Top 7 # Soạn Văn Bài Từ Ghép Tiếp Theo Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Maiphuongus.net

Soạn Văn 8 Câu Ghép (Tiếp Theo)

Soạn Văn lớp 8 Câu ghép tập 1

VnDoc xin giới thiệu tới các bạn bài Soạn Văn 8: Câu ghép (tiếp theo) để tham khảo giúp các bạn học sinh nắm rõ kiến thức về câu ghép, cách nối các vế câu với nhau trong đoạn văn bản để từ đó học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 8 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.

Soạn bài Câu ghép tiếp theo

Ngoài ra, chúng tôi đã thành lập group chia sẻ tài liệu học tập THCS miễn phí trên Facebook: Tài liệu học tập lớp 8. Mời các bạn học sinh tham gia nhóm, để có thể nhận được những tài liệu mới nhất.

Soạn Văn 8 bài: Câu ghép (tiếp theo) Quan hệ ý nghĩa giữa các vế câu

Soạn văn 8 câu 1 trang 123 SGK tập 1

Câu 1 (trang 123 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

Quan hệ giữa các vế câu trong câu ghép là quan hệ nhân quả. Vế một là vế kết quả, các vế sau là nguyên nhân. Các vế được nối với nhau bằng từ nối “bởi vì”.

Soạn văn 8 câu 2 trang 123 SGK tập 1

Câu 2 (trang 123 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

Một số quan hệ ý nghĩa có thể có giữa các vế câu:

– Quan hệ đồng thời. VD: Trời càng mưa to, chúng tôi càng ướt nhẹp.

– Quan hệ điều kiện – kết quả. VD: Nếu chiếc áo không vừa thì tôi sẽ đem trả.

– Quan hệ tương phản. VD: Tuy món quà rất đẹp nhưng em không thích nó.

Luyện tập

Soạn văn 8 câu 1 trang 124 SGK tập 1

Câu 1 (trang 124 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

Soạn văn 8 câu 2 trang 124 SGK tập 1

Câu 2 (trang 124 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1): a + b.

– Đoạn văn của Vũ Tú Nam: Các câu ghép là 2, 3, 4,5. Quan hệ ý nghĩa nhân quả.

– Đoạn văn của Thi Sảnh: Các câu ghép là 2, 3. Quan hệ ý nghĩa đồng thời.

c. Không thể tách mỗi vế của các câu thành một câu đơn. Vì chúng có mối quan hệ bổ sung ý nghĩa lẫn nhau.

Soạn văn 8 câu 3 trang 125 SGK tập 1

Câu 3 (trang 125 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

– Xét về lập luận có thể tách mỗi vế của các câu ghép ấy thành câu đơn. Vì mỗi vế đã tương đối nội dung biểu đạt.

– Xét về mặt biểu hiện, những câu dài ấy diễn tả thành công tâm trạng nhân vật, phù hợp để thể hiện nhân vật: Người già hay nói dài, tính cẩn thận, chu đáo.

Soạn văn 8 câu 4 trang 125 SGK tập 1

Câu 4 (trang 125 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

a. Các vế của câu ghép thứ hai có quan hệ giả thiết – kết quả. Không nên tách thành các câu đơn. Vì hai vế được liên kết bởi cặp quan hệ từ, chúng có ý nghĩa gắn bó, liên kết với nhau.

b. Nếu ta tách mỗi vế của câu ghép 1 và 3 thành những câu đơn thì lời nói của nhân vật trở nên rời rạc, không thể hiện được sự khẩn thiết, khắc khoải trong lời nói và hành động của nhân vật.

Soạn Bài Câu Ghép (Tiếp Theo)

Soạn bài Câu ghép (tiếp theo)

Quan hệ ý nghĩa giữa các vế câu

Câu 1 (trang 123 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

Quan hệ giữa các vế câu trong câu ghép là quan hệ nhân quả. Vế một là vế kết quả, các vế sau là nguyên nhân. Các vế được nối với nhau bằng từ nối “bởi vì”.

