Top #10 Soạn Văn Lớp 9 Bài Làng Violet Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 8/2022 # Top Trend | Maiphuongus.net

Soạn Bài Lớp 9: Làng Soạn Bài Môn Ngữ Văn Lớp 9 Học Kì I

--- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Làng Ngữ Văn 9 Của Kim Lân
  • Giải Sách Bài Tập Toán 9 Tập 1 Trang 15 Bài 63, 64, 65
  • Giải Sách Bài Tập Toán 9 Tập 1 Trang 15 Bài 60, 61, 62
  • Soạn Bài Cố Hương Sbt Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Soạn Bài Cố Hương Lớp 9
  • Soạn bài lớp 9: Làng Soạn bài môn Ngữ văn lớp 9 học kì I

    Soạn bài: Làng

    LÀNG

    KIM LÂN

    I. KIẾN THỨC CƠ BẢN

    1. Tình yêu quê hương đất nước trong mỗi con người cụ thể mang một hình hài riêng. Có thể là sự hi sinh anh dũng của những chiến sĩ ngoài mặt trận, có thể là công sức khai hoang, vun trồng những thửa ruộng, có thể là cái mượt mà hay hùng tráng của một ca khúc ca ngợi tình người, tình đời, v.v… Và ở đây là tình yêu, sự gắn bó thuỷ chung với cái làng của mình, của một người nông dân phải rời làng đi tản cư trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.

    2. Thành công của truyện Làng chính là ở hình tượng nhân vật lão Hai với những trạng huống tâm lí, ngôn ngữ được khắc hoạ sắc sảo, chân thực và sinh động. Tuy nhiên, để nhân vật bộc lộ được tâm lí hay ngôn ngữ, trước hết, nhà văn phải xây dựng được tình huống truyện. Tính cách nhân vật chỉ được thể hiện trong một sự việc cụ thể nào đó. Hiểu lầm rồi vỡ lẽ là dạng tình huống thường được các nhà văn sử dụng. Việc rời làng đi tản cư là sự việc có ý nghĩa tạo khung cho câu chuyện. Đó chưa phải là tình huống. Phải đến khi ông Hai nghe tin đồn làng của ông theo Tây làm Việt gian thì tình huống mới thực sự bắt đầu. Tình huống truyện kết thúc khi ông Hai biết được sự thực làng của ông không theo giặc. Qua tình huống này, hình ảnh một lão nông dân tha thiết yêu làng quê của mình, một lòng một dạ theo kháng chiến hiện ra sắc nét, với chiều sâu tâm lí, ngôn ngữ mang đậm màu sắc cá thể hoá.

    3. Sở dĩ cái tin làng chợ Dầu theo giặc làm ông Hai khổ tâm là vì nó đã động chạm đến điều thiêng liêng, nhạy cảm nhất trong con người ông. Cái làng đối với người nông dân quan trọng lắm. Nó là ngôi nhà chung cho cộng đồng, họ mạc. Đời này qua đời khác, ng­ời nông dân gắn bó với cái làng như máu thịt, ruột rà. Nó là nhà cửa, đất đai, là tổ tiên, là hiện thân cho đất nước đối với họ. Trước Cách mạng tháng Tám, ông Hai thuộc loại “khố rách áo ôm”, từng bị “bọn hương lí trong làng truất ngôi trừ ngoại xiêu dạt đi, lang thang hết nơi này đến nơi khác, lần mò vào đến tận đất Sài Gòn, Chợ Lớn kiếm ăn. Ba chìm bảy nổi mười mấy năm trời mới lại được trở về quê hương bản quán.”. Nên ông thấm thía lắm cái cảnh tha hương cầu thực.

    Ông yêu cái làng của mình như đứa con yêu mẹ, tự hào về mẹ, tôn thờ mẹ, một tình yêu hồn nhiên như trẻ thơ. Cứ xem cái cách ông Hai náo nức, say mê khoe về làng mình thì sẽ thấy. Trước Cách mạng tháng Tám, ông khoe cái sinh phần của viên tổng đốc làng ông: “Chết! Chết, tôi chưa thấy cái dinh cơ nào mà lại được như cái dinh cơ cụ thượng làng tôi.”. Và mặc dù chẳng họ hàng gì nhưng ông cứ gọi viên tổng đốc là “cụ tôi” một cách rất hả hê! Sau Cách mạng, “người ta không còn thấy ông đả động gì đến cái lăng ấy nữa”, vì ông nhận thức được nó làm khổ mình, làm khổ mọi người, là kẻ thù của cả làng: “Xây cái lăng ấy cả làng phục dịch, cả làng gánh gạch, đập đá, làm phu hồ cho nó. Trong lòng ông lão lại thấy náo nức hẳn lên.”. Lúc này, niềm vui của ông chỉ là hàng ngày đi nghe tin tức thời sự kháng chiến và khoe về cái làng chợ Dầu của ông đánh Tây. Thế mà, đùng một cái ông nghe được cái tin làng chợ Dầu của ông theo Tây làm Việt gian. Càng yêu làng, hãnh diện, tự hào về làng bao nhiêu thì bây giờ ông Hai lại càng thấy đau đớn, tủi hổ bấy nhiêu. Nhà văn Kim Lân đã chứng tỏ bút lực dồi dào, khả năng phân tích sắc sảo, tái hiện sinh động trạng thái tình cảm, hành động của con ng­ời khi miêu tả diễn biến tâm trạng và hành động của nhân vật ông Hai trong biến cố này.

    Ông lão đang náo nức, “Ruột gan ông lão cứ múa cả lên, vui quá!” vì những tin kháng chiến thì biến cố bất ngờ xảy ra. Cái tin làng chợ Dầu theo giặc đã làm ông điếng người: “Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi, tưởng nh­ đến không thở được. Một lúc lâu ông mới rặng è è, nuốt một cái gì vướng ở cổ đâu đâu có người chợ Dầu người ta cũng đuổi như đuổi hủi. Mà cho dẫu vì chính sách của Cụ Hồ người ta chẳng đuổi đi nữa, thì mình cũng chẳng còn mặt mũi nào đi đến đâu.”.

    4. Từ chỗ yêu tha thiết cái làng của mình, ông Hai đâm ra thù làng: “ Về làm gì cái làng ấy nữa. Chúng nó theo Tây cả rồi. Về làng tức là bỏ kháng chiến. Bỏ Cụ Hồ…”. Và “Nước mắt ông giàn ra”. Ông lại nghĩ đến cảnh sống nô lệ tăm tối, lầm than trước kia. Bao nỗi niềm của ông không biết giãi bày cùng ai đành trút cả vào những lời trò chuyện cùng đứa con thơ dại:

    Anh em đồng chí biết cho bố con ông Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông.

    Cái lòng bố con ông là như thế đấy, có bao giờ dám đơn sai. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai.

    5. Nhà văn đã nhìn thấy những nét đáng trân trọng bên trong người nông dân chân lấm tay bùn. Nhân vật ông Hai hiện ra chân thực từ cái tính hay khoe làng, thích nói về làng bất kể người nghe có thích hay không; chân thực ở đặc điểm tâm lí vì cộng đồng, vui cái vui của làng, buồn cái buồn của làng và chân thực ở những diễn biến của trạng thái tâm lí hết sức đặc trưng của một người nông dân tủi nhục, đau đớn vì cái tin làng mình phản bội. Nếu như trong biến cố ấy tâm trạng của ông Hai đau đớn, tủi cực bao nhiêu thì khi vỡ lẽ ra rằng đó chỉ là tin đồn không đúng, làng chợ Dầu của ông không hề theo giặc, sự vui sướng càng tưng bừng, hả hê bấy nhiêu. Ông Hai như người vừa được hồi sinh. Một lần nữa, những thay đổi của trạng thái tâm lí lại được khắc hoạ sinh động, tài tình: “Cái mặt buồn thỉu mọi ngày bỗng tươi vui, rạng rỡ hẳn lên. Mồm bỏm bẻm nhai trầu, cặp mắt hung hung đỏ hấp háy…”. Ông khoe khắp nơi: “Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ. Đốt nhẵn! Ra láo! Láo hết, chẳng có gì sất. Toàn là sai sự mục đích cả!”. Đáng lẽ ra ông phải buồn vì cái tin ấy chứ? Nhưng ông đang tràn ngập trong niềm vui vì thoát khỏi cái ách “người làng Việt gian”. Cái tin ấy xác nhận làng ông vẫn nhất quyết đứng về phía kháng chiến. Cái tin ấy khiến ông lại được sống như một người yêu nước, lại có thể tiếp tục sự khoe khoang đáng yêu của mình,… Mâu thuẫn mà vẫn hết sức hợp lí, điểm này cũng là sự sắc sảo, độc đáo của ngòi bút miêu tả tâm lí nhân vật của nhà văn Kim Lân.

    Người đọc sẽ không thể quên được một ông Hai quá yêu cái làng của mình như thế. Mặt khác, cũng như các nhân vật quần chúng (chị cho con bú loan tin làng chợ Dầu theo giặc), bà chủ nhà,… cái khó quên ở nhân vật này còn là nét cá thể hoá rất đậm về ngôn ngữ. Lúc ông hai nói thành lời hay khi ông nghĩ, ng­ời đọc vẫn nhận thấy rất rõ đặc điểm ngôn ngữ của vùng quê Bắc Bộ, của một làng Bắc Bộ: “Nắng này là bỏ mẹ chúng nó”, “không đọc thành tiếng cho người khác nghe nhờ mấy”, “Thì vưỡn”, “có bao giờ dám đơn sai”,… Đặc biệt là nhà văn cố ý thể hiện những từ ngữ dùng sai trong lúc quá hưng phấn của ông Hai. Những từ ngữ “sai sự mục đích cả” là dấu ấn ngôn ngữ của người nông dân ở thời điểm nhận thức đang chuyển biến, muốn nói cái mới nhưng từ ngữ chưa hiểu hết. Sự sinh động, chân thực, thú vị của câu chuyện phần nào cũng nhờ vào đặc điểm ngôn ngữ này.

    6. Kim Lân đã từng được đánh giá là một cây bút hàng đầu về đề tài phong tục. Trong truyện Làng, sự thông hiểu về lề thói, phong tục của làng quê được ông vận dụng hết sức khéo léo vào xây dựng tâm lí, hành động, ngôn ngữ nhân vật. Cốt truyện đơn giản, sức nặng lại dồn cả vào mạch diễn biến tâm trạng, vào lời thoại của nhân vật nên câu chuyện có sức hấp dẫn riêng, ấn tượng riêng, độc đáo. Trong số rất nhiều những nhân vật nông dân khác, người đọc khó có thể quên một ông Hai yêu làng quê, yêu đất nước, thuỷ chung với kháng chiến, với sự nghiệp chung của dân tộc. Một ông Hai thích khoe làng, một ông Hai sốt sắng nghe tin tức chính trị, một ông Hai tủi nhục, đau đớn khi nghe tin làng mình theo giặc, một ông Hai vui mừng như trẻ thơ khi biết tin làng mình không theo giặc,… Ai đó đã một lần thấy nhà văn Kim Lân, nghe ông nói chuyện còn thú vị hơn nữa: hình nh­ ta gặp ông đâu đó trong Làng rồi thì phải.

    II. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG

    Khi đọc truyện, cần chú ý nghệ thuật xây dựng tình huống tâm lí, miêu tả sinh động diễn biến tâm trạng, ngôn ngữ của nhân vật để cảm nhận được tình yêu làng quê thắm thiết thống nhất với lòng yêu nước và tinh thần kháng chiến của ông Hai trong truyện.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Văn 9: Tổng Kết Về Từ Vựng (Tiếp Theo)
  • Soạn Bài Tổng Kết Về Từ Vựng (Tiếp Theo) (Chi Tiết)
  • Bài Soạn Lớp 9: Tổng Kết Từ Vựng (Tiếp Theo)
  • Soạn Bài Tổng Kết Về Từ Vựng (Tiếp Theo)
  • Soạn Bài: Hoàng Lê Nhất Thống Chí (Hồi Thứ Mười Bốn) Trong Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 9
  • Soạn Văn 9 Bài Làng Vnen

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Luật Thơ Tiếp Theo
  • Giải Bài Tập Lịch Sử Lớp 6 Bài 13: Đời Sống Vật Chất Và Tinh Thần Của Cư Dân Văn Lang
  • Giải Lịch Sử 6 Bài 13: Đời Sống Vật Chất Và Đời Sống Tinh Thần Cư Dân Văn Lang
  • Trả Lời Câu Hỏi Bài 17 Sgk Lịch Sử 6
  • Giải Bài Tập Lịch Sử Lớp 6 Bài 17: Cuộc Khởi Nghĩa Hai Bà Trưng (Năm 40)
  • A. Hoạt động khởi động

    (Học sinh tự nghiên cứu)

    B. Hoạt động hình thành kiến thức

    1. Đọc văn bản “Làng”

    2. Tìm hiểu văn bản

    a) Kim Lân đã đặt nhân vật vào một tình huống truyện như thế nào? Việc tạo tình huống truyện nhằm mục đích gì?

    Trong truyện ngắn “Làng”, nhà văn Kim Lân đã đẩy nhân vật vào một tình huống truyện đầy bất ngờ, éo le và gay gắt: ông Hai là một người rất yêu và tự hào về làng chợ Dầu của mình. Ấy vậy mà ông lại nghe được cái tin làng chợ Dầu của ông theo giặc, lập tề từ miệng của những người dân tản cư.

    Tình huống truyện đầy gay cấn này giúp tạo nên một nút thắt cho câu chuyện. Qua đó tạo điều kiện để diễn biến tâm lí gay gắt, những mâu thuẫn giằng xé trong nhân vật ông Hai, làm bộc lộ sâu sắc tình cảm yêu làng, yêu nước ở ông.

    b. Hoàn thành bảng sau (vào vở) để thấy được diễn biến tâm trạng và hành động của nhân vật ông Hai từ lúc nghe tin làng mình theo giặc đến lúc kết thúc truyện

    Trước khi nghe tin xấu về làng

    Ông lão nhớ làng da diết, muốn trở về làng, cùng anh em trong làng tham gia kháng chiến.

    Ông mong trời nắng cho Tây nó chết.

    Ông luôn quan tâm đến tình hình chiến sự, đến các tin chiến thắng của quân ta.

    Ông Hai lúc này đang trong tâm trạng vô cùng vui sướng, náo nức, vui mừng và tự hào trước thành quả cách mạng của quân ta: “ruột gan ông lão cứ múa cả lên, vui quá”.

    Khi nghe tin làng theo Tây

    Ban đầu

    Những ngày sau đó

    Khi nói chuyện với con

    Khi trấn tĩnh lại được phần nào, ông còn cố chưa tin cái tin ấy. Nhưng rồi những người tản cư đã kể rảnh rọt quá, lại khẳng định họ “vừa ở dưới ấy lên” làm ông không thể không tin.

    Nghe tiếng chửi bọn Việt gian, ông “cúi gằm mặt mà đi”.

    Về đến nhà ông nằm vật ra giường rồi tủi thân nhìn lũ con “nước mắt ông lão cứ giàn ra”

    Liệu có thật không hả bác, hay chỉ lại…

    Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ dúng hắt hủi đấy ư…”.

    Ông Hai sững sờ, bàng hoàng, xấu hổ, uất ức: “Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi tưởng như không thở được”.

    Đau đớn, tủi hổ vì cái tin ấy

    Suốt mấy ngày ông không dám ló mặt ra ngoài. Lúc nào cũng nơm nớp lo sợ. Ông chỉ quanh quẩn ở nhà và nghe ngóng tình hình bên ngoài. “Một đám đông túm lại, ông cũng để ý, dăm bảy tiếng cười nói xa xa, ông cũng chột dạ. Lúc nào ông cũng nơm nớp tưởng như người ta đang để ý, người ta đang bàn tán đến “cái chuyện ấy”. Thoáng nghe những tiếng Tây, Việt gian, cam – nhông… là ông lủi ra một nhà, nín thít. Thôi lại chuyện ấy rồi!”

