has a lot of exciting new events next week. Như tôi đã đề cập trong cuộc nói chuyện điện thoại, trung tâm hội nghị có rất nhiều sự kiện thú vị vào tuần tới.

10

Chris sat down to read the book.

Đáp án

Chris sat down to read the book. Chris ngồi xuống để đọc sách.

Trong câu này chỉ có một động từ được chia thì là “sat”. Đây là động từ chính.

Trước “sat” có danh từ riêng Chris thực hiện hành động “sat”. Đây là chủ ngữ.

Sau “sat” có “down to read the book”. “Down” là giới từ chỉ hướng di chuyển của hành động, là một loại thông tin nền. “To read the book” là cụm từ chỉ mục đích của hành động, là một loại thông tin nền.

11

The house that we lived in when we were young was purchased last month.

Đáp án

The house that we lived in when we were young was purchased last month. Ngôi nhà mà chúng tôi từng sống khi còn nhỏ đã được mua vào tháng trước.

Trong câu này có hai động từ được chia thì là “lived” và “was purchased”. Tương tự ví dụ 10, ta thấy “that we lived in when we were young” là một mệnh đề quan hệ bổ nghĩa cho danh từ “house”, tạo nên chủ ngữ. Vậy nên “was purchased” mới chính là động từ chính.

“Last month” là cụm danh từ chỉ thời gian mà “was purchased” diễn ra, là một loại thông tin nền.

12

What he told her surprised her a lot.

Đáp án

What he told her surprised her a lot. Nhưng gì anh ấy kể với cô ấy gây nhạc nhiên cho cô ấy rất nhiều.

Trong có này có hai động từ được chia thì là “told” và “surprised”. Ta thấy “what he told her” là một mệnh đề đóng vai trò làm chủ ngữ. “Surprised” là động từ chính.

“Her” là đại từ chịu tác động của động từ “surprised”, nên nó là tân ngữ.

“A lot” là cụm trạng từ chỉ mức độ nhiều ít cho động từ “surprised”, nên nó là một dạng thông tin nền.

13

Having worked on it for weeks, Stephan could finally finish the project.

Đáp án

Having worked on it for weeks, Stephan could finally finish the project.​Đã làm nó trong nhiều tuần, Stephan cuối cùng cũng có thể hoàn thành dự án.

Câu này chỉ có một động từ được chia thì là “could” nên đây là động từ chính.

Trước “could” có cụm “Having working on it for weeks, Stephan”. “Stephan” là danh từ riêng thực hiện hành động “could” nên đây là chủ ngữ. “Having working on it for weeks” là một dạng rút gọn mệnh đề “Stephan has worked on it for weeks”, đây là một dạng thông tin nền.

Sau “could” có cụm “finally finish the project”. Động từ “could” không thể đứng một mình được mà phải có một động từ nguyên mẫu để tạo thành một cụm động từ, và “finish” chính là động từ nguyên mẫu này. “The project” là đối tượng của động từ “could finish” nên nó là tân ngữ. “Finally” là một trạng từ chỉ cách thức của hành động “could finish”, là một dạng của thông tin nền.

14

The last time we spoke, you mentioned that the CEO would go on a business trip in July.

Đáp án

The last time we spoke, you mentioned that the CEO would go on a business trip in July.​ Lần cuối chúng ta nói chuyện, bạn có nhắc đến rằng giám đốc sẽ đi công tác vào tháng bảy.

Câu này có hai động từ được chia thì “spoke” và “mentioned”. Tương tự như ví dụ 12, “the last time we spoke” là một cụm chỉ thời gian cho động từ chính”. Đây là một dạng thông tin nền. Vì vậy, “mentioned” mới là động từ chính.

Trước “mentioned” có đại từ “you”. Đây là chủ ngữ của câu.

Sau “mentioned” có cụm “that the CEO would go on a business trip in July”. Tương tự như ví dụ 11, nếu ta thay cụm này bằng “it”, ta có câu “The last time we spoke, you mentioned it”, với “it” là tân ngữ của động từ “mentioned”. Vậy ta có thể thấy cụm này có chức năng tương tự với “it”, nên đây là tân ngữ.

15

We tried to call Allen but nobody picked up the phone.

Đáp án

We tried to call Allen but nobody picked up the phone. Chúng tôi cố gọi Allen nhưng không ai bắt máy.

Trong câu này có hai động từ được chia thì “tried” và “picked up”. Ta thấy có liên từ “but” nên đây là một câu bao gồm hai câu đơn ở bên từ “but”. Vậy nên, “tried” là động từ chính của câu đơn 1 và “picked up” là động từ chính của câu đơn 2.

Ở câu đơn 1, trước “tried” là đại từ “we”, là chủ ngữ. Bên cạnh đó, tương tự như ví dụ 11, nếu ta thay cụm này bằng “it”, ta có câu “We tried it”, với “it” là tân ngữ của động từ “tried”. Vậy ta có thể thấy cụm này có chức năng tương tự với “it”, nên đây là tân ngữ.

Ở câu đơn 2, trước “picked up” là đại từ “nobody”, là chủ ngữ. “The phone” là danh từ bị động từ “picked up” tác động lên, nên nó là tân ngữ.

Với những bài tập trên thì Tiếng Anh Mỗi Ngày hy vọng bạn đã thực sự hiểu rõ về cấu trúc câu tiếng Anh cơ bản bao gồm những thành phần nào, cũng như xác định được động từ chính trong câu nằm ở đâu.

Cấu trúc câu tiếng Anh chi tiếtTổng hợp ngữ pháp tiếng Anh