Câu 2 (trang 123 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

Một số quan hệ ý nghĩa có thể có giữa các vế câu :

– Quan hệ đồng thời. VD : Trời càng mưa to, chúng tôi càng ướt nhẹp.

– Quan hệ điều kiện – kết quả. VD : Nếu chiếc áo không vừa thì tôi sẽ đem trả.

– Quan hệ tương phản. VD : Tuy món quà rất đẹp nhưng em không thích nó.

Luyện tập

Câu 1 (trang 124 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

Câu 2 (trang 124 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

a + b.

– Đoạn văn của Vũ Tú Nam : Các câu ghép là 2, 3, 4,5. Quan hệ ý nghĩa nhân quả.

– Đoạn văn của Thi Sảnh : Các câu ghép là 2, 3. Quan hệ ý nghĩa đồng thời.

c. Không thể tách mỗi vế của các câu thành một câu đơn. Vì chúng có mối quan hệ bổ sung ý nghĩa lẫn nhau.

Câu 3 (trang 125 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

– Xét về lập luận có thể tách mỗi vế của các câu ghép ấy thành câu đơn. Vì mỗi vế đã tương đối nội dung biểu đạt.

– Xét về mặt biểu hiện, những câu dài ấy diễn tả thành công tâm trạng nhân vật, phù hợp để thể hiện nhân vật : người già hay nói dài, tính cẩn thận, chu đáo.

Câu 4 (trang 125 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

a. Các vế của câu ghép thứ hai có quan hệ giả thiết – kết quả. Không nên tách thành các câu đơn. Vì hai vế được liên kết bởi cặp quan hệ từ, chúng có ý nghĩa gắn bó, liên kết với nhau.

b. Nếu ta tách mỗi vế của câu ghép 1 và 3 thành những câu đơn thì lời nói của nhân vật trở nên rời rạc, không thể hiện được sự khẩn thiết, khắc khoải trong lời nói và hành động của nhân vật.

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k7: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Soạn Bài Câu Ghép Tiếp Theo Ngữ Văn Lớp 8

Bài làm I. QUAN HỆ Ý NGHĨA GIỮA CÁC VẾ CỦA CÂU GHÉP

1. Quan hệ ý nghĩa giữa các vế của câu ghép trong ví dụ là quan hệ nguyên nhân- kết quả:

– Vế A: ý nghĩa khẳng định(kết quả)

– Vế B: biểu thị ý nghĩa giải thích (Nguyên nhân).

2. Những quan hệ ý nghĩa có thể có giữa các vế câu:

– Quan hệ nhượng bộ. Ví dụ: Mặc dù đường xa nhưng nó vẫn đi học đúng giờ.

– Quan hệ điều kiện- kết quả. Ví dụ: Nếu ai buồn phiền cau có thì gương mặt cũng buồn phiền câu có theo.

– Quan hệ nối tiếp. Ví dụ: Bé Lan phụng phịu rồi oà khóc.

– Quan hệ bổ sung. Ví dụ: Chị không nói gì nữ và khóc

– Quan hệ tương phản. Ví dụ: Tôi thích ăn kem còn Lan thích sữa chua

– Quan hệ lựa chọn. Ví dụ: Anh đọc hay tôi đọc.

– Quan hệ đồng thời. Ví dụ: Tôi đọc đoạn văn và trả lời câu hỏi.

– Quan hệ mục đích. Ví dụ: Để cha mẹ vui lòng thì em phải học tập tốt

II. LUYỆN TẬP

Bài tập 1:

Quan hệ nguyên nhân- kết quả

Quan hệ điều kiện – kết quả.

Quan hệ tăng tiến.

Quan hệ tương phản.

C1: Quan hệ nối tiếp

C2 Quan hệ nguyên nhân-kết quả

Bài tập 2:

a) Xác định câu ghép:

– Đoạn 1 có 4 câu ghép:

Trời xanh thẳm, biển cũng xanh thẳm như dâng cao lên, chắc nịch.

Trời rải mây trắng nhạt, biển mơ màng dịu hơi sương.