    Ông băn khoăn không biết có nên tin hay không vì ở làng ông ” họ toàn là những người có tinh thần cả mà …”. Song chứng cứ như vậy thì sai làm sao được nên ông phải tin.

    Mụ chủ nhà biết chuyện và có ý đuổi khéo gia đình ông đi

    Ông thoáng có ý nghĩ quay về làng nhưng ngay lập tức ông đã gạt phắt ý nghĩ đấy đi.

    “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”

    Nỗi ám ảnh nặng nề biến thành sự sợ hãi thường xuyên trong ông Hai cũng với nỗi đau xót, tủi hổ của ông trước cái tin làng mình theo giặc.

    Ông bế tắc và tuyệt vọng khi nghĩ về tương lai của mình và gia đình.

    Trong lúc đau khổ, tuyệt vọng, ông chỉ còn biết trút nỗi lòng của mình vào những lời thủ thỉ tâm sự với đứa con nhỏ ngây thơ.

    Thế nhà con ở đâu?

    Thế con có thích về làng chợ Dầu không?

    Trong tâm trạng đầy đau khổ và bế tắc, những lời trò chuyện giúp ông vợi bớt đi nỗi dằn vặt về quyết định của mình.

    Ông “bô bô” khoe với mọi người về cái tin làng ông bị “đốt nhẵn”, nhà ông bị “đốt nhẵn”.

    Tây nó đốt nhà tôi rồi ông chủ ạ. Đốt nhẵn. Ông chủ tịch làng em vừa lên cải chính…cải chính cái tin làng Chợ Dầu em Việt gian ấy mà. Láo! Láo hết, chẳng có gì sất. Toàn sai sự mục đích cả!

    Vui mừng, phấn khỏi và hạnh phúc tột cùng.

    c) Em hãy đọc lại đoạn ông hai trò chuyện với đứa con út từ “Ông lão ôm thằng con út lên lòng” đến “cũng vợi đi được đôi phần” và tìm những chi tiết thể hiện xung đột nội tâm của nhân vật ông Hai. Qua cách ông Hai suy nghĩ về tình yêu làng quê và lòng yêu nước, em có nhận xét gì về người nông dân này?

    Những chi tiết thể hiện xung đột nội tâm của nhân vật ông Hai:

    • “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”
    • “Mấy hôm nay ru rú ở xó nhà, những lúc buồn khổ quá chẳng biết nói cùng ai, ông lại thủ thỉ với con như vậy. Ông nói như để ngỏ lòng mình, như để mình lại minh oan cho mình nữa.”

    Qua cách ông Hai suy nghĩ về tình yêu làng quê và lòng yêu nước, ta có thể thấy trong người nông dân này đã mang một nét đẹp mang tinh thần thời đại. Tình yêu làng quê, quê hương được mở rộng và thống nhất với tình yêu đất nước, yêu kháng chiến, trung thành với cách mạng, với cụ Hồ. Đây là một nét mới trong nhận thức và tình cảm của quần chúng cách mạng lúc bấy giờ. Có thể nói, nhân vật ông Hai là hình ảnh tiêu biểu cho người nông dân trong thời kì kháng chiến chống Pháp.

    A: Cái hay của truyện được tạo nên từ việc tạo dựng tình huống truyện đặc sắc.

    B: Cách miêu tả tâm lí nhân vật mới là thành công của truyện.

    Em có đồng ý với ý kiến của bạn không? Lí giải ý kiến của em.

    3. Đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm trong văn bản tự sự

    Đọc đoạn trích và trả lời câu hỏi

    a) Trong ba câu đầu đoạn trích, ai nói với ai? Tham gia câu chuyện có ít nhất mấy người? Dấu hiệu nào cho ta thấy đó là một cuộc trò chuyện qua lại?

    Trong ba câu đầu đoạn trích là hai người phụ nữ tản cư nói chuyện với nhau.

    Tham gia câu chuyện có ít nhất 2 người.

    Những dấu hiệu nào cho ta thấy đó là một cuộc trò chuyện qua lại:

    Ở mỗi lượt lời (trao và đáp) đều được đánh dấu gạch đầu dòng.

    Có hai lượt lời qua lại, hỏi và đáp, nội dung trong câu nói của mỗi người đều hướng tới người tiếp chuyện.

    b) Câu “Hà, nắng gớm, về nào…” ông Hai nói với ai? Đây có phải là một câu đối thoại không? Vì sao? Trong đoạn trích còn có câu nào kiểu này không? Em hãy tìm dẫn chứng?

    Câu “Hà, nắng gớm, về nào…” ông Hai tự nói với chính mình.

    Trong đoạn trích này còn có câu độc thoại tương tự: “Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này!”.

    c) Các hình thức diễn đạt trên có tác dụng như thế nào trong việc kể lại diễn biến của câu chuyện và thái độ của những người tản cư trong buổi trưa ông Hai gặp lại họ? Đặc biệt chúng đã giúp nhà văn thể hiện thành công những biểu hiện tâm lí của nhân vật ông Hai như thế nào?

    C. Hoạt động luyện tập

    1. Luyện tập đọc hiểu truyện ngắn “Làng”

    Chọn phân tích một đoạn miêu tả tâm lí nhân vật ông Hai trong truyện. Trong đoạn văn ấy, tác giả đã sử dụng những biện pháp nào để miêu tả tâm lí nhân vật?

    Đoạn văn miêu tả tâm trạng ông Hai khi nghe tin làng theo giặc:

    “Ông Hai cúi gằm xuống mà đi. Ông thoáng nghĩ đến mụ chủ nhà. Về đến nhà, ông Hai nằm vật ra giường, mấy đứa trẻ thấy bố hôm nay có vẻ khác, len lét đưa nhau ra đầu nhà chơi sậm chơi sụi với nhau. Nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông lão cứ giàn ra. Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu…Ông lão nắm chặt hai tay lại mà rít lên:

    – Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này.”

    Trong đoạn văn trên, tác giả đã sử dụng biện pháp độc thoại nội tâm để nhân vật ông Hai chất vất chính mình, diễn tả những day dứt, xót xa, tủi nhục của nhân vật. Ông cảm thấy xấu hổ, niềm tin như bị đổ vỡ, ngôi làng mà ông coi là niềm tự hào nay lại bán nước theo giặc. Ông nhìn sang lũ con mà tủi thân, trào nước mắt. Qua đoạn trích, tác giả đã thể hiện sâu sắc tâm trạng của nhân vật, sự bất ngờ khi nghe tin làng theo giặc. Sự kiện này đã có tác động rất lớn đến suy nghĩ và tình cảm của ông Hai.

    2. Chương trình địa phương

    Tìm hiểu về phương ngữ

    a) Chỉ ra những từ ngữ địa phương có trong đoạn trích. Những từ ngữ đó thuộc phương ngữ nào?

    Bài làm:

    c) Việc sử dụng từ ngữ địa phương trong đoạn trích có tác dụng gì?

    Việc sử dụng từ ngữ địa phương trong đoạn trích ” Mẹ Suốt” phát huy tác dụng nhằm khắc họa rõ nét những đặc trưng có tính chất địa phương của nhân vật. Do đó làm cho hình ảnh mẹ Suốt càng chân thực, sinh động.

    d) Hãy tìm một số phương ngữ mà em biết.

    Các phương ngữ chính trong Tiếng Việt:

    • Phương ngữ bắc (Bắc Bộ): này, thế, thế ấy, đâu, chúng tao,…
    • Phương ngữ trung (Bắc Trung Bộ): ni, nì, này, ứa, rứa tề, rứa đó, mô, choa, bọn choa , tụi tau,…
    • Phương ngữ nam (Nam Trung Bộ và Nam Bộ): nầy, vậy, vậy đó, đâu, tụi tao,…

    3. Luyện tập về đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm trong văn bản tự sự.

    Mãi khuya, bà Hai mới chống gối đứng dậy. Bà lẳng lặng xuống bếp châm lửa ngồi tính tiền hàng. Vẫn những tiền cua, tiền bún, tiền đỗ, tiền kẹo,… Vẫn cái giọng rì rầm, rì rầm thường ngày.

    – Này, thầy nó ạ.

    Ông Hai nằm rũ ra ở trên giường không nói gì.

    – Thầy nó ngủ rồi à?

    – Gì?

    Ông lão khẽ nhúc nhích.

    – Tôi thấy người ta đồn…

    Ông lão gắt lên:

    – Biết rồi!

    Bà Hai nín bặt. Gian nhà lặng đi hiu hắt…

    (Kim Lân, Làng)

    4. Luyện nói Tự sự kết hợp với nghị luận và miêu tả nội tâm

    – Tâm trạng của em sau khi để xảy ra một chuyện có lỗi đối với người thân của mình.

    – Kể lại buổi sinh hoạt lớp, ở đó em đã phát biểu ý kiến để chứng minh Nam là một ngươi bạn rất tốt.

    – Dựa vào nội dung truyện ngắn Làng, hãy đóng vai ông hai kể lại câu chuyện khi nghe tin làng theo Tây và bày tỏ thái độ của ông với làng quê, đất nước và cuộc kháng chiến.

    – Sử dụng các yếu tố nghị luận, miêu tả nội tâm, các hình thức đối thoại, độc thoại.

    – Không viết thành bài văn, chỉ nêu ra các ý chính mà em sẽ trình bày

    – Luyện tập nói ở nhà, hình dung trước: mở đầu nên nói gì, sau đó lần lượt nói về các nội dung gì và kết thúc như thế nào?

    Đề 1:

    A. Mở bài: (dạng nêu kết quả trước)

    • Giới thiệu hoàn cảnh sau khi xảy ra chuyện kết hợp tả chút về cảnh(hè oi ả/ đông lành lạnh/ những cơn gió lướt qua…; cỏ cây hoa lá, cảnh vật…)
    • Nêu một chút về tâm trạng ở phần mở đầu sẽ ấn tượng hơn (tôi buồn, ân hận, day dứt…)
    • Nêu sự việc có lỗi với người thân của mình ( tại sao tôi có thể…; nói lên là người thân thế nào, tốt ra sao… để nêu bật sự hối hận)…
    • Giới thệu hoàn cảnh xảy ra chuyện có lỗi với người thân mình(lúc ấy làm sao, giới thiệu như trên nhưng hai phần phải có sự khác biệt trong cả cách tả, kể cũng như tính chất của hoàn cảnh.
    • Diễn biến của câu chuyện (tại sao lại như thế, dần dần kể lại câu chuyện đó với thái độ ân hận, buồn…)
    • Kết quả là người ấy giận hay im lặng (nên chọn im lặng để bộc lộ nội tâm), bản thân bạn đã xử sự ntn…
    • Bộc lộ nội tâm xen trong phần kể chuyện (thái độ ân hận…)

    C. Kết bài: Nêu ra (khẳng định lại) là bạn ân hận ra sao, kết quả là bây giờ tình bạn đó ra sao, điều đó để lại cho bạn suy nghĩ thế nào về người thân, về bản thân, kinh nghiêm, bài học rút ra…

    Đề 2:

    A. Mở bài: Giới thiệu buổi sinh hoạt lớp sẽ kể

    B. Thân bài: Kể lại diễn biến buổi sinh hoạt

    Không khí buổi sinh hoạt

    Nội dung sinh hoạt

    • Cô giáo chủ nhiệm sơ kết hoạt động tuần qua, phổ biến kế hoạch tuần tới và kiện toàn lại tổ chức lớp, Nam được cô giáo cử làm lớp trưởng.
    • Ý kiến phát biểu: có ý kiến cho rằng Nam không tốt :ích kỉ, trầm lặng…
    • Ý kiến phát biểu của em về bạn Nam: dùng lí lẽ,dẫn chứng khẳng định, thuyết phục mọi người Nam là người tốt.

    Thái độ và suy nghĩ của các bạn sau lời phát biểu của em.

    Rút ra bài học về cách nhìn nhận, đánh giá một con người.

    D. Hoạt động vận dụng

    1. Trao đổi với bạn bè trong lớp về việc giữ gìn truyền thống dân tộc, phát huy lòng yêu nước bắt nguồn từ những điều giản dị nhất.

    (Học sinh tự thực hành tại lớp)

    Bài viết tham khảo

    Kết thúc buổi liên hoan chia tay, tôi mang trong lòng một nỗi buồn nặng trĩu. Ngày mai tôi sẽ rời xa Hà Nội để đi du học, vậy mà người bạn thân nhất của tôi là Hằng lại không đến tham dự. Đang lan man suy nghĩ, bỗng có tiếng nói của Lan cất lên từ phía sau:

    – Cậu đang suy nghĩ điều gì mà nhìn tâm trạng thế?

    Tôi quay lại nhìn Lan và trả lời:

    – Ừ, không có gì đâu.

    Tôi mở lá thư ra đọc, từng dòng chữ khiến tôi bồi hồi xúc động. Hằng vẫn nhớ tất cả những kỉ niệm giữa chúng tôi ư? Dù bận chăm sóc mẹ ốm nhưng Hằng vẫn rất chu đáo, phải chăm tôi đã trách lầm Hằng? Lúc này tự dưng trong lòng tôi dâng lên một niềm cảm xúc khó tả. Không thể kìm nén nổi lòng mình, tôi thốt lên:

    – Hằng ơi! Cậu mãi là người bạn tốt của tớ trong cuộc đời này.

    E. Hoạt động tìm tòi mở rộng

    1. Sưu tầm và giới thiệu với các bạn trong lớp 1-2 truyện ngắn hoặc bài thơ viết về tình cảm quê hương, đất nước.

    2. Sưu tầm và trao đổi với cha mẹ, những người lớn tuổi trong gia đình về một số phương ngữ nơi em sinh sống.

    ( Học sinh tự nghiên cứu)

    Những bài thơ viết về tình cảm quê hương, đất nước:

    ……………………………………………………………..

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Lặng Lẽ Sa Pa Văn 9 Trang 180 (Ngắn Gọn Nhất): Trong Câu Chuyện Là Bức Chân Dung Của Ai?
  • Bài 9. Lục Vân Tiên Gặp Nạn
  • Giải Vbt Sinh Học 6 Bài 31: Thụ Tinh Kết Quả Và Tạo Hóa
  • Giải Vbt Ngữ Văn 6 Lượm (Tố Hữu)
  • Top 3 Soạn Bài Lượm Ngắn Nhất.
  • Soạn Bài Làng Ngữ Văn 9 Siêu Ngắn

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Làng Ngữ Văn 9 Đầy Đủ
  • Soạn Bài Thuật Ngữ Đầy Đủ Nhất
  • Soạn Bài: Các Phương Châm Hội Thoại
  • Soạn Bài: Viết Bài Tập Làm Văn Số 1
  • Soạn Văn 9: Viết Bài Tập Làm Văn Số 3
  • Truyện “Làng” đã xây dựng được môt tình huống truyện độc đáo làm bộc lộ sâu sắc tình yêu làng quê, tình yêu đất nước của nhân vật ông Hai. Đó là tình huống: Ông Hai nghe tin làng Chợ Dầu quê mình theo giặc đúng lúc đnag nghe được tin quân ta thắng trận.

