Top #10 Soạn Văn 8 Bài Khoảng Trời Lá Thông Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 8/2022 # Top Trend | Maiphuongus.net

Giáo Án Ngữ Văn 8 Tuần 13 – Tiết 52 Văn Bản: Khoảng Trời Lá Thông

--- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Ngữ Văn 8: Khi Con Tu Hú
  • Soạn Bài Nhớ Rừng, Ngữ Văn Lớp 8 (2021) ▶️ Wiki 1 Phút ◀️
  • Soạn Bài: Viết Bài Tập Làm Văn Số 6
  • Bài Viết Số 2 Lớp 8 Văn Tự Sự Và Miêu Tả
  • Soạn Bài: Vào Nhà Ngục Quảng Đông Cảm Tác – Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Ngày dạy: 12/11/2011

    Tuần 13 – Tiết 52

    Văn bản: KHOẢNG TRỜI LÁ THÔNG

    – Phạm Đức Long -

    I. MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT

    Giới thiệu đến HS một tác phẩm hay của một trong các nhà thơ địa phương tỉnh Gia Lai.

    II. TRỌNG TẤM KIẾN THỨC, KĨ NĂNG, THÁI ĐỘ:

    1. Kiến thức:

    Với tình cảm chân thành tha thiết, tác giả đã miêu tả Plaay Ku trong thời gian khoảng vài thập kỉ trước với vẻ đẹp vừa mạnh mẽ, rắn rỏi, hung vĩ, khoáng đạt vừa hoang sơ, thơ mộng; con người ở đây tuy còn nghèo nhưng gắn bó tha thiết với nhau, với đất, với nghiệp thơ.

    2. Kĩ năng:

    Thấy được nghệ thuật độc đáo của bài thơ cách dung điệp câu, điệp ngữ và lối thơ có tính tự sự. .

    3. Thái độ:

    Biết trân trọng giữ gìn những tình cảm chân thành, tha thiết với mảnh đất và con người ở quê hương nơi mình sinh sống.

    III.CHUẨN BỊ:

    1. GV: Soạn bài ,bảng phụ ,và một số tài liệu khác phục vụ cho tiết dạy .

    2. HS : Đọc bài thơ và trả lời các câu hỏi sgk vào vở bài tập .

    IV. PHƯƠNG PHÁP:

    Vấn đáp, đàm thoại, phân tích

    IV. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC:

    1. Ổn định lớp :

    2. Kiểm tra bài cũ:

    GV kiểm tra sự chuẩn bị của hs (Yêu cầu lớp phó học tập báo cáo kết quả chuẩn bị bài của cả lớp )

    3. Bài mới :

    Giới thiệu bài: Vào giữa thập kỉ 80 (thế kỉ XX), PlayKu là một thị xã mang nhiều nét hoang sơ, thơ mộng của một thị xã cao nguyên: đường phố nhỏ uốn lượn, nhiều con dốc nhỏ, hai bên đường có những cây thông già nua, cổ kính. Đi giữa Plây Ku lúc ấy như lạc vào thế giới cổ tích, của Sử thi Tây Nguyên. Tất cả như lung linh, mờ ảo, lãng mạnĐời sống của người dân lúc bấy giờ còn rất chật vật, khó khăn nhưng họ sống yêu thương, gắn bó, chia sẻ với nhau một cách vô tư, trong sáng.

    Bài thơ “Khoảng trời lá thông” mà chúng ta sẽ tìm hiểu hôm nay được tác giả Phạm Đức Long gợi từ tứ hình ảnh cây thong – khoảng trời lá thông – một khoảng trời đẹp với vẻ đẹp tinh khiết, mơ mộng nhưng cũng đầy khí phách và phóng khoáng như chính cuộc đời của những con người “phố núi” mà tác giả muốn dành tặng cho bạn mình – nhà thơ Văn Công Hùng.

    HOẠT ĐỘNG CỦA GV & HS

    NỘI DUNG KIẾN THỨC.

    * Hoạt động 1:

    – GV yêu cầu HS đọc thông tin phần chú thích (*) trong SGK/tr 43 và tóm tắt sơ lược vài nét về tác giả, tác phẩm.

    – GV hướng dẫn HS cách đọc bài thơ:

    + Đây là bài thơ tự do, số chữ trong một dòng thơ không cố định, số dòng trong các khổ thơ cũng không đều nhau nên khi đọc phải ngắt nhịp cho đúng.

    + Giọng đọc cần thể hiện được âm điệu của bài thơ: như là lời thủ thỉ, tâm tình

    – Gv giới thiệu về các chú thích.

    * Hoạt động 2: Hướng dẫn Hs đọc – hiểu và phân tích văn bản.

    ? Hình ảnh cây thông gợi cho em những suy nghĩ gì?

    – HS trả lời.

    -GV nhận xét, bổ sung.

    Mở rộng: Nguyễn Công Trứ xưa có câu:

    Giữa trời vách đã cheo leo

    Ai mà chịu rét thì trèo với thông.

    ? Hình ảnh Play Ku xưa hiện ra trong bài thơ như thế nào?

    – GV h/d HS tìm những hình ảnh thơ, tập trung miêu tả về Play Ku.

    ? Xác định BPNT được t/g sử dụng trong những câu thơ sau?

    – HS: Điệp câu, điệp từ ngữ.

    ? Em có nhận xét gì về những câu thơ: nắng ràn rụa cháy/ gió thì thầm hát/ hương chín rụng như mơ/ dầu nắng dầu mưa – vẫn tinh khiết một sắc xanh óng ả?

    – HS trả lời.

    – Gọi HS đọc đoạn thơ từ: Tôi có tuổi hai mươi ở đóđến hết.

    ? Tác giả đã nói gì với bạn qua đoạn thơ vừa đọc?

    ? Phân tích đặc điểm nghệ thuật nổi bật trong bài thơ?

    – GV định hướng cho HS trả lời.

    * Hoạt động 3. Hd HS tổng kết.

    Trên cơ sở phân tích trên, cùng với phần Ghi nhớ trong sách HS, GV hướng dẫn HS khái quát lại giá trị của cả bài thơ.

    * Hoạt động 4: Hướng dẫn tự học.

    – Gọi 1 vài HS đọc lại diễn cảm bài thơ

    – Hướng dẫn HS tìm tại lớp những bài thơ có hình ảnh cây thông trong văn học Việt nam:

    + Bài Tùng – Nguyễn Trãi

    + Bài Không đề – Nguyễn Công Trứ

    – HS về nhà tự sưu tầm và chép vào sổ tích lũy văn học những tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp PlayKu.

    I. Tìm hiểu chung:

    1. Tác giả, tác phẩm:

    – Phạm Đức Long sinh năm 1960, quê ở Nghệ An, đang công tác tại Sở Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Gia Lai, hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Gia Lai.

    – Là một trong những cây bút của Gia Lai viết khá thành công về đề tài thiếu nhi.

    – Bài thơ “Khoảng trời lá thông” tác giả viết vào mùa xuân năm 1987 tặng riêng cho bạn mình là nhà thơ Văn Công Hùng.

