Top 15 # Soạn Văn Lớp Bẩy Bài Những Câu Hát Châm Biếm / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Maiphuongus.net

Soạn Bài: Những Câu Hát Châm Biếm / 2023

I – KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG

1. Bốn bài ca dao châm biếm phê phán và chế giễu người lười nhác, có nhiều tật xâu (bài 1); chế giễu, phê phán thầy xem tướng số” (bài 2); châm biếm hủ tục ma chay (bài 3) và châm biếm cậu cai – tay sai của bọn thống trị (bài 4).

2. Những câu hát châm biếm đã thể hiện khá tập trung nét đặc sắc của nghệ thuật trào lộng dân gian: dùng các hình ảnh ẩn dụ, tượng trưng, biện pháp nói ngược, nhại và phóng đại. Những câu hát đó đã phê phán các thói hư, tật xâu của những hạng người và sự việc đáng cười trong xã hội.

II – HƯỚNG DẪN ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

1. Bài 1 giới thiệu chú tôi là người hay (nghĩa là giỏi, nhưng cũng có nghĩa là thích, ham, nghiện) nhiều thứ: rượu, chè đặc, ngủ ứưa. Chú còn là người “giàu ước mơ”, mà toàn mơ để không phải đi làm, để ngủ cho đã mắt.

Hai câu đầu có ý nghĩa vào bài và giới thiệu nhân vật. Trước khi đưa ra hình ảnh chú tôi, cô yếm đào được nhắc đến như là một nhân vật để cho ông chú cầu hôn. Cô yếm đảo là hình ảnh của một cô gái ttẻ đẹp. Điều đó gây tò mò xem chú tôi là người như thế nào.

Bài ca dao này châm biếm hạng người nghiện ngập và lười biếng trong xã hội.

2. Bài 2 nhại lời của thầy tướng số nói với cô gái, người muốn giải đoán số mệnh của mình. Lời của thầy tướng số nói toàn những sự hiển nhiên và nói có tính nước đôi, chẳng có gì dứt khoát. Không giàu thì hiển nhiên là nghèo. Tết ai chả có thịt treo trong nhà. Ai chẳng do bố mẹ snih ra. Tất nhiên bố phải là đàn ông, mẹ là đàn bà. Làm gì có chuyện ngược lại. Cũng như thế đẻ con chảng trai thì gái. Đó là lời nói nước đôi, nói dựa thực tế, chẳng có gì phải mất công tính toán cả.

3. Mỗi con vật trong bài 3 tượng trưng cho một loại người ở nông thôn: con cò là người dân; cà cuống tượng trưng cho kẻ chức sắc trong làng; chim ri là người có vai vế, có phần được chia sau khi ăn uống; chào mào là người phục vụ tang lễ (phường kèn, phường trống); chim chích giông như vai trò của mõ làng, thông tín cho mọi người. Việc chọn các con vật như thế chỉ thế giới loài vật nhưng cũng ám chỉ thếgiới con người ở làng xã. Rất nhiều loại người trong hủ tục ma chay ở quê, nhưng chỉ thấp thoáng chứ không chỉ người nào thật cụ thê. Việc châm biếm trở nên kín đáo.

Cảnh tượng thật ồn ào, náo nhiệt, không phù hợp với việc buồn của nhà có người chết. Cái chết biến thành dịp ăn uốg say sưa, chia phần nhộn nhạo.

Bài ca dao châm biếm, phê phán hủ tục ma chay chọn ngày, ăn uống, chia phần ồn ào trong xã hội cũ.

4. Bài 4 miêu tả chân dung cậu cai khá sinh động: trang phục nhà binh chĩnh chện, nhưng tay lại đeo nhẫn để khoe của và cũng là khoe cấp bậc: cai chứ không phải là lính. Cai là người chỉ huy, là cấp trên. Cậu cai oai như vậy, nhưng thưc chất là oai như thế nào ? Ba năm người ta mới phái đi công cán. Áo thì đi mượn, quần thì đi thuê. Áo, quần là thứ rẻ thế còn phải thuê, phải mượn, thì cái nhẫn đeo tay kia chắc cũng mượn, cũng thuê nốt. Cậu cai hiện ra là một gã bù nhìn khoác những đồ thuê mượn, cố’ ra vẻ oai nhưng thật thảm hại.

Nghệ thuật châm biếm của bài ca là sự phóng đại (ba năm được một chuyến sai; quần áo đều thuê mượn); là sự đối lập (cái vẻ oai, vẻ sang của cậu cai đốì lập với sự thuê, mượn những thứ xoàng xĩnh như áo ngắn, quần dài; cả cái việc ba năm mới có một chuyến công cán, thực tế là làm tay sai chứ có vẻ vang gì).

III – HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

1. Ý kiến đúng nhất về sự giống nhau của cả bốn bài ca đó là: cả bốn bài đều có nội dung và nghệ thuật châm biếm.

2. Những câu hát châm biếm trên có điểm giống truyện cười dân gian ở chỗ đối tượng châm biếm là những thói hư, tật xâu, những kẻ đáng chê cười trong đời sống. Hình thức châm biếm là sử dụng biện pháp phóng đại, chỉ ra mâu thuẫn của sự vật.

Soạn Bài Những Câu Hát Châm Biếm Văn Lớp 7 / 2023

Soạn bài Những câu hát châm biếm

Bài làm

Câu 1 (Sách giáo khoa trang 52 ngữ văn 7 tập 1) “giới thiệu” về “chú tôi” như thế nào? Hai dòng đầu có ý nghĩa gì? Bài này châm biếm hạng người nào trong xã hội?

– “Giới thiệu” về chinh bức chân dung của “chú tôi” luôn luôn có nét biếm họa giễu cợt, mỉa mai:

+ Hay tử hay tăm: Ý muốn nói nghiện ngập, nát rượu

+ Hay nước chè đặc: nói về sự nghiện chè

+ Hay nằm ngủ trưa, ước ngày mưa, ước đêm thừa trống canh: Chỉ sự lười biếng, không muốn làm việc

– Dùng chữ “hay” (giỏi) và thêm vào đó cũng chính là lối nói ngược để châm biếm thói hư tật xấu của tên “chú tôi”

+ Người con gái đẹp và vô cùng trẻ trung

+ Cần cù chăm chỉ (lặn lội bờ ao)

Câu 2 (Sách giáo khoa trang 52 ngữ văn 7 tập 1) Nhại lại lời của ai nói với ai? Em có nhận xét gì về lời của thầy bói? Bài ca này phê phán hiện tượng nào trong xã hội? Hãy tìm những bài ca dao khác có nội dung tương tự.

Sự nhại lại lời của ông thầy bói nói với cô gái đó chính là:

– Có thể nhận thấy được chính cách nói của thầy bói nước đôi, hiển nhiên, chẳng có gì mới mẻ cả.

+ Nói bố cô đàn ông, mẹ cô đàn bà

+ Câu: ngày ba mươi Tết thịt treo trong nhà

+ Sinh con chẳng gái thì trai

– Đây là những lời phán của thầy bói trở nên vô nghĩa, cổ hủ và có cả sự nực cười

– Đồng thời qua câu hát thì nó cũng đã lại châm biếm sự mê tín đến mù quáng của những người thiếu hiểu biết, mê muội biết bao nhiêu.

Câu 3 (Sách giáo khoa trang 52 ngữ văn 7 tập 1) Mỗi con vật trong bài 3 tượng trưng cho ai, hạng người nào trong xã hội xưa? Việc chọn các con vật để miêu tả, “đóng vai” như thế lí thú ở điểm nào? Cảnh tượng trong bài có phù hợp với đám tang không? Bài cao dao này phê phán, châm biếm cái gì?

Ta nhận thấy được bài ca dao 3 là cảnh đám ma theo tục lệ cũ, và cứ mỗi con vật ứng với một kiểu người:

+ Con cò: Chính là hình ảnh tượng trưng người nông dân thường ở làng xã

+ Cà cuống: Ở đây cũng chính là những kẻ có thể lực, tai to mặt lớn

+ Chim ri, chào mào: Ý muốn nói cai lệ, lính lệ

+ Chim chích: Tất cả như cũng lại gợi ra hình ảnh những anh mõ làng

– Thế giới loài vật như muốn tượng trưng cho thế giới con người:

+ Tác giả dùng thế giới loài vật để nói về thế giới con người

+ Thế rồi cừng con vật tiêu biểu cho các loại người, thêm vào đó chính là những hạng người trong xã hội mà nó ám chỉ

+ Nội dung châm biếm, cũng như sự phê phán trở nên kín đáo, sâu sắc

– Chính cảnh tượng trong bài mang giá trị tố cáo: Đó cũng chính là một cuộc đánh chén, chia chác vui vẻ có lúc vô tâm diễn ra ngay trong những mất mát, tang tóc của gia đình người chết

Câu 4 (Sách giáo khoa trang 52 ngữ văn 7 tập 1) Trong bài 4, chân dung “cậu cai” được miêu tả như thế nào? Em có nhận xét gì về nghệ thuật châm biến của bài ca dao này?