    Diễn biến tâm trạng và hành động của nhân vật ông Hai từ lúc nghe tin làng mình theo giặc đến kết thúc truyện:

    – Khi nghe tin đột ngột làng chợ Dầu theo giặc: “cổ họng ông lão nghẹn ắng lại, da tê rân rân, ông lão lặng đi, tưởng như không thở được, một lúc sau ông mới hỏi lại giọng lạc hẳn đi nhưng ông chưa tin, đến khi những người tản cư kể rành rọt quá, ông không thể không tin”

    Khi về nhà: “mặt cúi gằm xuống đất, về đến nhà ông vật ra gường, nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông lão tràn ra, đau đớn rít lên, nguyền rủa bọn phản bội”; suốt ngày ở trong nhà, chẳng chịu đi đâu, chỉ quanh quẩn để nghe ngóng tình hình bên ngoài, có đám đông xúm lại ông cũng để ý, dăm bảy tiếng cười nói xa xa ông cũng chột dạ, lúc nào ông cũng nơm nớp tưởng người ta đang để ý mình.

    Khi đi nghe tin cái chính làng chợ Dầu không theo giặc: ông Hai “bỗng tươi vui rạng rỡ hẳn lên”. Ông mua bánh chia cho các con, lại đi khắp nơi khóc về làng ông như xưa nhưng bây giờ, trong câu chuyện của ông có thêm cái tin Tây đốt làng ông, đốt cả nhà ông nữa.

    – Ông nói chuyện với đứa con của mình như vậy là bởi vì không biết phải tự giãi bày, tự minh phân trần lòng mình với ai nên ông nói chuyện với đứa con nhỏ.

    – Qua lời trò chuyện của ông Hai với con:

    + Ông Hai rất yêu làng của mình (Việc nhắc con nhớ về làng mình) nhưng là làng Chợ Dầu trước đây, làng kháng chiến.

    + Ông Hai cũng rất yêu đất nước, lòng chung thành một lòng với kháng chiến, với cách mang, với Bác Hồ.

    Nhận xét về nghệ thuật miêu tả tâm lý và ngôn ngữ nhân vật ông Hai:

    – Nghệ thuật miêu tả cụ thể gợi cảm các diễn biến nội tâm qua ý nghĩ, hành vi, ngôn ngữ, đặc biệt tác giả diễn tả rất đúng và gây ấn tượng mạnh mẽ về sự ám ảnh, day dứt trong tâm trạng nhân vật.

    – Đặt nhân vật vào tình huống thử thách bên trong đề bộc lộ chiều sâu tâm trạng.

    – Có thể chọn những đoạn tả ông Hai vừa nghe tin làng mình theo giặc, đoạn ông Hai ở lì trong buồng vừa lo lắng vừa đau đớn, buồn tủi.

    – Đoạn ông Hai trò chuyện với thằng con út.

    – Những bài ca dao về tình cảm quê hương, bài thơ Nhớ con sông quê hương (Tế Hanh), những đoạn trích trong hồi kí tự truyện Tuổi thơ im lặng (Duy Khánh)…

    – Tình yêu làng ở ông Hai trở thành niềm say mê, hãnh diện, thành thói quen khoe làng mình.

    – Tình yêu làng phải đặt trong tình yêu nước., thống nhất với tinh thần kháng chiến khi đất nước đang bị xâm lược và cả dân tộc đang tiến hành cuộc kháng chiến.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài: Làng (Siêu Ngắn)
  • Soạn Bài Làng Môn Ngữ Văn Lớp 9 Trang 162 Siêu Ngắn: Truyện Ngắn Xây Dựng Được Một Tình Huống Truyện Gì Làm Bộc Lộ Sâu Sắc Tình Yêu Làng Quê Và Lòng Yêu Nước Ở Nhân Vật Ông Hai?
  • Hướng Dẫn Soạn Văn Làng Của Kim Lân
  • Soạn Bài Làng Của Kim Lân
  • Tóm Tắt Truyện Ngắn Làng Của Kim Lân
  • Soạn Văn 9 Vnen Bài 13: Làng

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Làng (Trích) Sbt Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Tóm Tắt Truyện Ngắn Làng Của Kim Lân
  • Soạn Bài Làng Của Kim Lân
  • Hướng Dẫn Soạn Văn Làng Của Kim Lân
  • Soạn Bài Làng Môn Ngữ Văn Lớp 9 Trang 162 Siêu Ngắn: Truyện Ngắn Xây Dựng Được Một Tình Huống Truyện Gì Làm Bộc Lộ Sâu Sắc Tình Yêu Làng Quê Và Lòng Yêu Nước Ở Nhân Vật Ông Hai?
  • Soạn văn 9 VNEN Bài 13: Làng

    A. Hoạt động khởi động

    (Học sinh tự nghiên cứu)

    B. Hoạt động hình thành kiến thức

    a) Kim Lân đã đặt nhân vật vào một tình huống truyện như thế nào? Việc tạo tình huống truyện nhằm mục đích gì?

    Trong truyện ngắn “Làng”, nhà văn Kim Lân đã đẩy nhân vật vào một tình huống truyện đầy bất ngờ, éo le và gay gắt: ông Hai là một người rất yêu và tự hào về làng chợ Dầu của mình. Ấy vậy mà ông lại nghe được cái tin làng chợ Dầu của ông theo giặc, lập tề từ miệng của những người dân tản cư.

    Tình huống truyện đầy gay cấn này giúp tạo nên một nút thắt cho câu chuyện. Qua đó tạo điều kiện để diễn biến tâm lí gay gắt, những mâu thuẫn giằng xé trong nhân vật ông Hai, làm bộc lộ sâu sắc tình cảm yêu làng, yêu nước ở ông.

    b. Hoàn thành bảng sau (vào vở) để thấy được diễn biến tâm trạng và hành động của nhân vật ông Hai từ lúc nghe tin làng mình theo giặc đến lúc kết thúc truyện

    Trước khi nghe tin xấu về làng

    Ông lão nhớ làng da diết, muốn trở về làng, cùng anh em trong làng tham gia kháng chiến.

    Ông Hai lúc này đang trong tâm trạng vô cùng vui sướng, náo nức, vui mừng và tự hào trước thành quả cách mạng của quân ta: “ruột gan ông lão cứ múa cả lên, vui quá”.

    Ông mong trời nắng cho Tây nó chết.

    Ông luôn quan tâm đến tình hình chiến sự, đến các tin chiến thắng của quân ta.

    Khi nghe tin làng theo Tây

    Khi trấn tĩnh lại được phần nào, ông còn cố chưa tin cái tin ấy. Nhưng rồi những người tản cư đã kể rảnh rọt quá, lại khẳng định họ “vừa ở dưới ấy lên” làm ông không thể không tin.

    Liệu có thật không hả bác, hay chỉ lại…

    Ông Hai sững sờ, bàng hoàng, xấu hổ, uất ức: “Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi tưởng như không thở được”.

    Đau đớn, tủi hổ vì cái tin ấy

    Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ dúng hắt hủi đấy ư…”.

    Nghe tiếng chửi bọn Việt gian, ông “cúi gằm mặt mà đi”.

    Về đến nhà ông nằm vật ra giường rồi tủi thân nhìn lũ con “nước mắt ông lão cứ giàn ra”

    Ban đầu

    Những ngày sau đó

    Khi nói chuyện với con

    Suốt mấy ngày ông không dám ló mặt ra ngoài. Lúc nào cũng nơm nớp lo sợ. Ông chỉ quanh quẩn ở nhà và nghe ngóng tình hình bên ngoài. “Một đám đông túm lại, ông cũng để ý, dăm bảy tiếng cười nói xa xa, ông cũng chột dạ. Lúc nào ông cũng nơm nớp tưởng như người ta đang để ý, người ta đang bàn tán đến “cái chuyện ấy”. Thoáng nghe những tiếng Tây, Việt gian, cam – nhông… là ông lủi ra một nhà, nín thít. Thôi lại chuyện ấy rồi!”

    “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”

    Nỗi ám ảnh nặng nề biến thành sự sợ hãi thường xuyên trong ông Hai cũng với nỗi đau xót, tủi hổ của ông trước cái tin làng mình theo giặc.

    Ông bế tắc và tuyệt vọng khi nghĩ về tương lai của mình và gia đình.

    Ông băn khoăn không biết có nên tin hay không vì ở làng ông ” họ toàn là những người có tinh thần cả mà …”. Song chứng cứ như vậy thì sai làm sao được nên ông phải tin.

    Mụ chủ nhà biết chuyện và có ý đuổi khéo gia đình ông đi

    Ông thoáng có ý nghĩ quay về làng nhưng ngay lập tức ông đã gạt phắt ý nghĩ đấy đi.

    Trong lúc đau khổ, tuyệt vọng, ông chỉ còn biết trút nỗi lòng của mình vào những lời thủ thỉ tâm sự với đứa con nhỏ ngây thơ.

    Trong tâm trạng đầy đau khổ và bế tắc, những lời trò chuyện giúp ông vợi bớt đi nỗi dằn vặt về quyết định của mình.

    Thế nhà con ở đâu?

    Thế con có thích về làng chợ Dầu không?

    Ông “bô bô” khoe với mọi người về cái tin làng ông bị “đốt nhẵn”, nhà ông bị “đốt nhẵn”.

    Tây nó đốt nhà tôi rồi ông chủ ạ. Đốt nhẵn. Ông chủ tịch làng em vừa lên cải chính…cải chính cái tin làng Chợ Dầu em Việt gian ấy mà. Láo! Láo hết, chẳng có gì sất. Toàn sai sự mục đích cả!

    Vui mừng, phấn khỏi và hạnh phúc tột cùng.

    c) Em hãy đọc lại đoạn ông hai trò chuyện với đứa con út từ “Ông lão ôm thằng con út lên lòng” đến “cũng vợi đi được đôi phần” và tìm những chi tiết thể hiện xung đột nội tâm của nhân vật ông Hai. Qua cách ông Hai suy nghĩ về tình yêu làng quê và lòng yêu nước, em có nhận xét gì về người nông dân này?

    Những chi tiết thể hiện xung đột nội tâm của nhân vật ông Hai:

    – “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”

    – “Mấy hôm nay ru rú ở xó nhà, những lúc buồn khổ quá chẳng biết nói cùng ai, ông lại thủ thỉ với con như vậy. Ông nói như để ngỏ lòng mình, như để mình lại minh oan cho mình nữa.”

    – …

    Qua cách ông Hai suy nghĩ về tình yêu làng quê và lòng yêu nước, ta có thể thấy trong người nông dân này đã mang một nét đẹp mang tinh thần thời đại. Tình yêu làng quê, quê hương được mở rộng và thống nhất với tình yêu đất nước, yêu kháng chiến, trung thành với cách mạng, với cụ Hồ. Đây là một nét mới trong nhận thức và tình cảm của quần chúng cách mạng lúc bấy giờ. Có thể nói, nhân vật ông Hai là hình ảnh tiêu biểu cho người nông dân trong thời kì kháng chiến chống Pháp.

    A: Cái hay của truyện được tạo nên từ việc tạo dựng tình huống truyện đặc sắc.

    B: Cách miêu tả tâm lí nhân vật mới là thành công của truyện.

    Em có đồng ý với ý kiến của bạn không? Lí giải ý kiến của em.

    3. Đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm trong văn bản tự sự

    Đọc đoạn trích và trả lời câu hỏi

    a) Trong ba câu đầu đoạn trích, ai nói với ai? Tham gia câu chuyện có ít nhất mấy người? Dấu hiệu nào cho ta thấy đó là một cuộc trò chuyện qua lại?

    Trong ba câu đầu đoạn trích là hai người phụ nữ tản cư nói chuyện với nhau.

    Tham gia câu chuyện có ít nhất 2 người.

    Những dấu hiệu nào cho ta thấy đó là một cuộc trò chuyện qua lại:

    Ở mỗi lượt lời (trao và đáp) đều được đánh dấu gạch đầu dòng.

    Có hai lượt lời qua lại, hỏi và đáp, nội dung trong câu nói của mỗi người đều hướng tới người tiếp chuyện.

    b) Câu “Hà, nắng gớm, về nào…” ông Hai nói với ai? Đây có phải là một câu đối thoại không? Vì sao? Trong đoạn trích còn có câu nào kiểu này không? Em hãy tìm dẫn chứng?

    Câu “Hà, nắng gớm, về nào…” ông Hai tự nói với chính mình.

    Trong đoạn trích này còn có câu độc thoại tương tự: “Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này!”.

    c) Các hình thức diễn đạt trên có tác dụng như thế nào trong việc kể lại diễn biến của câu chuyện và thái độ của những người tản cư trong buổi trưa ông Hai gặp lại họ? Đặc biệt chúng đã giúp nhà văn thể hiện thành công những biểu hiện tâm lí của nhân vật ông Hai như thế nào?

    C. Hoạt động luyện tập

    1. Luyện tập đọc hiểu truyện ngắn “Làng”

    Chọn phân tích một đoạn miêu tả tâm lí nhân vật ông Hai trong truyện. Trong đoạn văn ấy, tác giả đã sử dụng những biện pháp nào để miêu tả tâm lí nhân vật?

    Đoạn văn miêu tả tâm trạng ông Hai khi nghe tin làng theo giặc:

    “Ông Hai cúi gằm xuống mà đi. Ông thoáng nghĩ đến mụ chủ nhà. Về đến nhà, ông Hai nằm vật ra giường, mấy đứa trẻ thấy bố hôm nay có vẻ khác, len lét đưa nhau ra đầu nhà chơi sậm chơi sụi với nhau. Nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông lão cứ giàn ra. Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu…Ông lão nắm chặt hai tay lại mà rít lên:

    – Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này.”

    Trong đoạn văn trên, tác giả đã sử dụng biện pháp độc thoại nội tâm để nhân vật ông Hai chất vất chính mình, diễn tả những day dứt, xót xa, tủi nhục của nhân vật. Ông cảm thấy xấu hổ, niềm tin như bị đổ vỡ, ngôi làng mà ông coi là niềm tự hào nay lại bán nước theo giặc. Ông nhìn sang lũ con mà tủi thân, trào nước mắt. Qua đoạn trích, tác giả đã thể hiện sâu sắc tâm trạng của nhân vật, sự bất ngờ khi nghe tin làng theo giặc. Sự kiện này đã có tác động rất lớn đến suy nghĩ và tình cảm của ông Hai.

    2. Chương trình địa phương

    Tìm hiểu về phương ngữ

    a) Chỉ ra những từ ngữ địa phương có trong đoạn trích. Những từ ngữ đó thuộc phương ngữ nào?

    + Mẹ/Mạ/Má

    + Bố/Bọ/Ba, tía

    c) Việc sử dụng từ ngữ địa phương trong đoạn trích có tác dụng gì?

    Việc sử dụng từ ngữ địa phương trong đoạn trích ” Mẹ Suốt” phát huy tác dụng nhằm khắc họa rõ nét những đặc trưng có tính chất địa phương của nhân vật. Do đó làm cho hình ảnh mẹ Suốt càng chân thực, sinh động.

    d) Hãy tìm một số phương ngữ mà em biết.

    Các phương ngữ chính trong Tiếng Việt:

    – Phương ngữ bắc (Bắc Bộ): này, thế, thế ấy, đâu, chúng tao,…

    – Phương ngữ trung (Bắc Trung Bộ): ni, nì, này, ứa, rứa tề, rứa đó, mô, choa, bọn choa , tụi tau,…

    – Phương ngữ nam (Nam Trung Bộ và Nam Bộ): nầy, vậy, vậy đó, đâu, tụi tao,…

    Mãi khuya, bà Hai mới chống gối đứng dậy. Bà lẳng lặng xuống bếp châm lửa ngồi tính tiền hàng. Vẫn những tiền cua, tiền bún, tiền đỗ, tiền kẹo,… Vẫn cái giọng rì rầm, rì rầm thường ngày.

    – Này, thầy nó ạ.

    Ông Hai nằm rũ ra ở trên giường không nói gì.

    – Thầy nó ngủ rồi à?

    – Gì?

    Ông lão khẽ nhúc nhích.

