Top 3 # Soạn Văn Lớp 7 Bài Hồi Hương Ngẫu Thư Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Maiphuongus.net

Soạn Bài: Hồi Hương Ngẫu Thư Ngữ Văn Lớp 7

Soạn bài Hồi hương ngẫu thư Soạn bài: Hồi hương ngẫu thư Ngữ văn lớp 7 được VnDoc biên soạn bám sát theo nội dung sách giáo khoa Ngữ văn lớp 7 giúp các em học sinh ôn tập, từ đó học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 7 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 7: Luyện tập cách làm văn bản biểu cảm Soạn bài lớp 7: Quan hệ từ Soạn bài lớp 7: Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn 1. Qua tiêu đề bài thơ, có thể thấy sự biểu hiện tình quê hương ở bài thơ này có …

Soạn bài Hồi hương ngẫu thư

Soạn bài: Hồi hương ngẫu thư Ngữ văn lớp 7 được VnDoc biên soạn bám sát theo nội dung sách giáo khoa Ngữ văn lớp 7 giúp các em học sinh ôn tập, từ đó học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 7 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. 1. Qua tiêu đề bài thơ, có thể thấy sự biểu hiện tình quê hương ở bài thơ này có gì độc đáo?

Tình cảm quê hương thể hiện ở tên bài thơ

Tên bài thơ là Hồi hương ngẫu thư nghĩa là ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê. Hạ Tri Chương tác giả bài thơ thi đậu tiến sĩ làm quan trên 50 năm ở Trường An mới về quê. Điều này đáng trân trọng đúng như hai câu thơ nổi tiếng của Khuất Nguyên: “Hồ tử tất thủ khâu. Quyện điểu quy cựu lâm. (Cáo chết tất quay đầu về phía núi gò. Chim mỏi tất bay về rừng cũ.) Ngẫu thư là ngẫu nhiên viết chứ không phải là tình cảm phát sinh bộc lộ một cách ngẫu nhiên. Nói ngẫu nhiên viết vì nhà thơ không chủ định viết. Nhưng do tình huống bị gọi là “khách” ở cuối bài làm tác giả xót xa là duyên cớ ngẫu nhiên ông phải chấp bút đề thơ.

Đằng sau duyên cớ ngẫu nhiên đó là một điều kiện tất yếu đó là tình yêu sâu nặng, luôn luôn canh cánh trong lòng bất cứ lúc nào cũng có thể thổ lộ ra của nhà thơ. Có thể so sánh tình cảm đó như một sợi dây đàn căng thẳng và chỉ cần chi tiết chân thực nhưng vô lí ở cuối bài va đập vào là ngân lên, ngân mãi.

2. Chứng minh hai câu đầu đã dùng phép đối trong câu (còn gọi là tiểu đôi, tự đối). Nêu tác dụng của việc dùng phép đối ấy.

Câu 1: Thiếu tiểu li gia lão đại hồi.

Số chữ của hai vế đối không bằng nhau 4/3, song xét về từ loại và cú pháp hai vế vẫn có thể đối với nhau rất chỉnh.

Câu 2: Hương âm vô cải/mấn mao tồi cũng thế, có một bộ phận đối chỉnh ý lẫn lời (hương âm, mẩn mao), một bộ phận tuy đối không thật chỉnh về lời song rất chỉnh về ý (vô cải, tồi) và cả chức năng ngữ pháp (vô cải, tồi) đều có chức năng vị ngữ.

Câu 1 là câu kể tóm tắt quãng đời xa quê làm quan, cho thấy sự thay đổi về vóc người, về tuổi tác, hé mở tình cảm quê hương của tác giả.

Câu 2 là câu tả, sử dụng yếu tố thay đổi (mẩn mao: Tóc mai) làm nổi bật yếu tố không thay đổi (hương âm: Giọng quê). Nhà thơ dùng chi tiết chân thực có tính tượng trưng ấy để làm nổi bật tình yêu quê hương.

Như thế, dù là câu kể hay tả, tảc giả đều sử dụng phép đối để gián tiếp bộc lộ tình cảm gắn bó với quê hương.

3. Câu thơ 1 và 2 sử dụng các phương thức biểu đạt nào?

Phương thức

Tự sự

Miêu tả

Biểu cảm

Biểu cảm qua tự sự

Biểu cảm qua miêu tả

diễn đạt

Câu 1

X

X

Câu 2

X

X

Như trên đã nói, câu 1 là câu kể, câu 2 là câu tả. Phương thức diễn đạt toàn bài là biểu cảm nhưng là biểu cảm gián tiếp vì trong bài nói chung là có nhiều yếu tố miêu tả đặc biệt là rất nhiều yếu tố tự sự!