    2. Đọc văn bản:

    3. Chú thích: (sgk)

    II. Tìm hiểu chi tiết:

    Cây thông và vẻ đẹp Plây Ku xưa:

    – Play Ku xưa hiện ra với:

    + Khoảng trời có ô

    + Khoảng trời có tán

    Thị xã Play Ku xưa với ngàn thông, một trời thông bao phủ gắn với con người Play Ku.

    + Nắng ràn rụa cháy

    + Gió thì thầm hát

    + Hương chín rụng như mơ

    + Dầu nắng dầu mưa – vẫn tinh khiết một sắc xanh óng ả.

    nổi bật vẻ đẹp của núi rừng Tây Nguyên: vừa rắn rỏi, hùng vĩ, khoáng đạt vừa thơ mộng, trong trẻo, thuần khiết.

    2. Tâm sự của tác giả với bạn:

    + Tôi có tuổi hai mươi ở đó

    + Tôi có nắng đời

    + Bạn và tôi: Dẫu nghèo thăng trầm

    Vẫn làm thơ, vẫn yêu thơ..

    Gắn bó, chia sẻ buồn vui với mảnh đất Play Ku, dù khó khăn, vất vả vẫn giữ tròn lẽ sống, yêu và gắn bó tha thiết với nghiệp thơ.

    3. Đặc điểm nghệ thuật nổi bật:

    – Điệp từ, câu tạo âm hưởng như một khúc ca về PlayKu, ngân vang mãi trong lòng độc giả.

    III. Tổng kết:

    Ghi nhớ:

    Bài thơ là khúc ca ca ngợi vẻ đẹp của mảnh đất PlayKu: vừa rắn rỏi, hung vĩ, khoáng đạt vừa thơ mộng, trong trẻo, thuần khiết; đồng thời cũng là lời tâm sự tha thiết, chân thành của tác giả đối với đất và người nơi đây.

    Tác giả sử dụng điệp câu, điệp ngữ vừa có tác dụng khẳng định mạnh mẽ vừa tạo nên âm hưởng ngân nga như một khúc ca cùng với lời thơ có tính chất tự sự, giải bàylàm cho bài thơ dễ gây xúc động cho người đọc.

    IV. Luyện tập:

    4. Dặn dò:

    – Học thuộc lòng bài thơ và nắm nội dung bài học.

    – Soạn bài: Dấu ngoặc kép.

    5. Rút kinh nghiệm:

    .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Looking Back Unit 3 Trang 34 Sgk Tiếng Anh 9 Mới
  • Soạn Bài: Thúy Kiều Báo Ân Báo Oán – Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Soạn Bài: Nói Với Con – Ngữ Văn 9 Tập 2
  • Soạn Bài: Tuyên Bố Thế Giới Về Sự Sống Còn, Quyền Được Bảo Vệ Và Phát Triển Của Trẻ Em
  • “Gửi Em Ở Cuối Sông Hồng”
  • Soạn Văn 8 Bài Chiếc Lá Cuối Cùng

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 3 Trang 202 Sgk Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Soạn + Gợi Ý Câu Hỏi Trên Lớp Bài Chiếc Lược Ngà
  • Đề Cương Ôn Tập Học Kì 1 Môn Văn Lớp 9 Bài Chiếc Lược Ngà
  • Soạn Bài Chiếc Lược Ngà Môn Ngữ Văn 9 Trang 195 (Ngắn Gọn): Em Hãy Kể Tóm Tắt Cốt Truyện Của Đoạn Trích
  • Soạn Văn Bài: Chiếc Lược Ngà (Nguyễn Quang Sáng)
  • Xiu và Giôn-xi là hai nữ hoạ sĩ trẻ. Giôn-xi bị sưng phổi nặng. Cô tuyệt vọng nhìn chiếc lá cuối cùng của cây thường xuân bên cửa sổ và nghĩ khi nào chiếc lá đó rụng thì mình cũng lìa đời. Nhưng sau đêm mưa lớn, chiếc lá vẫn còn đó, Giôn-xi thoát ra ý nghĩ về cái chết và qua nguy hiểm. Trong khi đó, cụ Bơ-men, một họa sĩ già thuê phòng tầng dưới đã chết vì ốm nặng sau đêm mưa lớn. Thì ra chính cụ đã mặc mưa gió vẽ nên chiếc lá thường xuân ngoài cửa sổ tạo hi vọng cho Giôn-xi. Bố cục:

    – Phần 1 (từ đầu… Hà Lan): Giôn-xi đợi chết.

    – Phần 2 (tiếp… vịnh Naplơ): Giôn-xi vượt qua cái chết.

    – Phần 3 (còn lại): Bí mật của chiếc lá.

    Câu 1: (Trang 90 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

    – Những chi tiết nói lên tấm lòng thương yêu và hành động cao cả của cụ Bơ-men:

    + “Sợ sệt ngó ra ngoài cửa sổ” → lo lắng cho Giôn-xi.

    + Cụ âm thầm vẽ chiếc lá trong đêm mưa lạnh buốt.

    – Nhà văn không kể sự việc cụ vẽ chiếc lá chính là yếu tố bất ngờ, hình ảnh cụ Bơ-men được thăng hoa. Chiếc lá cụ vẽ là một kiệt tác vì nó được tạo ra bằng tình yêu thương và cả mạng sống của người nghệ sĩ già, cứu sống một người khác.

    Câu 2: (Trang 90 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

    – Xiu không hề biết ý định vẽ chiếc lá của cụ Bơ-men:

    + Trước đó hai người chẳng nói năng gì khi cụ Bơ-men làm mẫu cho Xiu vẽ.

    + Chính Xiu cũng ngạc nhiên khi thấy vẫn còn một chiếc lá thường xuân bám trên bức tường gạch sau đêm mưa gió.

    + Khi bác sĩ nói, Xiu mới biết là cụ Bơ-men bị ốm.

    – Nếu Xiu biết trước ý định của cụ thì truyện sẽ mất đi tính bất ngờ, hồi hộp.

    Câu 3: (Trang 90 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

    – Giôn-xi bệnh nặng, cô nhìn những chiếc lá và liên tưởng số phận mong manh của mình, suy nghĩ tuyệt vọng: Khi chiếc lá cuối cùng rơi xuống thì cô cũng lìa đời. Sau đêm mưa gió lớn, cô nghĩ chắc chắn cây thường xuân sẽ rụng hết lá. Nhưng không, một chiếc lá vẫn bám trụ ở đó, cô nhận ra sự sống thật bền vững, thật gan lì. Nhìn lại bản thân, cô nuôi lại niềm ham sống, bám trụ như chiếc lá kia.

    – Truyện kết thúc bằng lời của Xiu mà không để Giôn-xi phản ứng làm tăng sự xúc động của câu chuyện, để lại dư âm.

    Câu 4: (Trang 90 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

    Đoạn trích có hai lần đảo ngược tình huống:

    – Giôn-xi bị ốm và rất tuyệt vọng, nằm chờ chết. Thế mà cô khoẻ lại.