    – Tôi thấy người ta đồn…

    Ông lão gắt lên:

    – Biết rồi!

    Bà Hai nín bặt. Gian nhà lặng đi hiu hắt…

    (Kim Lân, Làng) 4. Luyện nói Tự sự kết hợp với nghị luận và miêu tả nội tâm

    – Tâm trạng của em sau khi để xảy ra một chuyện có lỗi đối với người thân của mình.

    – Kể lại buổi sinh hoạt lớp, ở đó em đã phát biểu ý kiến để chứng minh Nam là một ngươi bạn rất tốt.

    – Dựa vào nội dung truyện ngắn Làng, hãy đóng vai ông hai kể lại câu chuyện khi nghe tin làng theo Tây và bày tỏ thái độ của ông với làng quê, đất nước và cuộc kháng chiến.

    Lưu ý:

    – Sử dụng các yếu tố nghị luận, miêu tả nội tâm, các hình thức đối thoại, độc thoại.

    – Không viết thành bài văn, chỉ nêu ra các ý chính mà em sẽ trình bày

    – Luyện tập nói ở nhà, hình dung trước: mở đầu nên nói gì, sau đó lần lượt nói về các nội dung gì và kết thúc như thế nào?

    Đề 1:

    A. Mở bài: (dạng nêu kết quả trước)

    – Giới thiệu hoàn cảnh sau khi xảy ra chuyện kết hợp tả chút về cảnh(hè oi ả/ đông lành lạnh/ những cơn gió lướt qua…; cỏ cây hoa lá, cảnh vật…)

    – Nêu một chút về tâm trạng ở phần mở đầu sẽ ấn tượng hơn (tôi buồn, ân hận, day dứt…)

    – Nêu sự việc có lỗi với người thân của mình ( tại sao tôi có thể…; nói lên là người thân thế nào, tốt ra sao… để nêu bật sự hối hận)…

    B. Thân bài:

    – Giới thệu hoàn cảnh xảy ra chuyện có lỗi với người thân mình(lúc ấy làm sao, giới thiệu như trên nhưng hai phần phải có sự khác biệt trong cả cách tả, kể cũng như tính chất của hoàn cảnh.

    – Diễn biến của câu chuyện (tại sao lại như thế, dần dần kể lại câu chuyện đó với thái độ ân hận, buồn…)

    – Kết quả là người ấy giận hay im lặng (nên chọn im lặng để bộc lộ nội tâm), bản thân bạn đã xử sự ntn…

    – Bộc lộ nội tâm xen trong phần kể chuyện (thái độ ân hận…)

    C. Kết bài: Nêu ra (khẳng định lại) là bạn ân hận ra sao, kết quả là bây giờ tình bạn đó ra sao, điều đó để lại cho bạn suy nghĩ thế nào về người thân, về bản thân, kinh nghiêm, bài học rút ra…

    Đề 2:

    A. Mở bài: Giới thiệu buổi sinh hoạt lớp sẽ kể

    B. Thân bài: Kể lại diễn biến buổi sinh hoạt

    Không khí buổi sinh hoạt

    Nội dung sinh hoạt

    – Cô giáo chủ nhiệm sơ kết hoạt động tuần qua, phổ biến kế hoạch tuần tới và kiện toàn lại tổ chức lớp, Nam được cô giáo cử làm lớp trưởng.

    – Ý kiến phát biểu: có ý kiến cho rằng Nam không tốt :ích kỉ, trầm lặng…

    – Ý kiến phát biểu của em về bạn Nam: dùng lí lẽ,dẫn chứng khẳng định, thuyết phục mọi người Nam là người tốt.

    Thái độ và suy nghĩ của các bạn sau lời phát biểu của em.

    C. Kết bài

    Rút ra bài học về cách nhìn nhận, đánh giá một con người.

    D. Hoạt động vận dụng

    1. Trao đổi với bạn bè trong lớp về việc giữ gìn truyền thống dân tộc, phát huy lòng yêu nước bắt nguồn từ những điều giản dị nhất.

    (Học sinh tự thực hành tại lớp)

    Bài viết tham khảo

    Kết thúc buổi liên hoan chia tay, tôi mang trong lòng một nỗi buồn nặng trĩu. Ngày mai tôi sẽ rời xa Hà Nội để đi du học, vậy mà người bạn thân nhất của tôi là Hằng lại không đến tham dự. Đang lan man suy nghĩ, bỗng có tiếng nói của Lan cất lên từ phía sau:

    – Cậu đang suy nghĩ điều gì mà nhìn tâm trạng thế?

    Tôi quay lại nhìn Lan và trả lời:

    – Ừ, không có gì đâu.

    Tôi mở lá thư ra đọc, từng dòng chữ khiến tôi bồi hồi xúc động. Hằng vẫn nhớ tất cả những kỉ niệm giữa chúng tôi ư? Dù bận chăm sóc mẹ ốm nhưng Hằng vẫn rất chu đáo, phải chăm tôi đã trách lầm Hằng? Lúc này tự dưng trong lòng tôi dâng lên một niềm cảm xúc khó tả. Không thể kìm nén nổi lòng mình, tôi thốt lên:

    – Hằng ơi! Cậu mãi là người bạn tốt của tớ trong cuộc đời này.

    E. Hoạt động tìm tòi mở rộng

    1. Sưu tầm và giới thiệu với các bạn trong lớp 1-2 truyện ngắn hoặc bài thơ viết về tình cảm quê hương, đất nước.

    2. Sưu tầm và trao đổi với cha mẹ, những người lớn tuổi trong gia đình về một số phương ngữ nơi em sinh sống.

    ( Học sinh tự nghiên cứu)

    Những bài thơ viết về tình cảm quê hương, đất nước:

    – Việt Nam quê hương ta – Nguyễn Đình Thi

    – Quê hương – Đỗ Trung Quân

    – Đất nước – Nguyễn Khoa Điềm

    – Quê hương – Tế Hanh

    – Dáng đứng Việt Nam – Lê Anh Xuân

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài: Kiểm Tra Về Thơ Trong Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 9
  • Soạn Bài: Kiểm Tra Về Thơ Và Truyện Hiện Đại
  • Soạn Văn 9: Kiểm Tra Thơ Và Truyện Hiện Đại
  • Soạn Bài: Kiểm Tra Thơ Và Truyện Hiện Đại
  • Soạn Bài Kiểm Tra Thơ Và Truyện Hiện Đại
  • Soạn Bài: Làng – Ngữ Văn 9 Tập 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài: Lặng Lẽ Sa Pa – Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Soạn Bài: Truyện An Dương Vương Và Mị Châu – Trọng Thủy – Ngữ Văn 10 Tập 1
  • Soạn Bài: Nhàn – Nguyễn Bỉnh Khiêm – Ngữ Văn 10 Tập 1
  • Hóa Học 11: Tổng Hợp Lí Thuyết Chương Nitơ
  • Soạn Bài: Ôn Dịch, Thuốc Lá – Ngữ Văn 8 Tập 1
  • I. Tác giả, tác phẩm

    1. Tác giả (các em tham khảo phần giới thiệu tác giả Kim Lân trong SGK Ngữ văn 9 Tập 1).

    2. Tác phẩm

    * Xuất xứ: Truyện ngắn Làng được viết trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đăng lần đầu trên tạp chí Văn nghệ năm 1948.

    * Tóm tắt:

    Ông Hai là một người làng chợ Dầu, nhưng vì hoàn cảnh chiến tranh chống Pháp nên ông phải đưa gia đình đi tản cư. Sống ở ngôi làng mới, lúc nào ông cũng nhớ về làng cũ và luôn theo dõi tin tức của cách mạng. Nhưng một hôm, bất ngờ ông nghe tin đồn làng chợ Dầu của ông theo giặc, ông thấy vô cùng đau khổ. Suốt nhiều ngày liền, ông không dám đi ra ngoài vì sợ nghe thấy mọi người bàn tán về làng mình. Nỗi đau khổ ông không biết giãi bày với ai, đành tâm sự với cậu con út để vơi bớt nỗi buồn. Cho đến khi chủ tịch xã lên cải chính làng chợ Dầu không theo Tây, ông vui mừng khoe với mọi người, mua quà bánh chia cho các con, ông càng thêm yêu và tự hào về làng mình.

    * Bố cục:

    Văn bản có thể được chia làm 3 đoạn:

    • Đoạn 3: còn lại: Tâm trạng của ông Hai khi nghe tin cải chính về việc làng chợ Dầu theo giặc.

    II. Hướng dẫn soạn bài

    Câu 1:

    Truyện ngắn Làng đã xây dựng được một tình huống truyện làm bộc lộ sâu sắc tình yêu làng quê và lòng yêu nước ở nhân vật ông Hai. Tình huống truyện đó là: Ông Hai là một người dân làng chợ Dầu rất yêu và tự hào về làng mình, vì chiến tranh mà ông và gia đình phải đi tản cư, ông nghe được tin đồn làng chợ Dầu theo giặc từ những người tản cư đi qua.

    Câu 2:

    * Diễn biến tâm trạng và hành động của nhân vật ông Hai từ lúc nghe tin làng mình theo giặc đến kết thúc truyện:

    • Khi nghe được tin xấu “cổ họng ông lão nghẹn ắng lại, da tê rân rân,… ông không thể không tin”.
    • Ông đi về nhà, mặt cúi gằm xuống đất, về đến nhà ông nằm vật ra giường, nhìn lũ con mà cảm thấy tủi thân, nước mắt trào ra, ông đau đớn rít lên và nguyền rủa bọn phản quốc.
    • Những ngày sau đó, ông chỉ ở nhà, không dám đi đâu, luôn cảm thấy chột dạ khi có tiếng xì xầm ngoài đường.
    • Ông quyết định đoạn tuyệt vời làng để đi theo kháng chiến, theo cách mạng bởi “Làng thì yêu thật nhưng làng làm Việt Gian thì phải thù”.
    • Khi nghe tin cải chính làng chợ Dầu không theo giặc, ông Hai như được hồi sinh, mặt mày rạng rỡ hẳn lên, mua quà bánh chia cho các con, đi khoe với mọi người.

    * Ông Hai cảm thấy đau đớn, tủi hổ khi nghe tin làng chợ Dầu theo giặc cũng bởi vì ông yêu làng của ông như đứa con yêu mẹ của mình, tự hào và tôn thờ mẹ. Chính vì thế, ông càng yêu, càng tin tưởng, càng hãng diện bao nhiêu thì lại càng đau đớn, tủi hổ bấy nhiêu.

    * Tâm trạng của ông Hai được biểu hiện: ăn không ngon, ngủ không yên, lúc nào cũng bất ổn trong nỗi tủi nhục ê chề, thậm chí ông còn tuyệt giao với tất cả mọi người, không dám bước chân ra ngoài vì xấu hổ.

    Câu 3:

    * Đoạn văn ông Hai trò chuyện với đứa con út thực chất là đoạn ông đang giãi bày nỗi lòng mình.

    * Qua những lời trò chuyện ấy, em thấy:

    • Tình yêu làng, yêu quê hương của ông Hai rất sâu nặng, ông như muốn khắc ghi vào trong tâm trí của đứa con út rằng “Nhà ta ở chợ Dầu”.
    • Tình yêu đất nước, tấm lòng thủy chung với kháng chiến, với cách mạng, với Bác Hồ. Đây là tình cảm sâu nặng, bền vững, tuyệt đối không bao giờ thay đổi.

    * Tình yêu làng quê và lòng yêu nước ở ông Hai đã gắn bó làm một và hòa quyện trong con người ông Hai, trở thành một thứ tình cảm thiêng liêng, bền vững. Những tình cảm đó không chỉ có ở nhân vật ông Hai mà ở trong tất cả những người con của dân tộc Việt Nam.

    Câu 4:

    * Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật rất chân thực, sâu sắc và sinh động

    * Ngôn ngữ nhân vật chủ yếu là khẩu ngữ, tự nhiên, gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày của người nông dân.

    4.2

    /

    5

    (

    6

    bình chọn

    )

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài: Lục Vân Tiên Cứu Kiều Nguyệt Nga – Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Soạn Bài: Khóc Dương Khuê – Ngữ Văn 11 Tập 1
  • Soạn Bài: Kiều Ở Lầu Ngưng Bích – Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Ngữ Văn 11 Tập 1 Ngắng Gọn Nhất
  • Soạn Bài: Chiếc Lược Ngà – Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Soạn Bài Làng Ngữ Văn 9 Đầy Đủ

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Thuật Ngữ Đầy Đủ Nhất
  • Soạn Bài: Các Phương Châm Hội Thoại
  • Soạn Bài: Viết Bài Tập Làm Văn Số 1
  • Soạn Văn 9: Viết Bài Tập Làm Văn Số 3
  • Soạn Văn Lớp 9 Bài Thuật Ngữ, Sgk Ngữ Văn 9 Tập 1
  • – Tác giả đặt nhân vật ông Hai vào một tình huống gay cấn để làm bộc lộ sâu sắc tình cảm yêu làng, yêu nước của ông. Tình huống ấy là cái tin làng ông theo giặc, lập tề mà chính ông nghe được từ miệng những người tản cư dưới xuôi lên.

    + Khi nghe tin quá đột ngột ấy, ông Hai sững sờ: “Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng người đi, tưởng như đến không thở được”. Khi trấn tĩnh lại được phần nào, ông còn cố chưa tin cái tin ấy. Nhưng rồi những người tản cư đã kể rành rọt quá, lại khẳng định họ “vừa ở dưới ấy lên”, làm ông không thể không tin được.

    + Từ lúc ấy, trong tâm trí ông Hai chỉ còn có cái tin dữ ấy xâm chiếm, nó thành một nỗi ám ảnh day dứt. Nghe tiếng chửi bọn Việt gian, ông “cúi gằm mặt xuống mà đi”. Về đến nhà, ông nằm vật ra giường, rồi tủi thân khi nhìn đàn con, “nước mắt ông lão cứ giàn ra. Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư?

    + Suốt mấy ngày sau, ông Hai không dám đi đâu. Ông chỉ quanh quẩn ở nhà, nghe ngóng binh tình bên ngoài: “Một đám đông túm lại, ông cũng đẻ ý, dăm bảy tiếng cười nói xa xa, ông cũng chột dạ. Lúc nào ông cũng nơm nớp tưởng như người ta đang đẻ ý, người ta đang bàn tán đến “cái chuyện ấy”. Cứ thoáng nghe những tiếng Tây, Việt Nam… là ông lủi ra một góc nhà, nín thít. Thôi lại chuyện ấy rồi!”

    – Tình yêu làng quê và lòng yêu nước của ông Hai:

    + Khi nghe tin làng theo giặc, hai tình cảm ấy đã dẫn đến một cuộc xung đột nội tâm ở ông Hai. Ông đã dứt khoát lựa chọn theo cách của ông: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”, tình yêu nước đã rộng lớn hơn, bao trùm lên tình cảm với làng quê. Nhưng dù đã xác định như thế, ông vẫn không thể dứt bỏ tình cảm với làng quê, vì thế mà còn đau xót, tủi hổ.

    + Ông Hai bị đẩy vào tình thế bế tắc, tuyệt vọng khi mà mụ chủ nhà muốn đuổi gia đình ông đi. Đi đâu bay giờ? Không ai muốn chứa chấp dân của cái làng “Việt gian”, cũng không thể quay về làng, “Về làng tức là chịu quay lại làm nô lệ cho thằng Tây”. Mối mâu thuẫn trong nội tâm và tình thế của nhân vật dường như đã thành sự bế tắc, đòi hỏi phải được giải quyết.