4. Sự biểu hiện tình quê hương ở hai câu trên và hai câu dưới có gì khác nhau về giọng điệu?

Mối liên hệ chặt chẽ giữa hai câu trên và câu dưới

Sau hơn 50 năm xa quê làm quan ở kinh đô Trường An, Hạ Tri Chương trở lại quê hương. Không chỉ tác giả đã quá nhiều thay đổi (vóc người, tuổi tác, mái tóc) mà cả quê hương cũng thay đổi lớn lao. Tình cảm quê hương của nhà thơ không chỉ thể hiện ở chi tiết hương âm vô cải (giọng quê không đổi) mà còn ở thái độ đau xót ngậm ngùi trước bao đổi thay của nơi chôn nhau cắt rốn.

Cái độc đáo của hai câu thơ dưới về mặt nghệ thuật là tác giả đã dùng những hình ảnh vui tươi, những âm thanh vui tươi để bộc lộ tình cảm đau xót. Quê hương chỉ còn trẻ con ra đón nghĩa là người lớn, những kẻ cùng tuổi với nhà thơ đã chẳng còn ai. Thời bấy giờ sống đến 70 đã được xem là “cổ lai hi” (xưa nay hiếm) huống hồ Hạ Tri Chương lúc này đã 86 tuổi. Cái đau xót của ông chính là ở chỗ trở về nơi cắt rốn chôn nhau lại bị xem như là “khách”. Dẫu biết rằng các cháu nhi đồng hiếu khách nên đã cười hỏi tiếp đón. Nhưng các em càng niềm nở tươi cười bao nhiêu thì nỗi lòng nhà thơ càng đau xót bấy nhiêu. Phía sau những lời thơ tường thuật có vẻ như vô tư, khách quan ấy là một giọng điệu bi hài thấp thoáng ẩn hiện.

Cho thuê phòng trọ Cho thuê phòng trọ hà nội Cho thuê phòng quận 7 Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ

Tìm Hiểu Bài Hồi Hương Ngẫu Thư ( Văn Lớp 7)

Trong chương trình ngữ văn ở nhà trường (THCS-THPT) có một số bài thơ Đường ngắn rất hay, qua mấy mươi năm đưa vào giảng dạy được thầy cô giáo tâm đắc và học sinh thích thú vì dễ hiểu và cảm nhận được.

Đó là các bài Vọng Lư Sơn bộc bố, Tĩnh dạ tư (THCS), Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng của Lý Bạch. Đặc biệt bài Hồi hương ngẫu thư (THCS) của Hạ Tri Chương để lại ấn tượng sâu sắc cho HS về một áng thơ Đường ra đời hơn một ngàn năm mà đối với các em vẫn như “tựa hôm qua” (thơ Tế Hanh). Hạ Tri Chương (659-744) tự QuýChân, hiệu “Tứ Minh cuồng khách”, người Vĩnh Hưng, Việt Châu (nay thuộc Tiêu Sơn, tỉnh Chiết Giang). Năm 695 ông đậu tiến sĩ, làm quan trên 50 năm ở Trường An. Ông thích uống rượu, kết thân với Lý Bạch, là một trong “Ngô trung tứ sĩ”, tự xưng “Tứ minh cuồng khách”. Tính tình phóng khoáng, thích đàm tiếu, làm quan lâu năm vì “hoảng sợ bệnh tật” và “muốn về làng” nên sau hơn 50 năm xa quê năm 86 tuổi ông trở về thăm quê ở Vĩnh Hưng, Việt Châu (nay thuộc Tiêu Sơn, tỉnh Chiết Giang). Từ biệt rất lâu nay đến tuổi già lão Hạ Tri Chương mới về quê thăm nên có nhiều cảm xúc ngỡ ngàng và xa lạ. Ông đã làm hai bài thơ nhan đề Hồi hương ngẫu thư (ngẫu nhiên về làng viết). Bài thứ nhất như sau: Thiếu tiểu ly gia lão đại hồi, Hương âm vô cải mấn mao tồi. Nhi đồng tương kiến bất tương thức, Tiếu vấn: “Khách tòng hà xứ lai?” Dịch thơ: Khi đi trẻ, lúc về già Giọng quê vẫn thế, tóc đà khác bao. Trẻ con nhìn lạ không chào, Hỏi rằng: “Khách ở chốn nào lại chơi?” (Phạm Sĩ Vĩ) Đầu đề bài thơ có 4 chữ (từ), chữ “ngẫu” được hiểu là tác giả trở về làng lúc đã quá già nên chỉ có ý định về làng thăm quê sau hơn nửa thế kỷ xa cách mà không có ý sáng tác. Đây là lần trở về quê đầu tiên và cũng có thể là lần cuối. Nhưng vừa đặt chân đến quê thì cảm xúc dâng trào nên tác giả “ngẫu hứng” mà sáng tác bài thơ này. Bài thơ theo thể thất ngôn tuyệt cú, lời lẽ đơn giản, dễ hiểu nhưng trở nên bất hủ và rất được truyền tụng xưa nay, và nó đều được đưa vào chương trình ngữ văn ở nhà trường phổ thông Trung Quốc (sơ trung), Việt Nam (THCS).