Trời âm u mây mưa, biển xám xịt nặng nề.

Trời ầm ầm dông gió, biển đục ngầu giận dữ

– Đoạn 2 có 2 câu ghép:

Buổi sớm, mặt trời lên ngang cột buồm, sương tan, trời mới quang.

Buổi chiều, nắng vừa nhạt, sương đã buông nhanh xuống biển.

b) Quan hệ ý nghĩa giữa các vế câu:

Đoạn 1: có quan hệ điều kiện-kết quả.

Đoạn 2: có quan hệ nguyên nhân-kết quả.

c) Không nên tách thành câu đơn vì mối quan hệ chặt chẽ của chúng.

Bài tập 3:

– Hai câu ghép rất dài:

“Việc thứ nhất: lão thì già…trông coi nó”

“Việc thứ hai: lão già yếu lắm rồi… hàng xóm gì cả”

– Xét về mặt lập luận, mỗi câu ghép trình bày một việc mà lão Hạc nhờ ông giáo. Nếu tách mỗi vế câu trong từng câu ghép thành một câu đơn thì không đảm bảo được tính mạch lạc của lập luận. Xét về giá trị biểu hiện, tác giả cố ý viết câu dài để tái hiện cách kể lể “dài dòng” của lão Hạc.

Bài tập 4:

a) Quan hệ ý nghĩa giữa các vế của câu ghép thứ hai là quan hệ điều kiện. Để thể hiện rõ mối quan hệ này, không nên tách mỗi vế thành một câu đơn.

b) Trong các câu ghép còn lại, nếu tách mỗi vế câu thành một câu đơn ( Thôi! U van con. U lạy con. Con thương thầy, thương u. Con đi ngay bây giờ cho u.) thì hàng loạt câu ngắn đặt cạnh nhau như vậy có thể giúp ta hình dung là nhân vật nói nhát gừng, hoặc nghẹn ngào. Trong khi đó, cách viết của Ngô Tất Tố gợi ra cách nói kể lể, van vỉ thiết tha của chị Dậu.

Bài Soạn Lớp 8: Câu Ghép (Tiếp Theo)

Ví dụ: Quan hệ ý nghĩa giữa các vế câu trong câu ghép sau đây là quan hệ gì ? Trong mối quan hệ đó ,mỗi vế câu biểu thị ý nghĩa gì ?

Có lẽ tiếng Việt của chúng ta đẹp bởi vì tâm hồn của người Việt Nam ta rất đẹp, bởi vì đời sống, cuộc đấu tranh của nhân dân ta từ trước đến nay là cao quý, là vĩ đại, nghĩa là rất đẹp.

(Phạm Văn Đồng, Giữ gìn sự trong sáng của tiếng việt)

Câu trên có 3 vế câu, giữa các vế câu trong câu ghép có quan hệ nhân quả. (nhận biết bởi từ “bởi vì”)

Vế 1: chỉ kết quả

Vế 2 và 3: chỉ nguyên nhân

Ví dụ 2: Hãy nêu thêm những quan hệ ý nghĩa có thể có giữa các vế câu cho ví dụ minh họa.

a. Nếu trời mưa thì tôi không đi học.

Có hai vế, các vế nối với nhau bởi cặp quan hệ từ: nếu …thì. Vế 1: giả thiết; vế 2: kết quả

b. Mặc dù gia đình gặp nhiều khó khăn nhưng em vẫn cố gắng học tập tốt.

Có hai vế, các vế nối với nhau bởi cặp quan hệ từ: mặc dù…nhưng.

c. Nam càng học giỏi bố mẹ càng vui.

Có hai vế, các vế nối với nhau bởi cặp phó từ: càng…càng.

d. Bạn làm hay tôi làm.

Có hai vế, các vế nối với nhau quan hệ từ: hay

e. Nó không những học giỏi mà nó còn rất chăm chỉ.