    – Sau khi đành phải theo vợ con rời làng lên vùng tản cư, bất đắc dĩ phải xa làng Chợ Dầu thân yêu, ông Hai rất buồn tủi. Nhưng vì suy nghĩ chân thành, rất giản dị ông tự an ủi mình: “Thôi thì chẳng ở lại làng với anh em đước, thì tản cư âu cũng là kháng chiến”. Để vơi bớt nỗi bực dọc, u uất đang chất chứa trong lòng, ông Hai nhiều hôm đội nón lầm lũi đến phòng thông tin để đọc báo và nghe người ta đọc báo. Ông theo dõi tin tức về kháng chiến một cách chăm chú, hồ hỏi. Và một hôm may mắn cho ông khi gặp anh dân quân “đọc rất to, dõng dạc, rành rọt, từng tiếng một”, ông Hai nghe chẳng sót một câu nào. Tin thắng trận dồn dập làm cho “ruột gan ông lão cứ múa cả lên, vui quá!”. Nhưng không may trong lúc ông đang hồ hởi, vui sướng vối những chiến công, những gương dũng cảm chiến đấu của quân và dân ta thì tin “dữ” cả cái làng Chợ Dầu là “Việt gian theo Tây”, “vác cò thần ra hoan hô”, như sét giáng xuống đầu ông Hai. Thực ra đó cũng chỉ là tin tức từ miệng một “người đàn bà ẵm con cong môi lên đỏng đảnh” nhưng ông Hai đã lặng người đi. Ông như mất hết cảm giác: “Cổ nghẹn đắng lại, da mặt tê rân rân” vì thông tin đến với ông quá đột ngột về một sự thật quá phũ phàng. Nhưng chỉ sau một lát, lấy lại trấn tĩnh ông Hai muốn thẩm định lại và cầu mong tin đó là sai lệch, là nhầm lẫn. Nhưng lời khẳng định của người đàn bà ẵm con và cuộc nói chuyện của những người xung quanh đã chứng thực điều đó. Đến lúc này, ông Hai không còn giữ bình tĩnh được nữa, ông tìm cách trôn tránh để quên đi nỗi nhục ấy. Ông muốn che giấu mọi người vì cả bản thân ông, những giọt nước mắt đang chảy ngược vào trong. Từ đó, ông Hai rơi vào một cuộc đấu tranh tư tưởng căng thẳng và nó làm ông thay đổi hoàn toàn, về tính nết, cử chỉ, hành động đến lời nói vối người thân, hàng xóm.

    – Từ khi nghe được tin dữ đó ông Hai cảm thấy xấu hổ không dám ngẩng mặt lên nhìn ai, thậm chí ông còn không dám bước chân ra ngoài cả ba bốn hôm liền. Bởi ông không muốn đối diện với sự thực ấy, ông biết rằng đó là một thứ tội mà cả dân làng, cả đất nước này lên án: “Suốt cả cái nước Việt Nam này người ta ghê tởm, người ta thù hằn cái giống Việt gian bán nước”. Tầm trạng của ông ngày càng u uất, đau đớn đến quặn thắt. Lúc đầu khi mới nghe tin ông còn khóc được, có khi còn chửi thề được một câu chua chát. Nhưng nỗi đau đó hành hạ ông và khiến ông trở thành một con người lầm lũi, nơm nớp lo sợ, lúc nào cũng nghe ngóng xem ngươi ta đang bàn tán gì về cái làng Chợ Dầu và dân làng Chợ Dầu lên đây tản cư.

    – Bi kịch của ông Hai được đẩy lên đến đỉnh điểm khi bà chủ nhà lên tiếng đuổi vợ chồng, con cái ông đi khỏi nhà bởi “không ai muốn chứa chấp cái lũ Việt gian bán nước”. Đó là bi kịch chung của những người dân làng Chợ Dầu đi tản cư. Họ đã bị cả xã hội lên án, ruồng rẫy, khinh bỉ. Ông Hai lại rơi vào một cuộc đấu tranh tư tưởng quyết liệt đế chọn cho cả gia đình nghèo khổ của ông một lối đi, một sự giải thoát. Là người đàn ông trụ cột trong gia đình, ông Hai chẳng thể làm gì hơn trước sự cư xử tàn nhẫn của bà chủ nhà, đang tâm cướp đi chỗ trú thân của gia đình ông. Một lần nữa, nỗi đau trong ông trào thành những giọt nước mắt tủi cực. Trong giây phút bế tắc ấy cũng chính là lúc ý nghĩ quay về làng Chợ Dầu vụt loé lên trong đầu ông. Thế mối biết làng luôn thường trực, ấp ủ trong trái tim dạt dào tình yêu của ông Hai. Ông yêu làng cả trong những lúc sung sướng, vui vẻ và cả những lúc đau đớn nhất, tủi hổ nhất. Nhưng càng nghĩ nỗi đau lại dồn lên, bóp nghẹt trái tim ông, buộc ông phải trực tiếp đối diện với sự thực đen tối ấy. Vối tấm lòng yêu làng tha thiết, đau đớn ông gạt phắt ý nghĩ quay về làng trong nước mắt. “Bởi về làng, tức là bỏ kháng chiến”, bỏ Cụ Hồ, thì ra tình yêu nước, yêu cách mạng còn cao hơn cả tình yêu làng trong trái tim ông. Dù rất đau khổ song ông Hai vẫn từ chối quay về nơi chôn nhau cắt rốn ấy. Mọi ngả đương đã đóng lại trước mắt ông, gia đình ông lúc này không biết đi đâu về đâu để kiếm một chỗ dung thân.

    – Nhưng rồi một ngày bi kịch của người yêu làng đến bỏng cháy như ông Hai đã được giải thoát. Khi nghe tin làng Chợ Dầu theo Tây, ông Hai đau đớn hơn ai hết vì thế khi cái tin thất thiệt “cả cái làng Chợ Dầu Việt gian theo Tây” được cải chính thì ông Hai là người sung sướng nhất. Ông “tươi vui, rạng rỡ hẳn lên”, mồm bỏm bẻm nhai trầu, cặp mắt hung hung đỏ. Ông như trở lại đúng vói con người mình: hồ hởi thích “khoe” về làng. Ông Hai đi khắp làng bô bô thông báo tin vui mừng ấy. Cùng một câu nói (giống nhau tuyệt đối không khác một chữ) nhưng ông nói đi nói lại không biết bao nhiêu lần, với một thái độ khẳng định dứt khoát “Tây nó đốt… Toàn là cái sự mục đích cả!”. Ong muốn báo cho cả làng, cả tổng thể làng Chợ Dầu của ông vẫn một lòng thuỷ chung với cách mạng không thể có chuyện theo Tây làm Việt gian. Mặc dù làng ông đã bị đốt sạch, đến nhà của ông cũng bị giặc đốt nhưng thông tin ấy lại làm ông sung sướng vô cùng bởi đó là bằng chứng cho tinh thần cách mạng của dân làng Chợ Dầu, trong đó có ông.

    – Đoạn văn trên đã diễn tả một cách sinh động và cảm động tình cảm bền chặt, chân thành của ông Hai với quê hương, đất nước, cách mạng và kháng chiến. Sự xuất hiện của đứa con út đúng lúc bi kịch của ông Hai lên đến đỉnh điểm, như một sự cứu cánh, giải thoát vô cùng quan trọng. Tin làng Chợ Dầu làm Việt gian theo Tây đã loan ra khắp cả làng, và nguy hiểm nhất là bà chủ nhà ghê gớm, cay nghiệt lợi dụng cơ hội này để “làm khổ” vợ chồng ông Hai. Vì tin dữ đó mà những ngươi dân làng Chợ Dầu như ông bị người ta khinh bỉ, đuổi đi, không ai chứa chấp. Ông Hai thực sự bị đẩy vào sự bế tắc đến cùng cực. Có ai hiểu cho tấm lòng, trái tim đang quặn thắt của ông? Không ai cả. Bởi ông không muốn thấy thái độ khinh bỉ của mọi người. Ông lại càng không dám tâm sự nỗi lòng của mình lúc này. Bởi những ngươi làng Chợ Dầu như ông đang bị mọi người quay lưng lại, ghê tởm và khinh rẻ, không ai thèm nói chuyện với một “tội phạm” đang mắc trọng tội như ông. Chính vì vậy, ông đã tìm đến đứa con út còn nhỏ dại, ngây thơ rất đáng yêu để giãi bày, tâm sự, thô lộ lòng mình. Phải tìm đến đứa con nhỏ dại còn chưa biết đến thế nào là cách mạng, là Việt gian… để trút bầu tâm sự là minh chứng hùng hồn cho sự bế tắc đến cùng cực của ông.

    – Lời của đứa con út hay chính là lời từ đáy lòng ông Hai muốn gửi gắm? Ông hỏi không phải để tìm câu trả lời mà để “nói lòng mình, để minh oan cho mình nữa”. Ông Hai không còn cách nào để có thể bộc lộ nỗi u uất, sự đau đớn và cả tấm lòng sắt son của mình nên ông đành nhờ một đứa con thơ. Thì ra, trong lòng bố con ông, tình yêu với làng, thuỷ chung sắt son với cách mạng, với Cụ Hồ Chí Minh cũng tự nhiên, bình dị và tất yếu như tình yêu với cha mẹ vậy.

    – Con người ta chỉ có một cha một mẹ, một nơi chôn nhau cắt rốn và tấm lòng với cách mạng cũng trước sau như một. Dường như chưa đủ ông Hai còn hùng hồn khẳng định như một lời tuyên thệ “Cái lòng bố con ông là như thê đấy, có bao giờ dám đơn sai. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai”. Ỏng Hai chỉ nói thầm vối lòng mình nhưng cũng như lời thề trước đoàn thể vậy. Và dù chỉ có một đứa con trai quá nhỏ dại nghe ông nói, hiểu lòng ông nhưng tâm hồn đang trĩu nặng vì dằn vặt, tủi cực của ông như cũng vợi đi được đôi lời. Thế cũng là sự an ủi quý giá trong tình cảnh hiện giò của ông.

    – Qua lời tâm sự với đứa con út – thực chất là lời tự nhủ với chính mình của ông Hai, ta thấy ông là người có tình yêu làng sâu nặng và thuỷ chung với kháng chiến, với cách mạng. Đó là những tình cảm gắn bó chặt chẽ với nhau và rất đỗi thiêng liêng.

    – Để miêu tả tâm lí nhân vật ông Hai, tác giả đặt nhân vật vào một tình huống thử thách để bộc lộ nội tâm nhân vật, diễn tả đúng và gây ấn tượng mạnh mẽ vì sự ám ảnh day dứt trong tâm trạng nhân vật… Qua đó chứng tỏ nhà văn rất am hiểu tâm lí con người, đặc biệt là người nông dân.

    – Ngôn ngữ của truyện rất đặc sắc, đó là ngôn ngữ mang đậm tính khẩu ngữ và lời ăn tiếng nói của người nông dân. Giữa ngôn ngữ trần thuật và ngôn ngữ của nhân vật có sự thông nhất về sắc thái, giọng điệu do truyện được trần thuật chủ yếu từ điểm nhìn của ông Hai.

    – Ngôn ngữ của nhân vật ông Hai vừa có nét chung của người nông dân, vừa mang đậm cá tính riêng nên nó sinh động và hấp dẫn. Nó có khả năng diễn tả được những suy nghĩ, tình cảm, cảm xúc khác nhau trong những hoàn cảnh và tâm trạng khác nhau. Lời nói của ông Hai lúc nào cũng chân chất, mộc mạc, thái độ khảng khái, dứt khoát. Nhưng ẩn chứa trong vẻ bề ngoài bình dị của người nông dân này là cả tâm hồn giàu tình yêu với làng bản, quê hương, sự thuỷ chung với cách mạng. Với nhân vật này, một lần nữa Kim Lân chứng tỏ sự am tường của mình về lời ăn, tiếng nói, tấm lòng, tình cảm của người nông dân thời kì đầu kháng chiến chống Pháp.

    – Đoạn văn:

    “Cổ họng ông lão nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi, tưởng như đến không thở được. Một lúc lâu ông mới rặn è è, nuốt một cái gì vướng ở cổ, ông cất tiếng hỏi, giọng lạc hẳn đi: – Liệu có thật không hở bác? Hay là chỉ lại…”

    – Phân tích:

    + Khi nghe làng Chợ Dầu quê hương ông theo giặc:

    Lúc đầu vì thông tin đến một cách quá bất ngờ khiến cho ông lão không thể phản ứng lại được, có phản ứng lại cũng chỉ là sự tê tái của niềm tin bị phản bội: “Cổ họng ông lão nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi, tưởng như đến không thở được”.

    Ngay trong lúc ông đang sung sướng khi nghe được tin vui chiến thắng của quân ta thì lại được báo tin làng kháng chiến mà ông tự hào bấy lâu theo giặc điều đó khiến cho ông khó lòng mà tin được nên ông mới hỏi lại, giọng lại hẳn đi.

    – Những truyện ngắn, bài thơ viết về tình cảm quê hương, đất nước: Tre Việt Nam (Nguyễn Duy), Quê hương (Đỗ Trung Quân).

    – Nét riêng của truyện ngắn Làng: tình yêu quê hương và tình yêu đất nước được đặt trong sự gắn bó khăng khít với nhau, hòa quyện, thống nhất với nhau. Đó là hai tình cảm không thể tách rời và tình yêu quê hương là cơ sở cho tình yêu tổ quốc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Làng Ngữ Văn 9 Siêu Ngắn
  • Soạn Bài: Làng (Siêu Ngắn)
  • Soạn Bài Làng Môn Ngữ Văn Lớp 9 Trang 162 Siêu Ngắn: Truyện Ngắn Xây Dựng Được Một Tình Huống Truyện Gì Làm Bộc Lộ Sâu Sắc Tình Yêu Làng Quê Và Lòng Yêu Nước Ở Nhân Vật Ông Hai?
  • Hướng Dẫn Soạn Văn Làng Của Kim Lân
  • Soạn Bài Làng Của Kim Lân
  • Soạn Bài Làng : Soạn Văn 9 Bài Làng Hay Và Siêu Ngắn Gọn Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Làng (Siêu Ngắn)
  • Soạn Bài Ngẫu Nhiên Viết Nhân Buổi Mới Về Quê
  • Soạn Bài: Hồi Hương Ngẫu Thư Trang 125 Sgk Ngữ Văn 7
  • Tìm Hiểu Bài Hồi Hương Ngẫu Thư ( Văn Lớp 7)
  • Soạn Bài Ngẫu Nhiên Viết Nhân Buổi Mới Về Quê (Hồi Hương Ngẫu Thư) (Chi Tiết)
  • Muốn soạn bài Làng hay và đầy đủ thì đừng bỏ qua bài viết này. Ngoài giúp trả lời các câu hỏi mà còn giúp bạn học tốt hơn bài Làng của Kim Lân.

    Truyện ngắn Làng khai thác một tình cảm bao trùm và phổ biến trong con người thời kỳ kháng chiến. Đây là một tình cảm mang tính cộng đồng.

    Nhưng thành công của Kim Lân là đã diễn tả tình cảm, tâm lý chung ấy trong sự thể hiện cụ thể, sinh động ở một con người, trở thành một nét tâm lí đặc biệt ở thân vật ông Hai, vì thế nó là tình cảm chung mà lại mang rõ màu sắc riêng, in rõ cá tính của nhân vật.

    Cùng tìm hiểu đầy đủ về tác phẩm qua những hướng dẫn soạn bài Làng ở nội dung tiếp theo của bài viết:

    I Tóm tắt truyện ngắn Làng

    Ông Hai là người rất yêu qui cải làng của mình. Thời cuộc thay đổi, ông vẫn luôn thiết tha gắn bó với làng quê của mình. Cuộc kháng chiến chống pháp nố ra, vì hoàn cảnh gia đình. Ông bắt buộc phải đưa vợ con tản cư lên phố chợ. Ông thường tỏ ra bực bội vì nhớ làng mà không về được.