1. Bài thơ có 4 câu, hai câu đầu (1, 2) tác giả nói về sự thay đổi của bản thân và hai câu sau (3, 4) diễn tả cảm nghĩ của mình về sự thay đổi của quê sau bao năm dài xa cách. Ở hai câu đầu tác giả tự đặt mình vào hoàn cảnh vừa quen thân vừa xa lạ đối với quê hương khi trên đường trở về. Tâm tình của tác giả lúc này là “không bình tĩnh” với tâm trạng bồn chồn, lo lắng. Nguyên nhân của sự “không bình tĩnh” ấy là lời “tự thuật” khi từ biệt quê nhà ra đi tác giả còn ấu thơ (thiếu tiểu) và khi trở về thì đã quá già lão (lão đại). Câu thơ chỉ có 7 chữ mà đối từng chữ (thiếu tiểu – lão đại; ly – hồi). Ở câu 1 xuất hiện chữ “gia” (nhà) rất gần gũi và thân quen. Cái nơi gần gũi, thân quen “chôn nhau cắt rốn”, “cất tiếng chào đời” ấy trở nên nghẹn ngào làm sao khi tác giả nhớ lại phải “ly gia” (xa cách ngôi nhà) để ra đi từ lúc còn quá bé nhỏ (thiếu tiểu). Xót xa, ngậm ngùi hơn là chính con người ấy nay lại trở về nhà vào lúc tuổi xế chiều “gần đất xa trời”. Một câu thơ có hai vế đối: “Thiếu tiểu ly gia” đối với “lão đại hồi” vừa chỉnh vừa hay. Câu thơ 1 được chuyển tiếp và làm rõ hơn ở câu 2. Nếu câu 1 là sự thay đổi về thời gian năm tháng thì ở câu 2 tác giả làm nổi bật sự thay đổi rất lớn của bản thân ở hai khía cạnh là tâm hồn bên trong và hình dạng bên ngoài. Trong khi hình dáng bên ngoài sau bao năm ra đi và xa cách nay trở về râu và tóc của tác giả đã bạc phơ và thưa rụng đi rất nhiều (mấn mao tồi). Cái mà tác giả rất tự hào và có thể nói “hành trang” trở về rất quí giá của mình, đó là tấm lòng, tình cảm được thể hiện qua giọng nói của quê nhà vẫn không thể thay đổi (hương âm vô cải). Nếu câu 1 tác giả gọi “gia” (nhà) là của riêng mình thì ở câu 2 nhà thơ lại dùng chữ “hương” (làng) rộng lớn, bao quát, thân thiết và gắn bó hơn. Câu 2 cũng có hai vế đối. Chữ “hương âm” (giọng quê) không thay đổi (vô cải) cho dù “mấn mao” (râu tóc) đã thay đổi (tồi). Câu thơ này ngụ ý tác giả muốn nói rằng “tôi không quên quê hương nhưng quê hương còn nhớ tôi không?” (Ngã bất vong cố hương, cố hương khả hoàn nhận đắc ngã ma?). 2. Câu 3, 4 miêu tả sự thay đổi của quê hương từ bức tự họa tràn đầy cảm khái tác giả chuyển sang câu chuyện giàu kịch tính mà trọng tâm là sự xuất hiện hình ảnh đứa trẻ (nhi đồng). Hai câu đầu nhân vật chính là tác giả (thiếu tiểu – lão đại), hai câu sau có hai nhân vật, một già (lão đại) và một đứa trẻ của làng (nhi đồng). Nếu như ở hai câu thơ đầu tác giả háo hức và mơ ước được nhanh chóng trở về quê lúc tuổi già sức yếu thì ở hai câu thơ sau nhà thơ cảm thấy bị hụt hẫng, ngỡ ngàng vì quê hương mà mình khắc khoải mong trở về trở nên xa lạ. Đứa trẻ làng (ở tuổi chắt) nhìn thấy một ông lão rất già nhưng nó dửng dưng, xa lạ, không quen biết và không hề chào hỏi một câu (nhi đồng tương kiến bất tương thức). Câu thơ chỉ có 7 chữ với hai từ lặp (tương – nhìn thấy nhau và không quen biết