    – Cụ Bơ-men khoẻ mạnh, chỉ bị ốm có hai ngày, nhưng đã đột ngột ra đi.

    st

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bình Giảng Truyện Chiếc Lá Cuối Cùng Của O Hen
  • Soạn Bài Chiếc Lá Cuối Cùng Ngắn Gọn
  • Soạn Văn 8 Bài: Chiếc Lá Cuối Cùng
  • Soạn Văn Bài: Cô Bé Bán Diêm
  • Bài Văn Phân Tích Truyện Ngắn Cô Bé Bán Diêm Của An
  • Soạn Văn 8 Vnen Bài 8: Chiếc Lá Cuối Cùng

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Văn 8 Bài Chiếc Lá Cuối Cùng Vnen
  • Soạn + Gợi Ý Câu Hỏi Trên Lớp Bài Chiếc Lá Cuối Cùng
  • Soạn Bài: Chị Em Thúy Kiều (Trích Truyện Kiều)
  • Soạn Bài Chị Em Thúy Kiều Trang 83 Sgk Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Soạn Bài Chị Em Thúy Kiều Chi Tiết Và Hay Nhất
  • Soạn văn 8 VNEN Bài 8: Chiếc lá cuối cùng

    A. Hoạt động khởi động

    (trang 59, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Nhận xét về cuộc sống và tình cảm của các nhân vật trong truyện Chiếc lá cuối cùng của O hen ri qua đoạn tóm tắt phần đầu của truyện sau đây:

    Xiu và Giôn-xi là hai nữ họa sĩ nghèo, còn trẻ, sống trong một căn hộ cho thuê ở gần công viên ……………. buông xuôi, lìa đời,…

    Trả lời:

    Ba nhân vật Xiu, Giôn-xi và cụ Bơ-men đều là những họa sĩ nghèo nhưng họ khao khát cống hiến cho nghệ thuật, muốn vẽ nên những kiệt tác để đời. Giôn-xi mang trong mình căn bệnh nặng, cô chán nản, tuyệt vọng và muốn buông bỏ cuộc đời tựa như chiếc lá thường xuân ngoài cửa sổ, chỉ cần nó rụng thì cô cũng sẽ “lìa đời”.

    B. Hoạt động hình thành kiến thức

    1. (trang 59, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Đọc văn bản sau: Chiếc lá cuối cùng

    2. (trang 62, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Tìm hiểu văn bản:

    a. Vì sao các nhân vật trong truyện sợ sệt, lo lắng khi nhìn cây thường xuân?

    b. Thử hình dung và mô tả tâm trạng của Giôn-xi, của Xiu và của bạn đọc khi hai lần Giôn-xi ra lệnh kéo manh lên. Nguyên nhân sâu xa nào quyết định tâm trạng hồi sinh của Giôn-xi?

    c. Tìm và phân tích những chi tiết nói lên tấm lòng thương yêu và hành động cao cả của cụ Bơ-men đối với Giôn-xi. Hãy lí giải vì sao nhà vẫn bỏ qua không kể sự việc của cụ đã về chiếc lá trên tường trong đêm mưa tuyết. Vì sao có thể nói chiếc lá cu về là một kiệt tác?

    d. Tìm bằng chứng để khẳng định Xiu không hề được Hen-ri, được cụ Bơmen cho biết ý định về một chiếc lá thay cho chiếc lá cuối cùng rụng xuống . Nếu Xiu được biết thì truyện có còn hấp dẫn không? Vì sao?

    e. Chứng minh truyện chiếc lá cuối cùng của Hen-ri được kết thúc trên cơ sở hai sự kiện bất ngờ đối lập nhau tạo nên hiện tượng đảo ngược tình huống hai lần. Nêu tác dụng của cách kết thúc đó.

    Trả lời:

    a. Các nhân vật trong truyện sợ sệt, lo lắng khi nhìn cây thường xuân vì: Mọi người lo sợ chiếc lá cuối cùng sẽ rụng và Giôn-xi sẽ chết.

    b. Cả 2 lần Giôn-xi ra lệnh kéo mành lên, tâm trạng của Xiu, Giôn-xi và cả mỗi người đọc đều vô cùng hồi hộp, lo lắng, không biết chiếc là thường xuân còn ở trên cây nữa hay không. Giôn-xi muốn buông bỏ cuộc đời tựa như chiếc lá thường xuân ngoài cửa sổ, cô nghĩ rằng khi nó rụng thì cũng là lúc cô “lìa đời”.

    c. Những chi tiết nói lên lòng thương yêu của cụ Bơ- men dành cho Giôn-xi:

    * Khi nghe Xiu kể về ý nghĩ kì quặc của Giôn-xi (chờ khi chiếc lá cuối cùng rụng nốt thì cô ấy cũng buông xuôi lìa đời), cụ Bơ-men đã “mắt đỏ ngầu, nước mắt chảy ròng ròng”, và thực sự xót thương trước những ngốc nghếch của Giôn-xi.

    * Cụ đến thăm Giôn-xi, lo lắng nhìn cây thường xuân và không nói gì.

    * Cụ Bơ-men đã âm thầm vẽ chiếc lá trong đêm lạnh buốt và mưa gió, cụ đã vẽ chiếc lá thường xuân cuối cùng ở trên tường thay thế cho chiếc lá thường xuân cuối cùng đã rụng. Vẽ xong chiếc lá đó, cụ bị sưng phổi. Vì quá lạnh, cụ chỉ ốm có 2 ngày rồi chết ở bệnh viện – cùng buổi sáng hồi sinh của Giôn-xi.

    Lí do nhà văn không kể lại sự việc cụ Bơ-Men đã vẽ chiêc lá trên tường: Vì muốn dành sự bất ngờ đặc biệt ở kết truyện. Khi sự việc này không được kể lại, mà cuối cùng chỉ được Xiu nhắc đến cùng với sự ra đi của cụ Bơ-men, đã tạo cho câu chuyện sự bất ngờ đột ngột. Người đọc vừa hứng thú với câu chuyện, nhưng cũng đồng thời xúc động về đức hi sinh thầm lặng mà cụ Bơ-men. Chính điều đó đã khích lệ Giôn-xi hướng về sự sống ở phía trước.

    “Chiếc lá cuối cùng” cụ vẽ là một kiệt tác vì 3 lí do:

    – Thứ nhất vì đó là một bức vẽ đẹp hoàn hảo, giống thật đến nỗi cả Giôn-xi và Xiu đều bị nhầm tưởng đó là chiếc lá thường xuân thật đang cố bám níu trên bức tường gạch.

    – Thứ hai, điều quan trọng khiến bức họa trở thành kiệt tác, đó là bởi nó đã cứu sống được Giôn-xi. Chiếc lá thường xuân cuối cùng ấy đã mang lại nghị lực, khát vọng được sống cho cô họa sĩ trẻ đáng thương.