Đó chính là chân dung cậu cai đã vẽ nên bức tranh châm biếm sinh động và có cả một sự chân thực:

+ Cậu chính là cai lính để có thể bộc lộ quyền lực của cậu cai (nón dấu lông gà)

+ Có thể nhận thấy được chính tính cách phô trương, khoe mẽ của cậu cai (ngón tay đeo nhẫn)

+ Cậu cai lúc này đây cũng lại có thân phận nhỏ bé, đã vậy lại còn thảm hại khi phải thuê mượn quần áo

+ Dân gian luôn luôn gọi “cậu cai”, thông qua đó ta nhận thấy được mục đích như để châm chọc tên cai lệ mà cũng không chút quyền hành

+ Tác giả cũng đã dùng kiểu câu nêu “định nghĩa”, thế rồi cũng giống như vài nét phác họa mỉa mai cậu cai để có thể xuất hiện như kẻ lố lăng, khoe mẽ, thảm hại

Bài 1 (Sách giáo khoa trang 53 ngữ văn 7 tập 1): Nhận xét về sự giống nhau của 4 bài ca dao, em đồng ý với ý kiến nào?

Sự giống nhau của bốn bài ca dao được thể hiện:

– Ở đây cũng chính là cả nội dung và nghệ thuậ châm biếm

Bài 2 (Sách giáo khoa trang 53 ngữ văn 7 tập 1) Những câu hát châm biếm nói trên có điểm gì giống truyện cười dân gian?

Chỉ ra những câu hát châm biếm giống với truyện cười dân gian ở các điểm:

+ Đối tượng: Đó chính là những thói hư tật xấu, những kẻ đáng chê cười trong chính đời sống

+ Nghệ thuật châm biếm: Cũng lại sử dụng biện pháp phóng đại, luôn luôn chỉ ra mâu thuẫn của sự vật.

Chúc các em học tốt!

Những Câu Hát Châm Biếm / 2023

Trả lời câu 1 (trang 52, SGK Ngữ văn 7, tập 1):

– Bài 1 giới thiệu về ” chú tôi “: nghiện rượu, nghiện chè, nghiện ngủ, lười biếng.

– Bài này châm biếm những kẻ vừa nghiện ngập, vừa lười biếng trong xã hội.

Câu 2 Trả lời câu 2 (trang 52, SGK Ngữ văn 7, tập 1):

– Bài 2 nhại lời nói của thầy bói với người đi xem bói. Bài ca dao lật tẩy bản chất của họ: thực chất là đánh vào tâm lý của người khác để kiếm tiền.

– Lời của thầy bói hoàn toàn là những điều hiển nhiên mà ai cũng biết.

– Đối tượng phê phán: những kẻ hành nghề mê tín dị đoan, lừa lọc người khác để kiếm tiền, đồng thời cũng phê phán những người ít hiểu biết, nhẹ dạ cả tin, tin vào những điều phản khoa học.

– Một số bài ca dao tương tự:

+ Chập chập thôi lại cheng cheng

Con gà trống thiến để riêng cho thầy

Đơm xôi thì đơm cho đầy

Đơm vơi thì thánh nhà thầy mất thiêng.

+ Tử vi thầy bói cho người

Số thầy thì để cho ruồi nó bâu.

+ Thầy cũng ngồi cạnh giường thờ

Mồm thì lẩm bẩm tay sờ đĩa xôi.

Câu 3 Trả lời câu 3 (trang 52, SGK Ngữ văn 7, tập 1):

– Mỗi con vật trong 3 bài tượng trưng cho một loại người:

+ Con cò tượng trưng cho người nông dân xấu số.

+ Con cà cuống tượng trưng cho những kẻ có chức có quyền.

+ Chim ri, chào mào tượng trưng cho đám lính lệ, tay sai.

+ Chim chích tượng trưng cho anh mõ dưới chế độ phong kiến.

– Việc chọn con vật để nói về người giúp nội dung châm biếm trở nên sâu sắc, toàn diện hơn.

– Cảnh tượng trong bài không phù hợp với với đám tang vì đám tang mà lại có cảnh chia chác, đánh chén linh đình.

– Bài ca phê phán những hủ tục ma chay đương thời, vừa gây phiền hà lại vừa tốn kém.

Câu 4 Trả lời câu 4 (trang 52, SGK Ngữ văn 7, tập 1):

– Trong bài 4, cậu cai được miêu tả:

+ Trang phục: nón dấu lông gà, ngón tay đeo nhẫn, thể hiện sự giàu sang, kệch cỡm của cậu chỉ huy hạng bét.

+ ” Áo ngắn đi mượn – quần dài đi thuê “: mỉa mai, pha chút thương hại cái thân phận thấp bé của cậu cai nhưng lại thích ra oai, ta là người có quyền lực.