nhau). Kịch tính của bài thơ được mở ra từ đây. Câu thơ không nói nhưng tác giả tỏ ra không vui và trách giận một đứa trẻ làng gặp ông, nhìn thấy ông mà xa lạ, không lễ phép đối với người già đáng tuổi cụ. Từ thái độ giận trách tác giả chuyển sang thái độ là tự trách mình, tự hỏi mình. Ông chợt nghĩ rằng đứa trẻ không có lỗi, thái độ “xử sự” của nó là đúng. Ông đã trở nên xa lạ trên quê hương mình. Bài học rút ra ở ông lúc này chính là cách “xử sự” của đứa trẻ đối với những ai xa quê lại hờ hững mà ít gắn bó với quê bao nhiêu năm xa cách nay mới trở về. Tác giả – một nhà thơ lớn – làm quan lớn rời bỏ quê hương ra đi nay trở về với “tinh chất” là “Hương âm vô cải” nhưng lại trở nên xa lạ ngay trên quê hương thân yêu của mình mà người “chỉ ra” sự xa cách, xa lạ đó là đứa trẻ làng đáng yêu. 3. Câu thơ cuối (câu kết) rất hay, kịch tính được “thắt” (câu 3) và được “mở” với hình ảnh thân thiện hồn nhiên và lễ phép của đứa trẻ. Từ chỗ nhìn thấy (tương kiến) mà không quen biết (bất tương thức) đứa trẻ có một thái độ cởi mở, niềm nở với ông già (tiếu vấn). Sau nụ cười là một câu hỏi cũng phát ra từ miệng của đứa trẻ thơ: “Ông là khách từ nơi đâu đến?” (Khách tòng hà xứ lai?). Câu thơ có một lời thoại – một lời hỏi của đứa trẻ mà người đáp là ông già (tác giả) – không có trả lời. Chữ “khách” tác giả sử dụng ở đây thật tài tình được coi là “thi nhãn” của bài thơ này. Tác giả là chủ làng, già làng ra đi nay trở về là “khách” còn đứa trẻ làng là kẻ hậu bối mấy đời nay trở nên là “chủ”. Nó sẽ rất tự hào và hãnh diện là “chủ” của quê hương trong hiện tại và tương lai. Với những ai từng là “con em” và “chủ” của làng ra đi lâu ngày không còn thân thiết, gắn bó nữa nếu không có ý thức về quê hương sẽ trở nên là “khách” xa lạ ngay trên nơi chôn nhau cắt rốn và cất tiếng chào đời. Nhà thơ không trả lời được câu hỏi đơn giản của đứa trẻ và tác giả cũng nhận thức ra rằng không thể trả lời! Sau câu hỏi này chắc chắn tác giả sẽ lại phải ra đi vì mình là “khách” của quê hương rồi. 4. Hồi hương ngẫu thư của Hạ Tri Chương tuy ngắn mà hay, sâu xa, ý tứ ít có thi phẩm nào sánh kịp. Bài thơ có không gian, thời gian, con người và sự việc. Bài thơ có hai nhân vật, một lời thoại, có kịch tính dâng trào và có sự hài hước. Yếu tố tự vấn, tự trách, giận mà thương thể hiện khá rõ trong bài thơ. Bài thơ như một màn kịch có bối cảnh, nhân vật đọc lên ai nấy cũng có cảm giác là “xem” một vở hài kịch thân thương. Cảm xúc trước bài thơ này sinh thời nhà thơ Chế Lan Viên sau mấy mươi năm xa quê thuở trai trẻ một thời ở huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định sau ngày giải phóng trở về thăm lại, nhân nhớ đến bài Hồi hương ngẫu thư của Hạ Tri Chương ông đã làm bài thơ Trở lại An Nhơn. Trở lại An Nhơn tuổi đã lớn rồi, Bạn chơi ngày nhỏ chẳng còn ai? Nền nhà cũ xây cơ quan mới, Chẳng lẽ thăm quê lại hỏi người.