    – Thứ ba, bức vẽ Chiếc lá cuối cùng ấy không chỉ đáng giá bằng tính mạng của Giôn-xi mà hơn thế nữa, nó còn được đánh đổi bằng chính tính mạng của cụ Bơ-men. Kiệt tác “Chiếc lá cuối cùng” ấy chính là biểu hiện cao đẹp nhất cho tấm lòng nhân hậu, đức hi sinh, lòng vị tha của cụ Bơ-men.

    d. Xiu không được cụ Bơ- men cho biết sẽ vẽ chiếc lá thay cho lá thường xuân cuối cùng sắp rụng

    + Trước đó, hai người không nói năng gì khi cụ Bơ- men làm mẫu cho Xiu vẽ

    + Khi Giôn-xi đòi kéo mành lên, Xiu làm theo một cách chán nản

    + Xiu cũng ngạc nhiên như chính Giôn- xi ngạc nhiên khi thấy chiếc lá cuối cùng vẫn còn sau đêm mưa gió

    + Chỉ khi bác sĩ nói Xiu mới biết cụ Bơ- men ốm

    e. – Truyện có hiện tượng hai lần đảo ngược:

    + Ban đầu, Giôn-xi bị bệnh, cô tuyệt vọng chờ chết. Cụ Bơ- men vẫn khỏe mạnh

    + Sau đó, Giôn-xi hồi sinh, khỏi bệnh. Còn cụ Bơ-men chết sau hai ngày vì dầm mưa gió suốt đêm.

    – Hiện tượng đảo ngược tình huống truyện:

    + Tạo sự bất ngờ, thú vị

    + Khẳng định nghệ thuật chân chính thực sự mang lại sự hồi sinh.

    + Khiến độc giả rung cảm trước tình cảm, tình yêu thương cao cả giữa những con người nghèo khổ

    C. Hoạt động luyện tập

    1. (trang 62, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Viết một văn bản thể hiện cảm xúc, suy nghĩ của em về một nhân vật em yêu thích trong đoạn trích Chiếc lá cuối cùng.

    Trả lời:

    Trích đoạn Chiếc lá cuối cùng trong tác phẩm cùng tên của nhà văn O Hen-ry là trích đoạn hay và giàu ý nghĩa. Đoạn trích là sự ca ngợi sức mạnh của tình yêu thương đối với mỗi con người. Và tình yêu thương, sự hi sinh cho người khác được thể hiện rõ nét qua nhân vật cụ Bơ-men. Cụ Bơ-men được giới thiệu là một họa sĩ nghèo, đã ngoài sáu mươi tuổi và mơ ước sẽ vẽ nên một kiệt tác. Khác hẳn với vẻ ngoài già nua, ta nhìn thấy một tấm lòng ấm áp, nhân hậu ở cụ Bơ-men. Khi biết tin Giôn-xi có những ý nghĩ điên rồ, rằng sẽ chết khi chiếc lá thường xuân cuối cùng rơi xuống, cụ đã vô cùng đau đớn, thương xót và cũng giận dữ vì Giôn-xi có những suy nghĩ yếu đuối, ngốc nghếch đến như vậy. Để cứu sống Giôn-xi, cụ đã bất chấp đêm mưa gió, bão tuyết, mang những dụng cụ cần thiết, một chiếc thang, chiếc đèn bão, màu mực để vẽ nên chiếc lá thường xuân cuối cùng trên bức tường gạch. Sáng hôm sau, khi nhìn thấy chiếc lá cuối cùng vẫn dũng cảm treo bám trên cây, Giôn-xi đã không khỏi ngỡ ngàng và nhận ra những suy nghĩ sai lầm của bản thân: “Muốn chết cũng là một cái tội” . Cô đã vực lại niềm tin và sự sống trong mình. Dù không được tác giả tập trung phác họa quá nhiều, nhưng chúng ta cũng cảm nhận được giá trị nhân văn và những thông điệp ý nghĩ tác giả muốn gửi gắm qua nhân vật cụ Bơ-men. Sống là để yêu thương, sẵn sàng san sẻ và hi sinh, đó là lẽ sống cao đẹp mà bất cứ ai cũng cần hướng đến.

    2. (trang 62, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Tìm từ ngữ địa phương (danh từ chỉ người có quan hệ ruột thịt, thân thích)

    a. Tìm từ ngữ chỉ người có quan hệ ruột thịt thân thích được dùng ở địa phương em có ý nghĩa tương đương với các từ ngữ toàn dân( có thể có trường hợp trùng nhau):

    STT Từ ngữ toàn dân Từ ngữ được dùng ở địa phương em

    b. Tìm một số từ ngữ chỉ người có quan hệ ruột thịt, thân thích được dùng ở địa phương khác

    Trả lời:

    a. Điền vào bảng:

    STT Từ ngữ toàn dân Từ ngữ được dùng ở địa phương em

    b. Ví dụ:

    Cha: thầy, ba, tía, bố

    Mẹ: u, bầm, bu, má

    Bác: bá

    Anh cả: anh hai

    Cố: cụ

    D. Hoạt động vận dụng

    1. (trang 64, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Lập dàn ý cho bài văn tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm

    a. Tham khảo cách lập dàn ý

    b. Dựa theo cách lập dàn ý trên, hãy lập dàn ý cơ bản cho văn bản Cô bé bán diêm

    Trả lời:

    b. Dựa theo cách lập dàn ý trên, hãy lập dàn ý cơ bản cho văn bản Cô bé bán diêm

    1. Mở bài:

    – “Cô bé bán diêm” là truyện ngắn nổi tiếng của nhà văn người Đan Mạch An-đéc-xen, thể hiện tấm lòng nhân đạo sâu sắc của tác giả trước hoàn cảnh đáng thương của cô bé bán diêm bất hạnh.

    2. Thân bài:

    – Cảnh giá rét của trời khuya và cảnh ngộ của em bé đáng thương: Em bé không bán được diêm nên không dám về nhà vì sợ bố đánh. Em tìm một góc tường ngồi tránh rét.

    – Giữa cái giá rét, cô bé quyết định quẹt diêm để sưởi ấm cho chính mình. Mỗi lần quẹt diêm là một ước mơ giản dị, chân thành và đầy ngây thơ của cô bé:

    + Lần quẹt thứ 1: cô mơ thấy một lò sưởi to

    + Lần quẹt thứ 2: cô mơ thấy một bàn ăn thịnh soạn với những món ăn hoành tráng

    + Lần quẹt thứ 3: cô nhìn thấy cây thông Nô-en thật to và đầy màu sắc

    + Lần quẹt thứ 4: bà hiện ra

    + Em bé quẹt tất cả những que diêm còn lại trong bao.

    C. Kết bài:

    + Cảnh mọi người ra đường trong buổi sáng hôm sau.

    + Cái chết đáng thương của em bé

    E. Hoạt động tìm tòi mở rộng

    (trang 64, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Sưu tầm một số câu ca dao, tục ngữ hoặc bài thơ có sử dụng từ ngữ chỉ người có quan hệ ruột thịt, thân thích ở địa phương em.