    Nghe tin đồn làng mình theo giặc Pháp, ông Hai vô cùng đau khổ, tủi nhục, chỉ biết tâm sự với thằng con út.

    Đến lúc được tin nhà mình bị giặc đốt tức là làng không theo giặc, ông hết sức vui sướng. Niềm vui kì lạ đó thể hiện tinh thần yêu nước, lòng trung thành với Cách mạng thật cảm động của ông Hai.

    II Soạn văn 9 bài Làng phần đọc – hiểu văn bản đặc sắc nhất

    Nội dung hỗ trợ các bạn trả lời các câu hỏi trang 174 SGK Ngữ Văn 9 tập 1: Câu 1

    : Truyện ngắn Làng đã xây dựng được một tình huống truyện làm bộc lộ sâu sắc tình yêu làng quê và lòng yêu nước ở nhân vật ông Hai. Đó là tình huống nào ?

    Câu 2: Thuật lại diễn biến tâm trạng và hành động của nhân vật ông Hai từ lúc nghe tin làng mình theo giặc đến kết thúc truyện. Vì sao ông Hai lại thấy đau đớn, tủi hổ khi nghe tin làng mình theo giặc? Tâm trạng ấy của nhân vật đã được biểu hiện như thế nào?

    Câu 3 : Em hãy đọc lại đoạn ông Hai trò chuyện với đứa con út . Vì sao ông Hai lại trò chuyện như thế với đứa con nhỏ? Qua những lời trò chuyện ấy, em cảm nhận được điều gì về tấm lòng của ông Hai với làng quê, đất nước, với cuộc kháng chiến ?

    Câu 4 : Nhận xét về nghệ thuật miêu tả tâm lí và ngôn ngữ nhân vật ông Hai của tác giả.

    1. Soạn bài Làng chi tiết và đầy đủ hay nhất

    Phần nội dung nhằm hỗ trợ các em nắm vững các kiến thức quan trọng của bài học:

    Câu 1 trang 174 SGK Ngữ văn 9 tập 1

    Tình huống làm bộc lộ sâu sắc lòng yêu làng, yêu nước ở nhân vật ông Hai là khi ở nơi tản cư, lúc nào ông cũng da diết nhớ về làng và tự hào về nó thì bỗng nghe được tin làng ông theo giặc, lập tề.

    Tình huống cho thấy lòng yêu nước và tinh thần kháng chiến bao trùm và chi phối tình cảm quê hương ở ông Hai.

    Câu 2 trang 174 SGK Ngữ văn 9 tập 1

    Cái tin làng chợ Dầu theo giặc đến với ông quá đột ngột trong lúc tâm trạng đang phân chấn vì những tin tức kháng chiến thắng lợi. Vì vậy cái tin làng mình theo giặc làm cho ông sững sờ đến nỗi cổ lão nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân, ông lão lặng đi, tưởng như đến không thở được. Ông rơi vào một tâm trạng đau xót và cuối cũng trở thành nỗi ám ảnh thường xuyên.

    Về đến nhà, ông Hai nằm nghe những tiếng lao xao ngoài đường, ông cũng chột dạ tưởng như người ta đang bàn tán đến chuyện làng ông. Tâm trạng của ông Hai bị dồn đến chỗ bế tắc khi mụ chủ nhà đánh tiếng đuổi gia đình ông đi.

    Nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông lão cứ giàn ra. Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu… Ông lão nắm chặt hai bàn tay mà rít lên:

    Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này.

    – Đoạn truyện bộc lộ một cách cảm động tâm trạng của ông Hai, đó là đoạn ông trò chuyện với đứa con út. Qua những lời tâm sự của đứa con nhỏ, ta thấy rõ ở ông Hai:

    + Tình yêu sâu nặng với cái làng chợ Dầu của ông

    + Tấm lòng thuỷ chung với kháng chiến, với cách mạng mà biểu tượng là Cụ Hồ. Tình cảm ấy là sâu nặng, bền vững và thiêng liêng.

    Câu 3 trang 174 SGK Ngữ văn 9 tập 1

    Đứa con ngây thơ nói lên những điều suy nghĩ sâu xa như vậy, khiến lòng ông Hai xúc động và vui sướng vô cùng.

    Tình yêu làng và lòng thuỷ chung với kháng chiến càng được biểu hiện một cách thành thật, cảm động. Tình yêu làng của ông Hai được đặt trong tình yêu nước lớn rộng.

    Đây là đoạn văn diễn tả rất cảm động và sinh động nỗi lòng sâu xa, bền chặt, chân thành của ông Hai – một người nông dân – với quê hương, đất nước, với Cách mạng và kháng chiến.

    Câu 4 trang 174 SGK Ngữ văn 9 tập 1

    – Truyện xây dựng theo cốt truyện tâm lí. Tác giả đã sáng tạo tình huống truyện có tính căng thẳng, thử thách ở nội tâm nhân vật, từ đó bộc lộ đời sống bên trong, tình cảm và tư tưởng của nhân vật. Đặt vào trong thời điểm xuất hiện tác phẩm , càng thấy giá trị của thành công này của Kim Lân. Nhân vật: ông Hai được miêu tả sắc nét.

    – Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật sâu sắc, tinh tế.

    – Ngôn ngữ nhân vật sinh động, giàu tính khẩu ngữ và thể hiện cá tính của từng nhân vật

    – Cách trần thuật của tác giả linh hoạt, tự nhiên.

    2. Soạn bài Làng ngắn nhất

    Nội dung tóm lược các nội dung chính giúp các em tham khảo để tự trả lời các câu hỏi:

    Câu 1 (Trang 174 SGK Ngữ văn 9 tập 1)

    – Tác giả đặt nhân vật ông Hai vào một tình huống để làm bộc lộ sâu sắc tình cảm yêu làng, yêu nước của ông.

    – Tình huống ấy là cái tin làng ông theo giặc mà chính ông nghe được từ miệng những người tản cư qua vùng ông.

    Câu 2 (Trang 174 SGK Ngữ văn 9 tập 1)

    Diễn biến tâm trạng của ông Hai: Lúc nghe tin thì nghẹn lại, không tin đó là sự thật. Trên đường về nhà thì đau đớn, tủi nhục, nguyền rủa bọn phản bội. Ông ở nhà chẳng chịu đi đâu rồi đoạn tuyệt với làng.

    Khi nghe tin cải chính thì như được hồi ainh, mừng rỡ.

    Câu 3 (Trang 174 SGK Ngữ văn 9 tập 1)

    – Ông nói chuyện với đứa con út nhưng thực chất là tự giãi bày lòng mình, đó là đứa con ông thương nhất, hồn nhiên nhất và sẽ không nói điều mỉa mai.

    – Qua những lời trò chuyện ấy, ta thấy được trong những lúc đau xót bế tắc, bị ngờ oan thì trái tim người nông dân vẫn hướng về cụ Hồ, về Cách Mạng.

    Câu 4 (Trang 174 SGK Ngữ văn 9 tập 1)

    – Qua tác phẩm, ta thấy được Kim Lân đã miêu tả tâm lí nhân vật rất chân thực từ hành động cho đến lời nói, nhân vật ông Hai được khắc họa chân dung rất rõ từ lúc nhục nhã, xấu hổ, buồn bã cho đến lúc vui mừng, hớn hở.

    – Lời thoại, ngôn ngữ trong truyện cũng được Kim Lân sử dụng rất giản dị, như ở ngoài đời thực. Nó làm nổi bật được hình ảnh nhân vật ông Hai, người nông dân ít học nhưng lại có tình yêu Tổ quốc rất tha thiết, sâu nặng.

    3. Soạn bài Làng siêu ngắn

    Nội dung gồm các nhiều phương án trả lời cho từng câu hỏi:

    Câu 1 – Trang 174 SGK Ngữ văn 9 tập 1

    Cách trả lời 1

    Tình huống truyện: ông Hai, một người yêu nước nồng nàn đã nghe tin làng chợ Dầu theo giặc.

    Cách trả lời 2

    Tình huống : Ông Hai nghe tin Làng Chợ Dầu theo giặc.

    Cách trả lời 3

    Tình huống được tác giả xây dựng, đặt nhân vật ông Hai vào tình huống éo le khi nghe tin làng chợ Dầu theo giặc.

    Cách trả lời 4

    Đó là tình huống ông Hai tình cờ nghe được tin dân làng chợ Dầu trở thành Việt gian theo Pháp, phản lại kháng chiến, phản lại cụ Hồ.

    thêm nhiều cách trả lời bài 1 trang 174 SGK Ngữ văn 9 tập 1 khác.

    Câu 2 – Trang 174 SGK Ngữ văn 9 tập 1

    Cách trả lời 1 Diễn biến tâm trạng của ông Hai

    – Sững sờ khi nghe làng mình theo giặc vì ông luôn luôn tự hào về làng của mình

    – Tủi Hổ :”Cúi gằm mặt xuống mà đi”

    – Nhục nhã : Không dám đi đâu , luôn lo lắng , nghe ngóng.

    → Nỗi ám ảnh biến thành sự sợ hãi đau xót , tủi hổ trước tin làng mình theo giặc.

    Cách trả lời 2 Diễn biến tâm trạng của ông Hai :

    – Lúc đầu, ông Hai luôn luôn tự hào về làng của mình, đi đâu cũng kể về nó dù đang ở khu tản cư.

    – Khi nghe tin được tin làng chợ Dầu theo giặc, đầu tiên là thấy “nghẹn đắng lại, da mặt tê rân rân.”

    – Khi trấn tĩnh ông vẫn cố chưa tin cái tin ấy.

    – Từ lúc ấy, nó thành một nỗi ám ảnh day dứt.

    – Suốt mấy ngày sau, ông Hai không dám đi đâu. Ông chỉ quanh quẩn ở nhà, nghe ngóng tình hình bên ngoài.

    – Khi đi nghe tin cải chính làng chợ Dầu không theo giặc ông Hai như được hồi sinh “cái mặt bỗng tươi vui rạng rỡ hẳn lên”.

    Câu 3 – Trang 174 SGK Ngữ văn 9 tập 1

    Cách trả lời 1

    Ông giải tỏa tâm trạng Bằng cách trò chuyện với hai đứa con của mình.

    – lúc này ông sẽ lại kể cho lũ trẻ những vẻ vang của làng, cái mông lung sâm đất dùng cả tính mạng để dành được.

    + tình yêu làng của ông lại một lần nữa được nói đến một cách sâu đậm.

    + Tình yêu quê hương ,yêu đất nước, yêu đồng bào với kháng chiến với bác Hồ kính yêu của chúng ta.

    Cách trả lời 2

    – Ông Hai trò chuyện với đứa con Út vì ông cảm thấy mình đang được tự giải bày nỗi niềm của chính bản thân mình, ông thấy được tình yêu quê hương, đất nước của đứa con út nó cháy bỏng và to lớn như chính mình dành cho ngôi làng.

    – Qua những lời trò chuyện ấy, em cảm nhận được tấm lòng của ông Hai với làng quê, đất nước, với cuộc kháng chiến vô cùng to lớn, ông sẵn sàng hy sinh ngôi làng mà mình yêu thương và tự hào nhất để phục vụ cho kháng chiến, cho cách mạng.

    – Tình yêu làng quê đã hòa vào tình yêu nước ở ông Hai.

    các cách trả lời bài 3 trang 174 SGK Ngữ văn 9 tập 1

    Câu 4 – Trang 174 SGK Ngữ văn 9 tập 1

    Cách trả lời 1

    – Truyện được xây dựng theo cốt truyện tâm lí

    – Nghệ thuật miêu tả tâm lí tinh tế.

    – Ngôn ngữ bình dị đơn giản, giàu hình ảnh , giàu tính khẩu ngữ thể hiện tính cách của ông Hai.

    – Cách trần thuật linh hoạt.

    Cách trả lời 2

    – Tác giả đặt nhân vật vào tình huống khó khăn để bộc lộ được tâm trạng, tình cảm của ông Hai.

    – Miêu tả cụ thể, gợi cảm các diễn biến nội tâm qua các ý nghĩ, hành vi, ngôn ngữ.

    Cách trả lời 3

    – Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật chân thực ,sâu sắc ,sinh động, lột tả được các cung bậc cảm xúc của nhân vật ông hai từ đau đớn Thành vui sướng, ngòi bút tả thực, gần gũi với người đọc.

    – Ngôn ngữ nhân vật: khẩu ngữ tự nhiên thân thuộc với đời sống nhân dân, nhất là người nông dân Việt Nam.

    III Soạn bài Làng phần luyện tập (nhiều đáp án)

    1. Câu 1 phần luyện tập bài Làng

    Chọn và phân tích một đoạn miêu tả tâm lí nhân vật ông Hai trong truyện. Trong đoạn ấy, tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật nào để miêu tả tâm lí nhân vật.

    Trả lời

    – Đoạn văn:

    “Ông lão ôm thằng con út lên lòng, vỗ nhè nhẹ vào lưng nó, khẽ hỏi:

    ….

    – Phân tích:

    Đoạn đối thoại này đã biểu hiện tình cảm thiêng liêng và sâu nặng của ông Hai với quê hương, đất nước, với kháng chiến. Trò chuyện với đứa con thực chất là cách ông tự thổ lộ nỗi lòng thủy chung của mình với làng quê, với kháng chiến.

    – Nghệ thuật: Hình thức đối thoại nhưng mang tính chất độc thoại.

    2. Câu 2 phần luyện tập bài Làng

    Em còn nhớ truyện ngắn hay bài thơ nào cũng viết về tình cảm quê hương, đất nước? Hãy nêu nét riêng của truyện Làng so với những tác phẩm ấy.

    Trả lời

    – Những truyện ngắn, bài thơ viết về tình cảm quê hương, đất nước: Tre Việt Nam – Nguyễn Duy, Quê hương – Giang Nam.

    – Nét riêng của truyện ngắn Làng: tình cảm quê hương đất nước được đặt trong sự gắn bó khăng khít với nhau, hòa quyện, thống nhất với nhau, tình cảm ấy được làm nổi bật lên trong hoàn cảnh cụ thể là cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Làng Của Nguyễn Duy
  • Soạn Bài Làng (Kim Lân)
  • Soạn Bài Làng Trang 162 Sgk Ngữ Văn 9, Tập 1
  • Giáo Án Môn Hóa Học Lớp 10
  • Tính Chất Hóa Học Của Flo (F), Brom (Br), Iot (I). Bài Tập Về Flo Brom Iot
  • Soạn Bài Làng Ngữ Văn 9 Của Kim Lân

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Sách Bài Tập Toán 9 Tập 1 Trang 15 Bài 63, 64, 65
  • Giải Sách Bài Tập Toán 9 Tập 1 Trang 15 Bài 60, 61, 62
  • Soạn Bài Cố Hương Sbt Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Soạn Bài Cố Hương Lớp 9
  • Soạn Bài Đấu Tranh Cho Một Thế Giới Hòa Bình
  • Đề bài: Soạn Bài Làng Ngữ Văn 9 Của Kim Lân

    Bài Làm

    Câu 1: Truyện Làng đã xây dựng được môt tình huống truyện độc đáo làm bộc lộ sâu sắc tình yêu làng quê, tình yêu đất nước của nhân vật ông Hai. Đó là tin làng chợ Dầu theo giặc mà chính ông nghe được từ miệng những người tản cư từ dưới xuôi lên. Cái tin ấy đến với ông vào một buổi trưa giữa lúc tâm trạng của ông đang rất phấn chấn vì nghe được nhiều tin ta đánh giặc trên tờ báo ở phòng thông tin. Khi nghe tin làng mình lập tề theo giặc, ông đã phải đau xót, tủi hổ. Tinh huống này đã khiến nhân vật bộc lộ tình yêu làng quê và lòng yêu nước mãnh liệt, thiết tha của mình.