Soạn Bài: Hồi Hương Ngẫu Thư Trang 125 Sgk Ngữ Văn 7

Soạn bài: Hồi hương ngẫu thư trang 125 SGK Ngữ văn 7

Chứng minh hai câu đầu đã dùng phép đối trong câu (còn gọi là tiểu đối, tự đối). Nêu tác dụng của việc dùng phép đối ấy.

1: Qua tiêu đề bài thơ, có thế thây sự biểu hiện tình quê hương ở bài thơ này có gì độc đáo?

Tình cảm quê hương thể hiện ở tên bài thơ

Tên bài thơ là Hồi hương ngẫu thư nghĩa là ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê. Hạ Tri Chương tác giả bài thơ thi đậu tiến sĩ làm quan trên 50 năm ở Trường An mới về quê. Điều này đáng trân trọng đúng như hai câu thơ nổi tiếng của Khuất Nguyên: “Hồ tử tất thủ khâu. Quyện điểu quy cựu lâm. (Cáo chết tất quay đầu về phía núi gò. Chim mỏi tất bay về rừng cũ.) Ngẫu thư là ngẫu nhiên viết chứ không phải là tình cảm phát sinh bộc lộ một cách ngẫu nhiên. Nói ngẫu nhiên viết vì nhà thơ không chủ định viết. Nhưng do tình huống bị gọi ià “khách” ở cuối bài làm tác giả xót xa là duyên cớ ngẫu nhiên ông phải chấp bút đề thơ.

Đằng sau duyên cớ ngẫu nhiên đó là một điều kiện tất yếu đó là tình yêu sâu nặng, luôn luôn canh cánh trong lòng bất cứ lúc nào cũng có thể thổ lộ ra của nhà thơ. Có thể so sánh tình cảm đó như một sợi dây đàn căng thẳng và chỉ cần chi tiết chân thực nhưng vô lí ở cuối bài va đập vào là ngân lên, ngân mãi.

2: Chứng minh hai câu đầu đã dùng phép đối trong câu (còn gọi là tiểu đôi, tự đối). Nêu tác dụng của việc dùng phép đối ấy.

Câu 1: Thiếu tiểu li gia lão đại hồi.

Số chữ của hai vế đối không bằng nhau 4/3, song xét về từ loại và cú pháp hai vế vẫn có thể đối với nhau rất chỉnh.

Câu 2: Hương âm vô cải/mấn mao tồi cũng thế, có một bộ phận đối chỉnh ý lẫn lời (hương âm, mẩn mao), một bộ phận tuy đối không thật chỉnh về lời song rất chỉnh về ý (vô cải, tồi) và cả chức năng ngữ pháp (vô cải, tồi) đều có chức năng vị ngữ.

Câu 1 là câu kể tóm tắt quãng đời xa quê làm quan, cho thấy sự thay đổi về vóc người, về tuổi tác, hé mở tình cảm quê hương của tác giả.

Câu 2 là câu tả, sử dụng yếu tố thay đổi (mẩn mao.: tóc mai) làm nổi bật yếu tố không thay đổi (hương âm: giọng quê). Nhà thơ dùng chi tiết chân thực có tính tượng trưng ấy để làm nổi bật tình yêu quê hương.

Như thế, dù là câu kể hay tả, tảc giả đều sử dụng phép đối để gián tiếp bộc lộ tình cảm gắn bó với quê hương.

3: Câu thơ 1 và 2 sử dụng các phương thức biểu đạt nào?

Như trên đã nói, câu 1 là câu kể, câu 2 là câu tả. Phương thức diễn đạt toàn bài là biểu cảm nhưng là biểu cảm gián tiếp vì trong bài nói chung là có nhiều yếu tố miêu tả đặc biệt là rất nhiều yếu tố tự sự!

4: Sự biểu hiện tình quê hương ở hai câu trên và hai câu dưới có gì khác nhau về giọng điệu?