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k7: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    Loạt bài Soạn văn 8 VNEN ngắn nhất của chúng tôi được biên soạn bám sát nội dung sách Hướng dẫn học Ngữ văn 8 Tập 1, Tập 2 chương trình mới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tóm Tắt Chiếc Lá Cuối Cùng Hay, Ngắn Nhất (5 Mẫu).
  • Chiếc Lá Cuối Cùng O’henry: Tóm Tắt, Phân Tích Và Soạn Bài
  • Giáo Án Lớp 8 Môn Ngữ Văn
  • Bài 8. Chiếc Lá Cuối Cùng
  • Soạn Bài Chiếc Lá Cuối Cùng Lớp 8 Ngắn Nhất
  • Soạn Văn 8 Bài: Chiếc Lá Cuối Cùng

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Chiếc Lá Cuối Cùng Ngắn Gọn
  • Bình Giảng Truyện Chiếc Lá Cuối Cùng Của O Hen
  • Soạn Văn 8 Bài Chiếc Lá Cuối Cùng
  • Bài 3 Trang 202 Sgk Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Soạn + Gợi Ý Câu Hỏi Trên Lớp Bài Chiếc Lược Ngà
  • A. KIẾN THỨC TRỌNG TÂM

    1. Tác giả:

      O Hen-ri (1862 – 1910) là nhà văn Mĩ chuyên viết truyện ngắn. Nhiều truyện của ông đã để lại trong bạn đọc những ấn tượng sâu sắc như: Căn gác xép, Tên cảnh sát và gã lang thang, Quà tặng của các đạo sĩ,… Henri thường nhẹ nhàng nhưng toát lên tinh thần nhân đạo cao cả, tình yêu thương người nghèo khổ, rất cảm động.

    2. Tác phẩm:

    Câu chuyện kể về cuộc sống chật vật của những người hoạ sĩ nghèo: hai nữ họa sĩ trẻ Xiu và Giôn-xi sống cùng căn hộ với người họa sĩ già Bơ-men. Giôn-xi bị sưng phổi, bệnh tật và nghèo túng đã lấy nốt của cô niềm tin vào cuộc sống. Chỉ còn lại Xiu mòn mỏi với những bức vẽ và ám ảnh bởi suy nghĩ của Giôn-xi: cô gái bệnh tật ấy đang đếm từng chiếc lá rơi để chờ định mệnh phán quyết mạng sống của chính mình, với niềm tin khi chiếc lá cuối cùng rụng xuống thì cô sẽ ra đi… Không gian cuộc sống của những con người khốn khổ ấy lạnh lẽo u ám như mùa đông, nặng trĩu những buồn lo.

    Đáng sợ làm sao khi mỗi ngày trôi đi trong gió tuyết và những cơn mưa lạnh lẽo dai dẳng, những chiếc lá thường xuân tiếp tục rơi xuống, chỉ còn lại một chiếc lá cuối cùng để Giôn-xi như nhìn thấy cái chết của mình đang đến gần.

    Chính vào lúc ấy, một hình ảnh bất ngờ đã làm đảo lộn mọi dự đoán, đảo ngược cả tình huống tưởng như chắc chắn trong dự định của Giôn-xi, trong nỗi lo của Xiu và trong sự thất vọng của mọi người. Tình huống ấy đã thắp lại niềm hy vọng như một phép màu: vẫn còn một chiếc lá thường xuân bám trên bức tường gạch…

    Câu chuyện kết thúc bằng một sự đảo ngược tình huống. Chiếc lá cuối cùng là một sự lừa dối, nhưng lại là một sự lừa dối cao cả để đem lại niềm tin vào sự sống cho con người. Kiệt tác cuối cùng của người họa sĩ già đã được ra đời nằm ngoài tất cả mọi dự đoán của công chúng. Nhưng chiếc lá cuối cùng ấy mãi mãi là bằng chứng của tấm lòng yêu thương con người. Bởi thế, Chiếc lá cuối cùng sẽ mãi bất tử với thời gian.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Văn Bài: Cô Bé Bán Diêm
  • Bài Văn Phân Tích Truyện Ngắn Cô Bé Bán Diêm Của An
  • Soạn Văn 8: Cô Bé Bán Diêm
  • Soạn Bài Lớp 8: Cô Bé Bán Diêm Soạn Bài Môn Ngữ Văn Lớp 8 Học Kì I
  • Giải Vbt Ngữ Văn 8 Bài Cô Bé Bán Diêm
  • Soạn Văn 8 Bài Ôn Dịch Thuốc Lá Vnen

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Ôn Dịch, Thuốc Lá Siêu Ngắn
  • Soạn Bài Ôn Dịch, Thuốc Lá Trang 118 Sgk Ngữ Văn 8, Tập 1
  • Soạn Văn Lớp 8 Bài Câu Phủ Định Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Bài: Câu Phủ Định (Siêu Ngắn)
  • Soạn Văn 8 Ngắn Nhất Bài: Câu Phủ Định
  • Soạn Văn 8 bài Ôn dịch thuốc lá VNEN

    A. Hoạt động khởi động

    Trao đổi với bạn về 2 bức tranh sau và trả lời câu hỏi:

    1. Trong gia đình và môi trường sống xung quanh em có người hút thuốc là hay không?

    2. Theo em hút thuốc lá có hại như thế nào?

    3. Em hãy nêu thông điệp được gợi ra từ hai bức tranh.

    1. Trong gia đình và môi trường sống xung quanh em có người hút thuốc lá.

    2. Theo em hút thuốc lá có hại cho sức khỏe không chỉ bản thân người hút mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe của những người xung quanh (ung thư phổi ,tim mạch, các bệnh về hô hấp,..)

    3. Thông điệp được gợi ra từ hai bức tranh: Tránh xa thuốc lá để bảo vệ cuộc sống của tất cả chúng ta

    B. Hoạt động hình thành kiến thức.

    1. Đọc văn bản sau: Ôn dịch, thuốc lá

    2. Tìm hiểu văn bản.

    a. Phân tích ý nghĩa của nhan đề văn bản. Việc dùng dấu phẩy trong đầu đề văn bản: Ôn dịch, thuốc lá có tác dụng gì? Hãy nêu ý chính của văn bản.

    Ý nghĩa nhan đề: Ôn dịch, thuốc lá đã cho thấy tính chất nghiêm trọng và bức xúc của vấn đề. Thuốc lá ở đây là nói đến tệ nghiện thuốc lá. Nó được ví một cách rất thoả đáng với ôn dịch, xem như một thứ bệnh nguy hiểm đến tính mạng của con người và rất dễ lây lan. Hơn nữa, từ ôn dịch còn mang sắc thái biểu cảm. Nghiện thuốc lá được nói đến trong một cảnh báo gay gắt, đến mức nó đáng trở thành một đối tượng để nguyền rủa.

    Ôn dịch trong tiếng Việt là từ được dùng để làm tiếng chửi rủa thể hiện thái độ căm ghét, ghê sợ – một loại bệnh nguy hiểm lây lan làm chết người. Thuốc lá ở đây là nói đến tệ nghiện thuốc lá. Tác giả dùng dấu phẩy ngăn cách giữa hai từ “ôn dịch” và “thuốc lá”, là sử dụng theo lối tu từ để nhấn mạnh sắc thái biểu cảm (vừa căm tức vừa ghê sợ).

    Những ý chính văn bản:

    • Phần thứ nhất (từ đầu cho đến “nặng hơn cả AIDS”), tác giả nêu vấn đề đồng thời với nhận định về tầm quan trọng và tính nghiêm trọng của vấn đề: “Ôn dịch thuốc lá đe doạ sức khoẻ và tính mạng loài người còn nặng hơn cả AIDS”.
    • Phần 2 (tiếp … con đường phạm pháp): tác hại của thuốc lá
    • Phần 3 (còn lại): lời kêu gọi chống thuốc lá.

    b. Tác giả dẫn lời Trần Hưng Đạo bàn về việc đánh giặc trước khi phân tích tác hại của thuốc lá có tác dụng gì trong lập luận?