Có hai vế, các vế nối với nhau bởi cặp quan hệ từ: không những …mà còn

Ghi nhớ:

Các vế của câu ghép có quan hệ ý nghĩa với nhau khá chặt chẽ. Những quan hệ ý nghĩa thường gặp là: Quan hệ nguyên nhân – kết quả; Quan hệ điều kiện/ giả thiết – kết quả; Quan hệ tương phản; Quan hệ tăng tiến; Quan hệ lựa chọn; Quan hệ bổ sung; Quan hệ tiếp nối…

Mỗi quan hệ thường đánh dấu bằng những quan hệ từ , cặp quan hệ từ hoặc cặp từ hô ứng nhất định. Tuy nhiên để nhận biết chính xác quan hệ ý nghĩa giữa các vế câu, trong nhiều trường hợp, ta phải dựa vào văn cảnh hoặc hoàn cảnh giao tiếp.

a. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: hôm nay tôi đi học.

(Thanh Tịnh, Tôi đi học)

b. Nếu trong pho lịch sử loài người xoá các thi nhân, văn nhân và đồng thời trong tâm linh loài người xoá hết những dấu vết họ còn lưu lại thì cái cảnh tượng nghèo nàn sẽ đến bực nào!

(Hoài Thanh, Ý nghĩa văn chương)

c. Như vậy, chẳng những thái ấp của ta mãi mãi vững bền, mà bổng lộc các ngươi cũng đời đời hưởng thụ; chẳng những gia quyến của ta được êm ấm gối chăn, mà vợ con các ngươi cũng được bách niên giai lão; chẳng những tông miếu của ta sẽ được muôn đời tế lễ, mà tổ tông các ngươi cũng được thờ cúng quanh năm; chẳng những thân ta kiếp này đắc chí, mà đến các ngươi trăm năm về sau tiếng vẫn lưu truyền; chẳng những danh hiệu ta không bị mai một, mà tên họ các ngươi cũng sử sách lưu thơm.

(Trần Quốc Tuấn, Hịch tướng sĩ)

d. Tuy rét vẫn kéo dài, mùa xuân đã đến bên bờ sông Lương.

(Nguyễn Đình Thi)

e. Hai người giằng co nhau, du đẩy nhau, rồi ai nấy đều buông gậy ra, áp vào vật nhau […]. Kết cục, anh chàng “hầu cận ông lí” yếu hơn chị chàng con mọn, bị chị này túm tóc lẳng cho một cái, ngã nhào ra thềm.

(Ngô Tất Tố)

Trả lời:

a. Vế 1 và vế 2: quan hệ nguyên nhân – kết quả

Vế 3 giải thích cho vế 2

b. Quan hệ điều kiện (giả thiết ) – kết quả

c. Quan hệ tăng tiến

d. Quan hệ tương phản

e. Câu 1: Quan hệ tiếp nối

Câu 2: quan hệ nguyên nhân – kết quả

(a) Biển luôn thay đổi tuỳ theo màu sắc mây trời. Trời xanh thẳm, biển cũng thẳm xanh, như dâng cao lên chắc nịch. Trời rải mây trắng nhạt, biển mơ màng dịu hơi sương. Trời âm u mây mưa, biển xám xịt, nặng nề . Trời ầm ầm dông gió, biển đục ngầu giận giữ.

(b). Vào mùa sương, ngày ở Hạ Long như ngắn lại. Buổi sớm, mặt trời lên ngang cột buồm, sương tan, trời mới quang. Buổi chiều, nắng vừa nhạt, sương đã buông nhanh xuống mặt biển.

a. Tìm câu ghép trong những đoạn trích trên.

b. Xác định quan hệ ý nghĩa giữa các vế câu trong mỗi câu ghép.

c. Có thể tách mỗi vế câu nói trên thành một câu đơn không ? Vì sao?

Trả lời:

a. Câu ghép trong những đoạn trích trên:

Đoạn trích a:

Trời xanh thẳm, biển cũng xanh thẳm như dâng cao lên chắc nịch.

Trời rải mây trắng nhạt , biển mơ màng dịu hơi sương.

Trời âm u mây mưa , biển xám xịt nặng nề .