Mối liên hệ chặt chẽ giữa hai câu trên và câu dưới

Sau hơn 50 năm xa quê làm quan ở kinh đô Trường An, Hạ Tri Chương trở lại quê hương. Không chỉ tác giả đã quá nhiều thay đổi (vóc người, tuổi tác, mái tóc) mà cả quê hương cũng thay đổi lớn lao. Tình cảm quê hương của nhà thơ không chỉ thể hiện ở chi tiết hương âm vô cải (giọng quê không đổi) mà còn ở thái độ đàu xót ngậm ngùi trước bao đổi thay của nơi chôn nhau cắt rốn.

Cái độc đáo của hai câu thơ dưới về mặt nghệ thuật là tác giả đã dùng những hình ảnh vui tươi, những âm thanh vui tươi để bộc lộ tình cảm đau xót. Quê hương chỉ còn trẻ con ra đón nghĩa là người lớn,

những kẻ cùng tuổi với nhà thơ đã chẳng còn ai. Thời bấy giờ sống đến 70 đã được xem là “cổ lai hi” (xưa nay hiếm) huống hồ Hạ Tri Chương lúc này đã 86 tuổi. Cái đau xót của ông chính là ở chỗ trở về nơi cắt rốn chôn nhau lại bị xem như là “khách”. Dẫu biết rằng các cháu nhi đồng hiếu khách nên đã cười hỏi tiếp đón. Nhưng các em càng niềm nở tươi cười bao nhiêu thì nỗi lòng nhà thơ càng đau xót bấy nhiêu. Phía sau những lời thơ tường thuật có vẻ như vô tư, khách quan ấy là một giọng điệu bi hài thấp thoáng ẩn hiện.

Soạn Bài Hồi Hương Ngẫu Thư Của Hạ Tri Chương

Soạn bài Hồi hương ngẫu thư của Hạ Tri Chương ngữ văn lớp 7. I. Tìm hiểu chung 1. Tác giả – Hạ Tri Chương (654 – 769) – Tự là Quý Chân, hiệu là Tứ Minh cuồng khách – Sinh ra tại mảnh đất Triết Giang Trung Quốc – Ông là nhà thơ thời Đường – Ông là người học rộng tài cao, thi đỗ tiến sĩ và làm nhiều chức quan trong triều – Hạ Tri Chương thích uống rượu và tính tình thì rất hào phóng …

I. Tìm hiểu chung 1. Tác giả – Hạ Tri Chương (654 – 769) – Tự là Quý Chân, hiệu là Tứ Minh cuồng khách – Sinh ra tại mảnh đất Triết Giang Trung Quốc – Ông là nhà thơ thời Đường – Ông là người học rộng tài cao, thi đỗ tiến sĩ và làm nhiều chức quan trong triều – Hạ Tri Chương thích uống rượu và tính tình thì rất hào phóng – Ông để lại khoảng 20 bài thơ nhưng tròn đó nổi tiếng nhất phải kể đến tác phẩm hồi hương ngẫu thư.

– Nhà thơ về quê có những cái không đổi nhưng có những cái đã đổi khác rồi.

* Cái thay đổi: con người – ở đây là nhà thơ. Khi xưa còn trẻ sống ở nơi quê hương này nay về lại không phải là hình dáng của con người trước kia nữa. Dù vẫn là một tuy nhiên con người ấy đã chiêm nghiệm đời hơn xưa không còn hồn nhiên như xưa, mặt mũi thì nheo lại, tóc thì đã pha sương – một màu tóc bạc như sương như khói.

2. Tình huống của nhà thơ gặp phải khi về quê.

– Tác giả về quê gặp biết bao nhiêu người tuy nhiên khi làm bài thơ tác giả lại chọn nhân vật những cậu bé bởi vì những cậu bé ấy không sinh ra cùng thời với nhà thơ cho nên tất nhiên là không thể nào biết được nhà thơ. Tuy nhiên nhà thơ vẫn chọn đối tượng nhận biết mình là những cậu bé nhằm thể hiện sự xa xôi của mình đối với quê hương để khiến cho giờ đây biết bao nhiêu thế hệ con cháu ra đời mới về.

– Bài thơ thể hiện cảm xúc của nhà thơ khi về quê. Trong lần về quê ấy trong tác giả có biết bao nhiêu cảm xúc, vui có, buồn có, tự trách bản thân cũng có. Vui vì sau bao năm xa cách nay đã được về quê, biết bao nhiêu kỉ niệm thi nhau ùa về nhưng cũng lại buồn vì không có ai nhận ra mình. Đặc biệt tự trách bản thân khi đã lãng quên một miền quê yêu dấu