    Tác dụng: Tác giả dẫn lời Trần Hưng Đạo trước khi phân tích tác hại của thuốc lá vì đây là một cách so sánh ngầm, tạo ra một ấn tượng mạnh trước khi phân tích. Điều đó làm cho lập luận thêm chặt chẽ, thuyết phục.

    c. Tác giả đã đưa ra những lí lẽ gì cho thấy tác hại của việc hút thuốc lá?

    c. Bằng những cứ liệu khoa học, bằng sự giải thích, phân tích tường tận của một nhà khoa học, tác giả chứng minh cho mọi người thấy được tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe của con người nó gây ra những căn bệnh nan y: Viêm phế quản, ung thư phổi và ung thư vòm họng làm tắc động mạch, làm nhồi máu cơ tim… khiến cho người đọc phải rùng mình kinh sợ.

    d. Vì sao tác giả đặt giả định “Có người bảo: Tôi hút, tôi bị bệnh, mặc tôi!” trước khi nêu lên những tác hại về phương diện xã hội của thuốc lá?

    • Tác giả đưa ra giả định “Có người bảo: Tôi hút, tối bị bệnh, mặc tôi!” trước khi nêu lên những tác hại của thuốc lá không chi vói người hút mà với cả những người không hề hút.
    • Bằng những chứng cứ khoa học về tác hại của việc hút thuốc lá chủ động và hút thuốc lá bị động, tác giả đã phủ nhận câu nói trên. Như vậy, ảnh hưởng của khói thuốc đối với người xung quanh rất lớn (những người làm việc cùng phòng, vợ, con, đặc biệt là thai nhi bé bỏng dẫn tới sinh non rất nguy hiểm). Chống hút thuốc lá không chỉ là đặt ra với người nghiện thuốc lá mà với cả những người không hút thuốc lá. Đây là trách nhiệm của cả cộng đồng, của toàn xã hội.
    • Qua đó, tác giả cũng thể hiện thái độ phê phán nghiêm khắc với những người hút thuốc lá và đề nghị những người hút thuốc lá phải có ý thức.

    e. Vì sao tác giả đưa ra những số liệu để so sánh tình hình hút thuốc của nước ta với các nước Âu-Mĩ trước khi đưa ra kiến nghị: Đã đến lúc mọi người phải đứng lên chống lại, ngăn ngừa nạn ôn dịch này?

    • Tác giả đưa ra những số liệu để so sánh tình hình hút thuốc lá ở nước ta với các nước Âu – Mĩ trước khi đưa ra kiến nghị nhằm mục đích:
      • Tỉ lệ thanh thiếu niên hút thuốc ở thành phố lớn nước ta cao ngang với tỉ lệ các thành phố Âu – Mĩ. Đây là điều không thể chấp nhận.
      • Thứ hai là cho thấy các nước đã tiến hành những chiến dịch, thực hiện những biện pháp ngăn ngừa, hạn chế thuốc lá quyết liệt hơn ta.
      • Thứ ba, so sánh với nước họ, chúng ta còn quá nhiều bệnh dịch cần phải thanh toán.

    Từ đó, tác giả đưa ra kiến nghị: Đã đến lúc mọi người phải đứng lên chống lại, ngăn ngừa nạn ôn dịch này.

    g. Nêu ngắn gọn thông điệp được gợi ra từ văn bản

    Bài làm:

    b. Dựa vào những kiến thức đã học ờ các lớp dưới, hãy nêu thêm những quan hệ ý nghĩa có thê có giữa các vế câu. Cho ví dụ minh hoạ.

    Có thế nêu thêm những quan hệ ý nghĩa giữa các vế câu trong câu ghép:

    • Điều kiện (giả thiết). Ví dụ: Nếu trời nắng chúng tôi sẽ đi bơi
    • Tương phản. Ví dụ: Chúng tôi đến chơi nhưng Lan không có nhà
    • Tăng tiến. Ví dụ: Không những học giỏi mà Hoa còn rất năng động trong công việc
    • Lựa chọn. Ví dụ: Anh đi hay anh ở lại?
    • Tiếp nối. Ví dụ: Mọi người đến đông đủ rồi chúng tôi bắt đầu công việc
    • Đồng thời. Ví dụ: Mặt trời mọc và sương tan dần.
    • Nhượng bộ. Ví dụ: Tuy tôi đã phân tích những lẽ phải nhưng nó vẫn bướng bỉnh không nghe lời.

    c. Mối quan hề đó thường được đánh dấu bằng những dấu hiệu nào?

    Mỗi quan hệ thường được đánh dấu bằng những quan hệ từ, cặp quan hệ từ hoăc cặp từ hô ứng nhất định. Tuy nhiên để nhận biết chính xác quan hệ ý nghĩa giữa các vế câu trong nhiều trường hợp là phải dựa vào văn cảnh hoặc hoàn cảnh giao tiếp.

    4. Tìm hiểu về các phương pháp thuyết minh.

    (1) Huế là một trong những trung tâm văn hóa, nghệ thuật lớn của Việt Nam

    (2) Nông Văn Vân là tù trưởng dân tộc Tày, giữ chức trị châu Bảo Lạc (Cao Bằng)

    – Hai câu văn đều có từ gì ở thành phần vị ngữ? Sau từ ấy, người ta cung cấp một kiến thức như thế nào?

    – Hãy nêu vai trò và đặc điểm của loại câu văn định nghĩa, giải thích trong văn bản thuyết minh

    b. Đọc các câu văn, đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:

    Cây dừa cống hiến tất cả của cải của mình cho con người: thân cây làm máng, lá làm tranh, cọng lá chẻ nhỏ làm vách gốc dừa già làm chõ xôi, nước dừa để uống, để kho cá, kho thịt, nấu canh, làm nước mắm,…… Theo các nhà khoa học, bao bì ni lông lẫn vào đất làm cản trở quá trình sinh trưởng của các loài thực vật bị nó bao quanh, cản trở sự phát triển của cỏ dẫn đến hiện tượng xói mòn ở các vùng đồi núi. Bao bì ni lông bị vứt cuống cống làm tắc các đường dẫn nước thải, làm tăng khả năng ngập lụt của các đô thị về mùa mưa. Sự tắc nghẽn hệ thống cống rãnh làm cho muỗi phát sinh, lây truyền dịch bệnh. Bao bì ni lông trôi ra biển làm chết các sinh vật khi chúng nuốt phải……..

    Trong câu văn, đoạn văn tác giả đã sử dụng phương pháp thuyết minh gì? Phương pháp ấy có tác dụng gì đối với việc trình bày tính chất của sự vật?

    c. Cho đoạn văn sau:

    Ngày nay, đi các nước phát triển, đâu đâu cũng nổi lên chiến dịch chống thuốc lá. người ta cấm hút thuốc ở tất cả những nơi công cộng, phạt nặng những người vi phạm( ở bỉ, từ năm 1987, vi phạm lần thứ nhất phạt 40 đô la, tái phạm phạt 500 đô la)

    Chỉ ra và nêu tác dụng của ví dụ ở trong đoạn văn trên đối với việc trình bày cách xử phạt những người hút thuốc ở nơi công cộng. Phương pháp thuyết minh của đoạn văn trên là gì?