Trời ầm ầm dông gió , biển đục ngầu giận dữ…

Đoạn trích b:

Buổi sớm, mặt trời lên ngang cột buồm, sương tan, trời mới quang.

Buổi chiều nắng vừa nhạt, sương đã buông nhanh xuống mặt biển.

b. Xác định quan hệ giữa các vế câu:

Quan hệ giữa các vế câu ở đoạn trích 1 là quan hệ điều kiện- vế đầu chỉ điều kiện vế sau chỉ kết quả.

Quan hệ giữa các vế câu ở đoạn trích 2 là quan hệ nguyên nhân vế đầu chỉ nguyên nhân ,vế sau chỉ kết quả.

c. Không nên tách các vế của câu ghép thành câu riêng vì ý nghĩa các vế câu có quan hệ chặt chẽ với nhau.

Lão kể nhỏ nhẻ và dài dòng thật. Nhưng đại khái có thể rút vào hai việc. Việc thứ nhất: lão thì già, con đi vắng, vả lại cũng còn dại lắm, nếu không có người trông nom cho thì khó mà giữ được vườn đất để làm ăn ở làng này; tôi là người nhiều chữ nghĩa, nhiều lí luận, người ta kiêng nể, vậy lão muốn nhờ tôi cho lão gửi ba sào vườn của thằng con lão; lão viết văn tự nhượng cho tôi để không ai còn tơ tưởng dòm ngó đến; khi nào con lão về thì nó sẽ nhận vườn làm, nhưng văn tự cứ để tên tôi cũng được, để thế để tôi trông coi nó… Việc thứ hai: lão già yếu lắm rồi, không biết sống chết lúc nào, con không có nhà, lỡ chết không biết ai đứng ra lo cho được; để phiền cho hàng xóm thì chết không nhắm mắt; lão còn được hăm nhăm đồng bạc với năm đồng bạc vừa bán chó là ba mươi đồng bạc, muốn gửi tôi, để lỡ có chết thì tôi đem ra, nói với hàng xóm giúp, gọi là của lão có tí chút, còn bao nhiêu đành nhờ hàng xóm cả…

(Nam Cao, Lão Hạc)

Trả lời:

Gồm 2 câu ghép, mỗi câu gồm nhiều vế tập trung vào sự việc chú ý:

Sự việc 1: lão Hạc nhờ ông giáo giữ hộ mảnh vườn.

Sự việc 2: lão Hạc nhờ ông giáo giữ hộ tiền lo hậu sự.

Thôi, u van con, u lạy con, con có thương thầy, thương u, thì con đi ngay bây giờ cho u. Nếu con chưa đi, cụ Nghị chưa giao tiền cho, u chưa có tiền nộp sưu thì không khéo thầy con sẽ chết ở đình, chứ không sống được. Thôi, u van con, u lạy con, con có thương thầy, thương u, thì con đi ngay bây giờ cho u.

(Ngô Tất Tố, Tắt đèn)

a. Quan hệ ý nghĩa giữa các vế của câu ghép thứ hai là quan hệ gì? Có nên tách mỗi vế của câu thành một câu đơn không? Vì sao?

b. Thử tách mỗi vế trong các câu ghép thứ nhất và thứ ba thành một câu đơn. So sánh cách viết ấy với cách viết trong đoạn trích, qua mỗi cách viết, em hình dung nhân vật nói như thế nào ?

Trả lời:

a. Nếu con chưa đi, cụ Nghị chưa giao tiền cho, u chưa có tiền nộp sưu thì không khéo thầy con sẽ chết ở đình, chứ không sống được.

V1-V2-V3: quan hệ đồng thời.

b. Tách vế trong câu ghép 1,3 thành câu đơn:

Thôi, u van con. U lạy con. Con có thương thầy thương u. Con đi ngay bây giờ cho u.

Qua hai cách ta thấy:

Giữ nguyên câu ghép sẽ thể hiện rõ hơn giọng năn nỉ, tha thiết,đau đớn của chị Dậu.

Nếu tách câu ghép thành câu đơn thì sẽ mất đi tình cảm đau đớn, giống như mệnh lệnh.