    Câu 2:

    Trước khi nghe tin xấu về làng, ông nhớ làng da diết ” nghĩ đến những ngày làm việc cùng anh em …. nhớ làng quá“. Ở phòng thông tin, ông nghe được nhiều tin hay về làng: một anh cắm quốc kì…, một anh trung đội trưởng…, tin chiến thắng của quân ta. Nghe được những tin ấy ” ruột gan ông lão cứ múa cả lên, vui quá “. Một niềm vui, niềm tự hào của người nông dân, trước thành quả cách mạng của làng quê. Đây là biểu hiện tình yêu làng, yêu nước của người nông dân Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp

    Tin làng theo Tây đến với ông đột ngột, bất ngờ làm ông sững sờ, bàng hoàng ” Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân …“. Khi nghe tin đó, ông đau đớn tê tái. Về đến nhà ông ” nằm vật ra giường” … ” nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông lão cứ dàn ra. Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ dúng hắt hủi đấy ư? …“. Ông băn khoăn không biết có nên tin hay không vì ở làng ông ” họ toàn là những người có tinh thần cả mà … “. Song chứng cứ như vậy thì sai làm sao được nên ông phải tin. Khi trò chuyện với vợ ông Hai bực tức, gắt gỏng vô cớ, đau đớn, trằn trọc thở dài.

    Suốt ngày ông Hai ở trong nhà, chẳng chịu đi đâu, chỉ quanh quẩn để nghe ngóng tình hình bên ngoài, có đám đông xúm lại ông cũng để ý, dăm bảy tiếng cười nói xa xa ông cũng chột dạ, lúc nào ông cũng nơm nớp tưởng người ta đang để ý mình, thoáng nghe thấy tiếng Tây, Việt gian, là ông lủi vào góc nhà im thít ” Thôi! Lại chuyện ấy rồi”.

    Ông quyết đoạn tuyệt với làng để đi theo kháng chiến, theo cách mạng ” Làng thì yêu thật nhưng làng làm Việt Gian thì phải thù”.

    Khi đi nghe tin cái chính làng chợ Dầu không theo giặc ông Hai như được hồi sinh ” cái mặt bỗng tươi vui rạng rỡ hẳn lên “. Ông mua bánh chia cho các con. Ông lại đi khắp nơi khóc về làng ông như xưa nhưng bây giờ, trong câu chuyện của ông có thêm cái tin Tây đốt làng ông, đốt cả nhà ông nữa. Đó là bằng chứng hùng hồn của tình yêu đất nước.

    Câu 3:

    Ông Hai đã có cuộc trò chuyện với đứa con Út ” Ông lão ôm thằng con út lên lòng…cũng vợi đi được đôi phần “. Ông Hai có cuộc trò chuyện với đứa con nhỏ mà không phải với bất kì ai khác bởi:

    + Ông Hai đang rất đau khổ khi nghe tin làng mình theo giặc, ông không dám ra ngoài vì sợ mọi người sẽ nguyền rủa, miệt thị làng mình.

    + Ông mặc cảm với mọi người, hễ thấy ai trò chuyện cũng nghĩ họ đang nói về mình, về làng chợ Dầu. Với tâm trạng như vậy ông Hai không có đủ tự tin, dũng khí để nói chuyện với bất kì ai khác.

    + Nói chuyện với thằng con Út vì nó là một đứa con mà ông rất thương, cũng chỉ là một đứa nhỏ hồn nhiên. Quan trọng là ông cần một người lắng nghe ông lúc này. Với sự hồn nhiên của đứa trẻ, nó sẽ không có những suy nghĩ sâu xa, không có những lời nói mỉa mai.

    + Ông muốn đứa con ghi nhớ “ nhà ta ở làng chợ Dầu “. Ông muốn khắc sâu tình yêu đất nước, tấm lòng chung thủy với kháng chiến, với cách mang, với Bác Hồ.

    Qua cuộc nói chuyện ta thấy được tình yêu mà ông Hai dành cho ngôi làng chợ Dầu của mình. Đó không chỉ là tình yêu mà còn là cả niềm tin và niềm tự hào của ông, vì vậy nghe tin làng theo giặc ông Hai mới day dứt, đau khổ như vậy.

    – Tình yêu làng quê, yêu đất nước đã gắn bó làm một, hòa quyện trong con người ông Hai trở thành một thứ tình cảm thiêng liêng bền vững. Tình yêu ấy không chỉ riêng ở ông Hai mà nó chính là tình cảm của nhân vật Việt với làng quê, với đất nước. Tình yêu làng với tình yêu nước của ông Hai luôn thống nhất, nhưng khi hướng đi của hai tình yêu lớn và nhỏ ấy không đồng nhất thì ông sẵn sàng đặt tình yêu nước lên trên tình cảm cá nhân ” làng thì yêu thật nhưng nếu làng theo giặc thì phải thù

    Câu 4:

    – Nghệ thuật miêu tả tâm lí của nhân vật vô cùng tinh tế, thể hiện được những day dứt, đau khổ của một con người yêu làng tha thiết. Diễn biến tâm lí cũng như độc thoại nội tâm của ông Hai được tái hiện sống động khiến cho người đọc cảm thấy xúc động.

    – Ngôn ngữ nhân vật sinh động, thể hiện rõ cá tính của nhân vật.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Lớp 9: Làng Soạn Bài Môn Ngữ Văn Lớp 9 Học Kì I
  • Soạn Văn 9: Tổng Kết Về Từ Vựng (Tiếp Theo)
  • Soạn Bài Tổng Kết Về Từ Vựng (Tiếp Theo) (Chi Tiết)
  • Bài Soạn Lớp 9: Tổng Kết Từ Vựng (Tiếp Theo)
  • Soạn Bài Tổng Kết Về Từ Vựng (Tiếp Theo)
  • Văn 9 Bài Thơ Tiểu Đội Xe Không Kính Violet

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Văn 9 Bài Thơ Tiểu Đội Xe Không Kính
  • Soạn Văn 8 Vnen Bài 14: Chương Trình Địa Phương
  • Soạn Văn 8 Vnen Bài 29: Chương Trình Địa Phương
  • Giáo Án Văn 8 Bài Tức Cảnh Pắc Bó
  • Bài 20. Tức Cảnh Pác Bó
  • Văn 9 Bài Thơ Tiểu Đội Xe Không Kính Violet, Khổ 6 Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính, 9 Bài Thơ Tiểu Đội Xe Không Kính, Văn 9 Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính, Khổ 7 Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính, Văn 9 Bài Thơ Tiểu Đội Xe Không Kính, Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính, Nội Dung Bài Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính, Nội Dung Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính, Soạn Văn 9 Bài Thơ Tiểu Đội Xe Không Kính, Phân Tích Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính, Phân Tích 3 Khổ Thơ Cuối Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính, Đơn Xin Không Làm Tổng Phụ Trách Đội Violet, Biên Bản Rút Kinh Nghiệm Giờ Dạy Violet, Trắc Nghiệm Phương Trình Đường Thẳng Trong Không Gian Oxyz Violet, Bản Mô Tả Sáng Kiến Kinh Nghiệm Violet, Hãy Giải Thích Quy Luật Lan Truyền Xung Thần Kinh Trên Sợi Thần Kinh Không Có Bao M, Bộ Tiêu Chí Lấy Trẻ Làm Trung Tâm Violet, Bài Thu Hoạch Module 24 Tiểu Học Violet, Báo Cáo Thực Tập Sư Phạm Tiểu Học Violet, Bài Thu Hoạch Module 9 Tiểu Học Violet, Bài Thu Hoạch Module 7 Tiểu Học Violet, Bài Thu Hoạch Module 41 Tiểu Học Violet, Bài Thu Hoạch Module 1 Tiểu Học Violet, Bài Thu Hoạch Module 17 Tiểu Học Violet, Bài Thu Hoạch Module 2 Tiểu Học Violet, Bài Thu Hoạch Module 3 Tiểu Học Violet, Bài Thu Hoạch Module 36 Tiểu Học Violet, Bài Thu Hoạch Module 37 Tiểu Học Violet, Bai Thu Hoach Modun 1 Tieu Hoc Violet, Bài Thu Hoạch Module 38 Tiểu Học Violet, Bài Thu Hoạch Module 40 Tiểu Học Violet, Đơn Xin Nghỉ ốm Của Giáo Viên Tiểu Học Violet, Biên Bản Dự Giờ Giáo Viên Tiểu Học Violet, Tiểu Luận Xử Lý Tình Huống Về Giáo Dục Violet, Báo Cáo Tự Đánh Giá Trường Tiểu Học Theo Thông Tư 17 Violet, Tiểu Luận Quản Lý Nhà Nước Ngạch Chuyên Viên Về Giáo Dục Violet, Tiêu Chí Nào Sau Đây Không Phải Là Tiêu Chí Của Sinh Viên 5 Tốt, Tiểu Luận Vai Trò Của Kinh Tế Thị Trường Đối Với Việc Phát Triển Kinh Tế Xã Hội ở Việt Nam Hiện Nay, Bài Thơ Xe Không Kính, Mẫu Thông Báo Có Kính Gửi Không, Mẫu Tờ Trình Có Kính Gửi Không, Tờ Trình Có Kính Gửi Không, 3 Câu Thơ Có Hình ảnh Chiếc Xe Không Kính, Tuyển Tập Truyện Kinh Dị Không Lời, Tờ Trình Có Phần Kính Gửi Không, Văn Bản Xác Nhận Không Nợ Thuế Của Hộ Kinh Doanh Cá Thể, Mẫu Hợp Đồng Kinh Tế Không Xác Định Thời Hạn, Văn Bản Xác Nhận Không Nợ Thuế Hộ Kinh Doanh Cá Thể, Kế Hoạch Kinh Doanh Điều Hoà Không Khí, Quan Niệm Không Đúng Về Kinh Tế Thị Trường, Văn Bản Đề Nghị Xác Nhận Không Nợ Thuế Hộ Kinh Doanh, Quan Niệm Nào Không Đúng Về Kinh Tế Thị Trường, Tiêu Chí 6 Không 4 Có, Tiêu Chí 3 Không, Định Nghĩa Nào Sau Đây Về Tăng Trưởng Kinh Tế Là Không Đúng, Phương án Nào Không Phải Là Đặc Điểm Của Sự Lan Truyền Xung Thần Kinh, Có Tiểu Thuyết Nào Hay Không, Tài Liệu Không Có Tiêu Đề, 8 Tiêu Chí Của 5 Không 3 Sạch, Tiểu Tiện Không Tự Chủ, Tiêu Chí 3 Không Của Vinfast, 8 Tiêu Chí 5 Không 3 Sạch, Tiểu Thuyết Anh Không Là Con Chó Của Em, Tiêu Chí 5 Không 3 Sạch, Hãy Chứng Minh Kinh Tế Nước Ta Trong Các Thế Kỷ X – Xv Phát Triển Không Đều, Tiểu Thuyết Bến Không Chồng, Tiểu Thuyết Không Gia Đình, Tiểu Luận ô Nhiễm Không Khí, Tiêu Chuẩn ô Nhiễm Không Khí, Tiểu Thuyết Xuyên Không Nữ Phụ, Xem Tiểu Thuyết Không Gia Đình, 8 Tiêu Chí 5 Không 3 Sạch Mới Nhất, Tiểu Thuyết Xuyên Không, Tiểu Thuyết Xuyên Không Hài, Tiểu Thuyết Xuyên Không Hay, Không Đạt Tiêu Chuẩn In English, Không Đạt Tiêu Chuẩn Tiếng Anh, Không Đạt Tiêu Chuẩn Tiếng Anh Là Gì, Tiểu Thuyết ăn Bồ Đào Không Phun Bì, Không Đủ Tiêu Chuẩn In English, Không Đủ Tiêu Chuẩn Tiếng Anh Là Gì, Không Giao Bài Tập Về Nhà Cho Học Sinh Tiểu Học, Tiểu Luận ô Nhiễm Không Khí ở Hà Nội, 6 Tiêu Chí Không Được Sửa Tờ Khai, Không Đủ Tiêu Chuẩn Hiến Máu, Phương án Nào Không Phải Là Đặc Điểm Truyền Xung Thần Kỉnh Trên Sợi Trục Kh, Tiểu Luận Phòng Không Nhân Dân, Tiểu Thuyết Xuyên Không Thành Nữ Phụ, Top 5 Tiểu Thuyết Xuyên Không Hay Nhất, Không Đủ Tiêu Chuẩn Đi Nghĩa Vụ Quân Sự, Tiêu Chuẩn Đánh Giá ô Nhiễm Không Khí, Tiêu Chuẩn Đánh Giá Không Khí Sạch, Tiểu Thuyết Xuyên Không Hoàn, Không Đủ Tiêu Chuẩn Nghĩa Vụ Quân Sự, Không Đúng Tiêu Chuẩn Tiếng Anh Là Gì, Bài Tiểu Luận ô Nhiễm Môi Trường Không Khí, Tiểu Luận ô Nhiễm Không Khí ở Tphcm, Tiểu Tiện Không Tự Chủ Khi Mang Thai, Bach Hop P Tiểu Thuyết Xuyên Không,

    Văn 9 Bài Thơ Tiểu Đội Xe Không Kính Violet, Khổ 6 Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính, 9 Bài Thơ Tiểu Đội Xe Không Kính, Văn 9 Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính, Khổ 7 Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính, Văn 9 Bài Thơ Tiểu Đội Xe Không Kính, Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính, Nội Dung Bài Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính, Nội Dung Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính, Soạn Văn 9 Bài Thơ Tiểu Đội Xe Không Kính, Phân Tích Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính, Phân Tích 3 Khổ Thơ Cuối Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính, Đơn Xin Không Làm Tổng Phụ Trách Đội Violet, Biên Bản Rút Kinh Nghiệm Giờ Dạy Violet, Trắc Nghiệm Phương Trình Đường Thẳng Trong Không Gian Oxyz Violet, Bản Mô Tả Sáng Kiến Kinh Nghiệm Violet, Hãy Giải Thích Quy Luật Lan Truyền Xung Thần Kinh Trên Sợi Thần Kinh Không Có Bao M, Bộ Tiêu Chí Lấy Trẻ Làm Trung Tâm Violet, Bài Thu Hoạch Module 24 Tiểu Học Violet, Báo Cáo Thực Tập Sư Phạm Tiểu Học Violet, Bài Thu Hoạch Module 9 Tiểu Học Violet, Bài Thu Hoạch Module 7 Tiểu Học Violet, Bài Thu Hoạch Module 41 Tiểu Học Violet, Bài Thu Hoạch Module 1 Tiểu Học Violet, Bài Thu Hoạch Module 17 Tiểu Học Violet, Bài Thu Hoạch Module 2 Tiểu Học Violet, Bài Thu Hoạch Module 3 Tiểu Học Violet, Bài Thu Hoạch Module 36 Tiểu Học Violet, Bài Thu Hoạch Module 37 Tiểu Học Violet, Bai Thu Hoach Modun 1 Tieu Hoc Violet, Bài Thu Hoạch Module 38 Tiểu Học Violet, Bài Thu Hoạch Module 40 Tiểu Học Violet, Đơn Xin Nghỉ ốm Của Giáo Viên Tiểu Học Violet, Biên Bản Dự Giờ Giáo Viên Tiểu Học Violet, Tiểu Luận Xử Lý Tình Huống Về Giáo Dục Violet, Báo Cáo Tự Đánh Giá Trường Tiểu Học Theo Thông Tư 17 Violet, Tiểu Luận Quản Lý Nhà Nước Ngạch Chuyên Viên Về Giáo Dục Violet, Tiêu Chí Nào Sau Đây Không Phải Là Tiêu Chí Của Sinh Viên 5 Tốt, Tiểu Luận Vai Trò Của Kinh Tế Thị Trường Đối Với Việc Phát Triển Kinh Tế Xã Hội ở Việt Nam Hiện Nay, Bài Thơ Xe Không Kính, Mẫu Thông Báo Có Kính Gửi Không, Mẫu Tờ Trình Có Kính Gửi Không, Tờ Trình Có Kính Gửi Không, 3 Câu Thơ Có Hình ảnh Chiếc Xe Không Kính, Tuyển Tập Truyện Kinh Dị Không Lời, Tờ Trình Có Phần Kính Gửi Không, Văn Bản Xác Nhận Không Nợ Thuế Của Hộ Kinh Doanh Cá Thể, Mẫu Hợp Đồng Kinh Tế Không Xác Định Thời Hạn, Văn Bản Xác Nhận Không Nợ Thuế Hộ Kinh Doanh Cá Thể, Kế Hoạch Kinh Doanh Điều Hoà Không Khí,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài: Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính (Ngắn Nhất)
  • Soạn Bài Bài Thơ Tiểu Đội Xe Không Kính Ngữ Văn 9 Siêu Ngắn
  • Soạn Bài: Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính (Siêu Ngắn)
  • Giải Bài Tập Sgk Tiếng Anh Lớp 9 Unit 2: Write
  • Gợi Ý Một Số Dàn Ý Viết Bài Văn Số 1 Lớp 9: Văn Thuyết Minh
  • Cách Soạn Bài Trên Violet

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Soạn Bài Thạch Sanh
  • Soạn Bài Thạch Sanh Trang 61 Sgk Ngữ Văn 6 Tập 1
  • Soạn Bài Thạch Sanh (Chi Tiết)
  • Soạn Bài Sơn Tinh, Thủy Tinh (Chi Tiết)
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Sơn Tinh, Thủy Tinh
  • + : Các hiệu ứng

    cho đối tượng.