    • Tác dụng: đưa ra các biện pháp nhằm đẩy mạnh chống việc sử dụng hút thuốc lá ở các nước phát triển.
    • Phương pháp thuyết minh: liệt kê, dùng số liệu

    d. Đoạn văn sau cung cấp những số liệu nào? Nếu không có số liệu, có thể làm sáng tỏ được vai trò của cỏ trong thành phố không?

    Các nhà khoa học cho biết trong không khí, dưỡng khí chỉ chiếm 20% thể tích, thán khí chiếm 3%. Nếu không có bổ sung thì trong vòng 500 năm con người và động vật sẽ dùng hết số dưỡng khí ấy, đồng thời số thán khí không ngừng gia tăng. Vậy vì sao đến nay dưỡng khí vẫn còn? Đó là nhờ thực vật. Thực vật khi quang hợp hút thán khí và nhả ra dưỡng khí. Một héc-ta cỏ mỗi ngày có khả năng hấp thụ 900 kg thán khí và nhả ra 600 kg dưỡng khí. Vì thế trồng cây xanh và thảm cỏ trong thành phố có ý nghĩa cực kì to lớn. (Nói về cỏ)

    Đoạn văn trên đã sử dụng phương pháp thuyết minh nào?

    Thái Bình Dương chiếm một diện tích lớn gần bằng ba đại dương khác cộng lại và lớn gấp 14 lần diện tích biển Bắc Băng Dương là đại dương bé nhất.

    e. Cho câu văn sau:

    Cho biết tác dụng của phương pháp so sánh trong câu văn trên. Câu văn đã sử dụng phương pháp thuyết minh nào?

    g. Đối với những sự vật đa dạng, người ta chia ra từng loại để trình bày. Đối với sự vật có nhiều bộ phận cấu tạo, có nhiều mặt, người ta chai ra từng bộ phận từng mặt để chứng minh. Hãy cho biết văn bản Huế đã trình bày các đặc điểm của thành phố Huế theo những phương diện nào? Tác giả đã sử dụng phương pháp thuyết minh gì?

    văn bản Huế đã trình bày các đặc điểm của thành phố Huế theo những phương diện: (văn hóa, xã hội, lịch sử,…)

    • Phong cảnh thiên nhiên.
    • Các công trình kiến trúc.
    • Các nhà vườn ở Huế.
    • Món ăn.
    • Tinh thần quật cường của nhân dân.

    Phương pháp: phân tích, phân loại

    h. Trả lời các câu hỏi sau:

    Muốn có tri thức để làm tốt bài văn thuyết minh, người viết phải làm gì?

    Để bài văn thuyết minh có sức thuyết phục, người viết cần sử dụng những phương pháp thuyết minh nào?

    C. Hoạt động luyện tập

    b) Nếu trong pho lịch sử loài người xoá các thi nhân, văn nhân và đồng thời trong tâm linh loài người xoá hết những dấu vết họ còn lưu lại thì cái cảnh tượng nghèo nàn sẽ đến bực nào!

    (Thanh Tịnh, Tôi đi học)

    c) Như vậy, chẳng những thái ấp của ta mãi mãi vững bền, mà bổng lộc các ngươi cũng đời đời hưởng thụ; chẳng những gia quyến của ta được êm ấm gối chăn, mà vợ con các ngươi cũng được bách niên giai lão; chẳng những tông miếu của ta sẽ được muôn đời tế lễ, mà tổ tông các ngươi cũng được thờ cúng quanh năm; chẳng những thân ta kiếp này đắc chí, mà đến các ngươi trăm năm về sau tiếng vẫn lưu truyền; chẳng những danh hiệu ta không bị mai một, mà tên họ các ngươi cũng sử sách lưu thơm.

    (Hoài Thanh, Ý nghĩa văn chương)

    d) Tuy rét vẫn kéo dài, mùa xuân đã đến bên bờ sông Lương.

    (Trần Quốc Tuấn, Hịch tướng sĩ)

    e) Hai người giằng co nhau, du đẩy nhau, rồi ai nấy đều buông gậy ra, áp vào vật nhau […]. Kết cục, anh chàng “hầu cận ông lí” yếu hơn chị chàng con mọn, bị chị này túm tóc lẳng cho một cái, ngã nhào ra thềm.

    (Nguyễn Đình Thi)

    (Ngô Tất Tố)

    a) Quan hệ ý nghĩa giữa vế thứ nhất với vế thứ hai là quan hệ nguyên nhân (vế thứ nhất chỉ kết quả, vế thứ hai có từ “vì” chỉ nguyên nhân).

    Quan hệ ý nghĩa giữa vế thứ hai và vế thứ ba là quan hệ giải thích (vế thứ ba sau dấu hai chấm giải thích cho những điều nêu ở vế thứ hai “hôm nay tôi đi học”).

    b) Quan hệ ý nghĩa giữa vế thứ nhất với vế thứ hai là quan hệ điều kiện (vế có từ “nếu” chỉ điều kiện, vế thứ hai chỉ kết quả “thì cái cảnh tượng nghèo nàn sẽ đến mức nào”).

    c) Quan hệ ý nghĩa giữa các vế: (quan hệ qua lại) quan hệ đồng thời. Vế một nêu quyền lợi mà chủ tướng (ta), vế hai nêu ý quyền lợi của các tướng sĩ (các ngươi) cùng gắn bó trên mọi lĩnh vực.

    d) Quan hệ ý nghĩa giữa các vế là quan hệ tương phản (vế thứ nhất có từ “tuy” tương phán ý nghĩa với vế thứ hai).

    e) Đoạn trích có hai câu ghép.

    Câu ghép thứ nhất, các vế câu có quan hệ nối tiếp, tăng tiến qua từ “rồi”.

    Câu ghép thứ hai, các vế câu có quan hệ nguyên nhân (vế có từ yếu hơn chỉ nguyên nhân, vế sau chi kết quả.

    (a) Biển luôn thay đổi tuỳ theo màu sắc mây trời. Trời xanh thẳm, biển cũng thẳm xanh, như dâng cao lên chắc nịch. Trời rải mây trắng nhạt, biển mơ màng dịu hơi sương. Trời âm u mây mưa, biển xám xịt, nặng nề. Trời ầm ầm dông gió, biển đục ngầu giận giữ. (b). Vào mùa sương, ngày ở Hạ Long như ngắn lại. Buổi sớm, mặt trời lên ngang cột buồm, sương tan, trời mới quang. Buổi chiều, nắng vừa nhạt, sương đã buông nhanh xuống mặt biển.

    2. Đọc các đoạn trích trong sách giáo khoa và trả lời câu hỏi.

    a. Tìm câu ghép trong những đoạn trích trên.

    b. Xác định quan hệ ý nghĩa giữa các vế câu trong mỗi câu ghép.

    c. Có thể tách mỗi vế câu nói trên thành một câu đơn không? Vì sao?