– Nhận xét về nghệ thuật châm biếm:

+ Cách xưng hô ” cậu cai ” thể hiện tính chất nịnh bợ, vừa có tính châm biếm.

+ Định nghĩa về cậu cai: cứ đầu đội nón dấu lông gà, ngón tay đeo nhẫn gọi là cậu cai.

+ Nghệ thuật phóng đại (Ba năm được một chuyến sai, quần áo đi mượn, đi thuê) làm bật lên vai vế chức vụ chẳng quan trọng gì → mỉa mai châm biếm.

Soạn Bài Lớp 7: Những Câu Hát Châm Biếm / 2023

Soạn bài lớp 7: Những câu hát châm biếm

Soạn bài: Những câu hát châm biếm

I. VỀ THỂ LOẠI

(Xem bài Những câu hát về tình cảm gia đình).

II. KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. Bài 1 “giới thiệu” chú tôi là người hay (nghĩa là giỏi, nhưng cũng có nghĩa là thích, ham, nghiện) nhiều thứ: nghiện rượu, nghiện chè, lại nghiện cả… ngủ trưa! Không những thế, chú còn là người rất “giàu ước mơ” – mà toàn mơ để… không phải đi làm, để ngủ cho đã mắt! Bài ca dao này châm biếm hạng người sa đà nghiện ngập và lười biếng trong xã hội.

3. Mỗi con vật trong bài 3 tượng trưng cho một loại người: con cò tượng trưng cho người nông dân, cà cuống tượng trưng cho những kẻ có quyền bính, chim ri và chào mào tượng trưng cho đám lính lệ, chim chích tượng trưng cho anh mõ dưới chế độ phong kiến. Bài ca có tính chất ngụ ngôn rõ rệt, tác giả dân gian đã mượn loài vật để phê phán hủ tục ma chay.

4. Hai câu đầu của bài ca có kết cấu đặc biệt: Cậu cai nón dấu lông gà. Ngón tay đeo nhẫn gọi là cậu cai. Hai câu là hai định nghĩa, đồng thời là hai “dấu hiệu” nhận biết một con người: thứ nhất, cậu cai = nón dấu lông gà (dấu hiệu quyền lực); thứ hai: ngón tay đeo nhẫn = gọi là cậu cai (dấu hiệu giàu sang). Hai dấu hiệu này không có nghĩa thông báo về tâm hồn, tính cách hay phẩm chất của đối tượng. Nếu bỏ hai tiếng “cậu cai” đi, trong hình dung chỉ còn chiếc “nón dấu lông gà” (quyền lực) và “ngón tay đeo nhẫn” (khoe của) có vẻ rất trai lơ!

Hai câu tiếp theo đối lập về số lượng có tính chất gây cười. Pha một chút phóng đại, chân dung cậu cai được đưa ra châm chọc, mỉa mai, thể hiện thái độ khinh ghét và thương hại của nhân dân.

Về nghệ thuật, khi xây dựng nhân vật cai lệ, tác giả dân gian đã khéo léo chọn từ xưng hô là: cậu cai (một từ vừa có tính chất nịnh bợ, vừa có tính chất châm biếm). Hơn nữa, bằng việc biếm hoạ chân dung cậu cai, tác giả dân gian đã ngầm ý nói lên sự nhố nhăng, bắng nhắng của nhân vật người thường không ra người thường, quyền lực không ra quyền lực này. Việc sử dụng rất thành công nghệ thuật phóng đại cũng có tác dụng làm cho nhân vật cậu cai càng trở nên nực cười và thảm hại hơn.

III. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Cách đọc

Đây cũng là ca dao trữ tình nhưng tình cảm, thái độ trong đó không phải là những tình cảm thẳm sâu, day dứt trong tâm hồn (như những bài ca dao về tình cảm gia đình, tình yêu đôi lứa,…). Giọng điệu ở đây là giọng châm biếm, giễu cợt,… nên khi đọc cần cao giọng, nhấn mạnh vào các điệp từ, điệp ngữ (có chủ ý) để làm nổi bật giọng điệu châm biếm, giễu cợt của những câu ca dao này.

b) Tất cả đều sử dụng biện pháp phóng đại.

c) Cả bốn bài đều có nội dung và nghệ thuật châm biếm.

d) Nghệ thuật tả thực có trong cả bốn bài.

Gợi ý: Câu trả lời xác đáng nhất là ý c.

3.* Những câu hát châm biếm nói trên có điểm gì giống truyện cười dân gian?

Gợi ý:

Đều hướng đến châm biếm những hạng người đáng chê cười về tính cách, bản chất.

Đều sử dụng một số hình thức gây cười.

Đều tạo được những tiếng cười sảng khoái cho độc giả.

Theo chúng tôi