    Lê Dõng – Tiểu học số 1 Hải Ba, Hải Lăng, Quảng Trị

    18

    10/7/2013 5:22 PM

    Đang ở trang màn hình soạn thảo Công cụ  Vẽ hình học phẳng

    – Vẽ xong  Đồng ý.

    b) Vẽ hình học phẳng.

    Lê Dõng – Tiểu học số 1 Hải Ba, Hải Lăng, Quảng Trị

    19

    10/7/2013 5:22 PM

    Đang ở trang màn hình soạn thảo Công cụ  Vẽ hình  Vẽ xong  Đồng ý.

    c) Vẽ hình.

    – Ta có thể vẽ được các hình cơ bản ở bên.

    Lê Dõng – Tiểu học số 1 Hải Ba, Hải Lăng, Quảng Trị

    20

    10/7/2013 5:22 PM

    d. Sử dụng các mẫu bài tập:

    1. Tạo bài tập trắc nghiệm:

    Violet cho phép tạo được 4 kiểu bài tập trắc nghiệm:

    a. Một đáp án đúng: chỉ cho phép chọn 1 đáp án

    b. Nhiều đáp án đúng: cho phép chọn nhiều đáp án một lúc

    c. Đúng/Sai: với mỗi phương án sẽ phải trả lời là đúng hay sai

    d. Câu hỏi ghép đôi: Kéo thả các ý ở cột phải vào các ý tương ứng ở cột trái để được kết quả đúng.

    Lê Dõng – Tiểu học số 1 Hải Ba, Hải Lăng, Quảng Trị

    21

    10/7/2013 5:22 PM

    a, Bài tập trắc nghiệm: Một đáp án đúng.

    Đang ở trang màn hình soạn thảo  Công cụ  Bài tập trắc nghiệm.

    Cửa sổ nhập mẫu bài tập trắc nghiệm hiện lên:

    + Kiểu : “Một đáp án đúng”

    + Câu hỏi: nhập nội dung

    câu hỏi.

    + Phương án: nhập

    phương án.

    Lê Dõng – Tiểu học số 1 Hải Ba, Hải Lăng, Quảng Trị

    22

    10/7/2013 5:22 PM

    Chú ý:

    + Muốn thêm một phương án kích

    vào dấu + phía dưới.

    + Muốn bớt một phương án kích vào dấu – phía dưới.

    + Chỉ đánh một dấu tích duy nhất ở phương án mà chúng ta cho là đúng trong phần “Kết quả”.

    – B6: Kích vào nút “Đồng ý” và tiếp tục kích vào nút “Đồng ý”

    Lê Dõng – Tiểu học số 1 Hải Ba, Hải Lăng, Quảng Trị

    23

    10/7/2013 5:22 PM

    Ví dụ 1: Bài tập trắc nghiệm: Một đáp án đúng.

    Các khẳng định sau là đúng hay sai? Hãy đánh dấu vào ô trống:

    a) Một số chia hết cho 3 thì số đó chia hết cho 9

    b) Một số chia hết cho 9 thì số đó chia hết cho 3

    Lê Dõng – Tiểu học số 1 Hải Ba, Hải Lăng, Quảng Trị

    24

    10/7/2013 5:22 PM

    – Sau khi nhập xong, ta nhấn nút “Đồng ý” sẽ được màn hình bài tập trắc nghiệm như sau:

    Lê Dõng – Tiểu học số 1 Hải Ba, Hải Lăng, Quảng Trị

    25

    10/7/2013 5:22 PM

    b, Bài tập trắc nghiệm: Nhiều đáp án đúng.

    Đang ở trang màn hình soạn thảo  Công cụ  Bài tập trắc nghiệm.

    Cửa sổ nhập mẫu bài tập trắc nghiệm hiện lên:

    + Kiểu : “Một đáp án đúng”

    + Câu hỏi: nhập nội dung

    câu hỏi.

    + Phương án: nhập

    phương án.

    Lê Dõng – Tiểu học số 1 Hải Ba, Hải Lăng, Quảng Trị

    26

    10/7/2013 5:22 PM

    Chú ý:

    + Muốn thêm một phương án kích

    vào dấu + phía dưới.

    + Muốn bớt một phương án kích vào dấu – phía dưới.

    + Chỉ đánh dấu tích vào các phương án mà chúng ta cho là đúng trong phần “Kết quả”.

    – B6: Kích vào nút “Đồng ý” và tiếp tục kích vào nút “Đồng ý”

    Lê Dõng – Tiểu học số 1 Hải Ba, Hải Lăng, Quảng Trị

    27

    10/7/2013 5:22 PM

    Ví dụ 2: Trắc nghiệm nhiều đáp án đúng:

    Các khẳng định sau là đúng hay sai?

    a) Một số chia hết cho 9 thì số đó chia hết cho 3

    b) Một số chia hết cho 3 thì số đó chia hết cho 9

    c) Một số chia hết cho 15 thì số đó chia hết cho 3

    Lê Dõng – Tiểu học số 1 Hải Ba, Hải Lăng, Quảng Trị

    28

    10/7/2013 5:22 PM

    Sau khi nhập xong, ta nhấn nút “Đồng ý” sẽ được màn hình bài tập trắc nghiệm như sau:

    Lê Dõng – Tiểu học số 1 Hải Ba, Hải Lăng, Quảng Trị

    29

    10/7/2013 5:22 PM

    c, Bài tập trắc nghiệm: Đúng/Sai.

    – Đang ở trang màn hình soạn thảo  Công cụ  Bài tập trắc nghiệm.

    Cửa sổ nhập mẫu bài tập trắc nghiệm hiện lên:

    + Kiểu : “Một đáp án đúng”

    + Câu hỏi: nhập nội dung

    câu hỏi.

    + Phương án: nhập

    phương án.

    Lê Dõng – Tiểu học số 1 Hải Ba, Hải Lăng, Quảng Trị

    30

    10/7/2013 5:22 PM

    Chú ý:

    + Muốn thêm một phương án kích

    vào dấu + phía dưới.

    + Muốn bớt một phương án kích vào dấu – phía dưới.

    + Chỉ đánh dấu tích vào các phương án mà chúng ta cho là đúng trong phần “Kết quả”.

    – B6: Kích vào nút “Đồng ý” và tiếp tục kích vào nút “Đồng ý”

    Lê Dõng – Tiểu học số 1 Hải Ba, Hải Lăng, Quảng Trị

    31

    10/7/2013 5:22 PM

    Ví dụ 3: Trắc nghiệm đúng/sai.

    Các khẳng định sau là đúng hay sai?

    a) Cá là con vật sống trên cạn.

    b) Cá là con vật sống dưới nước.

    Lê Dõng – Tiểu học số 1 Hải Ba, Hải Lăng, Quảng Trị

    32

    10/7/2013 5:22 PM

    d, Bài tập trắc nghiệm: Ghép đôi.

    Đang ở trang màn hình soạn thảo  Công cụ  Bài tập trắc nghiệm.

    Cửa sổ nhập mẫu bài tập trắc nghiệm hiện lên:

    + Kiểu : “Ghép đôi”

    + Câu hỏi: nhập nội dung câu hỏi.

    + Phương án: nhập phương án.

    + Kết quả: nhập nội dung để kết

    hợp với nội dung bên mục phương

    án sao cho co ý nghĩa.

    Lê Dõng – Tiểu học số 1 Hải Ba, Hải Lăng, Quảng Trị

    33

    10/7/2013 5:22 PM

    Chú ý:

    + Muốn thêm một phương án kích

    vào dấu + phía dưới.

    + Muốn bớt một phương án kích vào dấu – phía dưới.

    + Các phương án và kết quả nhập không được giống nhau

    – B6: Kích vào nút “Đồng ý” và tiếp tục kích vào nút “Đồng ý”

    Lê Dõng – Tiểu học số 1 Hải Ba, Hải Lăng, Quảng Trị

    34

    10/7/2013 5:22 PM

    Ví dụ 4: Trắc nghiệm”Ghép đôi”.

    Hãy kéo mỗi ý ở cột trái đặt vào một dòng tương ứng ở cột phải để có kết quả đúng.

    * Lê Dõng-Trường Tiểu học số 1 Hải ba * Slide: 34

    Lê Dõng – Tiểu học số 1 Hải Ba, Hải Lăng, Quảng Trị

    35

    10/7/2013 5:22 PM

    – Ta thực hiện các bước làm như bài tập trên, song phải chọn kiểu bài tập là “Ghép đôi”, và chú ý khi soạn thảo phải luôn đưa ra kết quả đúng đằng sau mỗi phương án. Sau đó, Violet sẽ trộn ngẫu nhiên các kết quả để người làm bài tập sắp xếp lại.

    Lê Dõng – Tiểu học số 1 Hải Ba, Hải Lăng, Quảng Trị

    36

    10/7/2013 5:22 PM

    Nhấn nút đồng ý ta được:

    Lê Dõng – Tiểu học số 1 Hải Ba, Hải Lăng, Quảng Trị

    37

    10/7/2013 5:22 PM

    – Đang ở trang màn hình soạn thảo  Công cụ  Bài tập ô chữ

    Cửa sổ nhập mẫu bài tập ô chữ hiện lên:

    + Câu hỏi hàng dọc: nhập nội dung câu hỏi hàng dọc.

    + Từ trả lời: nhập câu trả lời.

    + Câu hỏi hàng ngang:

    – Câu hỏi 1,2, ….: nhập nội dung các câu hỏi hàng ngang.

    * Từ trả lời: đáp án trả lời

    2, Bài tập ô chữ.

    Lê Dõng – Tiểu học số 1 Hải Ba, Hải Lăng, Quảng Trị

    38

    10/7/2013 5:22 PM

    a, Bài tập kéo thả chữ: Kéo thả chữ.

    – Bôi đen các chữ muốn

    kéo thả và kích vào nút “Chọn chữ” “Tiếp tục” Thêm chữ để nhập các phương án nhiễu.

    Lê Dõng – Tiểu học số 1 Hải Ba, Hải Lăng, Quảng Trị

    42

    10/7/2013 5:22 PM

    Ví dụ 6: Bài tập kéo thả chữ.

    Sau khi soạn xong, nhấn nút “Đồng ý” ta sẽ thu được một trang bài tập ô chữ

    Lê Dõng – Tiểu học số 1 Hải Ba, Hải Lăng, Quảng Trị

    43

    10/7/2013 5:22 PM

    b, Bài tập kéo thả chữ: Điền khuyết.

    * Lê Dõng-Trường Tiểu học số 1 Hải ba * Slide: 43

    – Đang ở trang màn hình soạn thảo  Công cụ  Bài tập kéo thả chữ. Cửa sổ nhập mẫu bài tập kéo thả chữ hiện lên: Nhập nội dung văn bản

    – Bôi đen các chữ muốn

    kéo thả và kích vào nút “Chọn chữ” “Tiếp tục”

    “Đồng ý”

    Lê Dõng – Tiểu học số 1 Hải Ba, Hải Lăng, Quảng Trị

    44

    10/7/2013 5:22 PM

    Ví dụ 7: Bài tập điền khuyết.

    Sau khi soạn xong, nhấn nút “Đồng ý” ta sẽ thu được một trang bài tập ô chữ

    Lê Dõng – Tiểu học số 1 Hải Ba, Hải Lăng, Quảng Trị

    45

    10/7/2013 5:22 PM

    c, Bài tập kéo thả chữ: Ẩn hiện chữ.

    – Đang ở trang màn hình soạn thảo  Công cụ  Bài tập kéo thả chữ. Cửa sổ nhập mẫu bài tập kéo thả chữ hiện lên:

    + Kiểu : “Ẩn hiện chữ”, nhập nội dung văn bản ở

    phía bên dưới.

    + Bôi đen các chữ muốn Ẩn hiện chữ và kích vào nút “Chọn chữ” Kích vào nút “Đồng ý”

    Chú ý: thường dùng để chữa bài

    Lê Dõng – Tiểu học số 1 Hải Ba, Hải Lăng, Quảng Trị

    46

    10/7/2013 5:22 PM

    Ví dụ 8: Bài tập hiện/ẩn.

    Sau khi soạn xong, nhấn nút “Đồng ý” ta sẽ thu được một trang bài tập ô chữ

    Lê Dõng – Tiểu học số 1 Hải Ba, Hải Lăng, Quảng Trị

    47

    10/7/2013 5:22 PM

    B. Tạo văn bản nhiều định dạng

    – Đang ở trang màn hình soạn thảo.

    – Màn hình soạn thảo nhiều định dạng cho phép ta copy một đối tượng bất kỳ thuộc các ứng dụng khác để dán vào violet.

    – Chú ý ở trang Violet chỉ dùng được thao tác dán bằng phím Ctrl+V

    Lê Dõng – Tiểu học số 1 Hải Ba, Hải Lăng, Quảng Trị

    48

    10/7/2013 5:22 PM

    . Ví dụ màn hình tạo văn bản nhiều định dạng đã soạn xong như sau:

    Trong quá trình thực hành bài giảng, nếu có vấn đề gì vướng mắc xin quý thầy cô liên lạc:

    – Lê Dõng – Trường Tiểu học số 1 Hải Ba.

    Phone:

    + Cơ quan: 0533.875.266

    + Nhà riêng: 0533.875.573

    + Di động: 0915.004.573

    – Email: kimdong68@yahoo.com.vn

    – Hoặc trao đổi qua Diễn đàn của trang Webs cá nhân:

    http://music.easyvn.com/kimdong68

    Chào tạm biệt

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Soạn Bài Hai Đứa Trẻ
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Kỹ Năng Sống
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Phong Cách Hồ Chí Minh
  • Soạn Bài Phong Cách Hồ Chí Minh
  • Hướng Dẫn Soạn Tiếng Anh Lớp 3 Unit 12: This Is My House
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100