    3. Văn bản Ôn dịch thuốc lá đã sử dụng những phương pháp thuyết minh nào để nêu bật tác hại của việc hút thuốc lá?

    • Các phương pháp được sử dụng trong bài viết: dùng số liệu, nêu ví dụ, so sánh đối chiếu, phùn tích từng tác hại của thuốc lá. Trong bài viết này, tác giả đã kết hợp sử dụng các phương pháp nhằm đạt được hiệu quả giao tiếp cao nhất.
    • Trong mỗi khía cạnh, mỗi mặt lại sử dụng những phương pháp khác nhau.
      • Đoạn 1 (Từ đầu đến còn nặng hơn cả AIDS): phương pháp nêu định nghĩa giải thích.
      • Đoạn 2 (Từ Ngày trước đến sức khỏe cộng đồng): phương pháp so sánh, giải thích, dùng số liệu.
      • Đoạn 3 (từ có người bảo đến tội ác): phương pháp giải thích, nêu ví dụ.
      • Đoạn 4 (từ Bố và anh hút đến hết): phương pháp giải thích, nêu ví dụ, phân tích

    ……………………………………..

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Văn 8 Vnen Bài 2: Trong Lòng Mẹ
  • Soạn Văn Lớp 8 Bài Trong Lòng Mẹ Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Văn 8 Bài Trong Lòng Mẹ Ngắn Gọn
  • Soạn Bài Miêu Tả Và Biểu Cảm Trong Văn Tự Sự (Ngắn Gọn)
  • Soạn Bài Lớp 8: Miêu Tả Và Biểu Cảm Trong Văn Bản Tự Sự
  • Soạn Văn 8 Bài Chiếc Lá Cuối Cùng Vnen

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn + Gợi Ý Câu Hỏi Trên Lớp Bài Chiếc Lá Cuối Cùng
  • Soạn Bài: Chị Em Thúy Kiều (Trích Truyện Kiều)
  • Soạn Bài Chị Em Thúy Kiều Trang 83 Sgk Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Soạn Bài Chị Em Thúy Kiều Chi Tiết Và Hay Nhất
  • Soạn Văn 9 Ngắn Nhất Bài: Chị Em Thúy Kiều
  • O Hen-ri được biết đến với những tác phẩm nhẹ nhàng nhưng toát lên tinh thần nhân đạo cao cả, tình yêu thương người nghèo khổ, rất cảm động. “Chiếc lá cuối cùng” là một trong những truyện ngắn thành công của tác giả, thấm đượm tình cảm cao đẹp giữa những người họa sĩ nghèo khổ, và đặc biệt để lại nhiều dư cảm sâu sắc nhất là nhân vật cụ Bơ-men.

    Cụ sống cùng Xiu và Giôn-xi trong một căn hộ thuê ở gần công viên Oa- sinh- tơn. Bốn chục năm nay cụ mơ ước vẽ một kiệt tác nhưng chưa thực hiện được, cụ thường ngồi làm mẫu vẽ cho các họa sĩ khác để kiếm tiền. Cuộc sống tuy nghèo nhưng cụ luôn giữ phẩm chất trong sạch, hoàn cảnh không thể làm cụ yếu mềm tinh thần. Chả thế mà cụ “hay chế nhạo cay độc sự mềm yếu của bất kì ai”. Cụ Bơ-men luôn sống giàu tình thương, quan tâm tới mọi người. Cụ muốn những người xung quanh mình phải mạnh mẽ và cứng rắn. Chúng ta cảm động khi biết cụ tự coi mình có nhiệm vụ bảo vệ Xiu và Giôn-xi ở phòng vẽ tầng trên.

    Mùa đông năm ấy, Giôn-xi bị bệnh sưng phổi, cô tuyệt vọng, đếm từng chiếc lá còn lại trên cây thường xuân bám vào bức tường gạch đối diện cửa sổ, chờ khi nào chiếc lá cuối cùng rụng thì cô cũng lìa đời. Biết được ý nghĩ kì quặc ấy , mắt cụ Bơ- men đỏ ngầu , “nước mắt chảy ròng ròng”. Đó là những giọt nước mắt xót xa, đầy thương cảm. Cụ “hét lên”, “quát to” rồi sau đó là lời dịu dàng, xót xa: “Chà tội nghiệp cô bé Giôn-xi”. Thật cảm động khi nghe những lời mà cụ nói với Xiu khi theo cô lên phòng vẽ mà Giôn- xi đang nằm: “Trời đây không phải là chỗ cho một con người tốt như cô Giôn- xi nằm. Một ngày kia, tôi sẽ vẽ một tác phẩm kiệt xuất và tất cả chúng ta sẽ đi khỏi nơi này.” Vẫn là ước mơ đó nhưng nó đã gắn liền với lòng yêu thương sâu sắc. Cụ muốn sáng tạo để đem lại cuộc sống tốt đẹp cho mọi người.

    Cụ Bơ-men con người có đức hi sinh cao cả. Nhà văn đã tập trung miêu tả khoảnh khắc căng thẳng của cụ và Xiu: “Họ sợ sệt ngó ra ngoài cử sổ, nhìn cây thường xuân. Rồi họ nhìn nhau một lát, chẳng nói năng gì.” Dường như trong phút giây im lặng ấy, họ đã đoán được điều gì sẽ xảy đến. Là một nhân vật chính nhưng cụ chỉ xuất hiện ở phần đầu và giữa truyện, những hành đông tiếp theo của cụ chỉ được hiện lên qua lời kể của Xiu. Sau khi ngôi làm mẫu cho Xiu vẽ, hình ảnh cụ Bơ-men bỗng biến mất. Người đọc dần lãng quên sự hiện diện của cụ mà thay vào đó chú ý tới diễn biến căng thẳng xoay quanh Xiu, Giôn- xi và chiếc lá cuối cùng. Không ai đoán biết được cụ đã làm gì trong khoảng thời gian ấy. Phải đến cuối truyện, Giôn-xi và người đọc mới hiểu rõ hành động cao cả của cụ. Chắc chắn khi đứng dưới mưa tuyết để vẽ chiếc lá lên bờ tường gạch, con người già nua ấy giá buốt lắm, hơn ai hết cụ biết rõ tính mạng mình đang gặp nguy hiểm. Nhưng lòng thương yêu Giôn-xi, ý muốn dùng cây bút và bảng màu để đem lại niềm tin, nghị lực sống cho cô dã giúp cụ vượt lên tất cả. Chiếc lá mà cụ vẽ sống động và rất thật: “ở gần cuống lá còn giữ màu xanh sẫm, nhưng với rìa lá hình răng cưa đã nhuốm màu vàng úa”, khiến cho hai cô họa sĩ của chúng ta cũng không hề nghi nghờ. Và chiếc lá ấy đã gieo vào lòng cô gái trẻ tội nghiệp hơi ấm của niềm tin, nghị lưc, kéo cô từ vực thẳm của bệnh tật vươn lên sống tiếp. Có thể nói chiếc lá là cả tấm lòng của cụ Bơ-men, là minh chứng cho sư hi sinh đến quên mình để đem lại sự sống cho người khác. Cụ đã làm được một điều mà bốn mươi năm qua hằng ao ước: vẽ một kiệt tác. Và có lẽ khi một con người nằm xuống cũng là lúc một tâm hồn dược đánh thức, sẽ tiếp tục cống hiến cho đời những sáng tác nghệ thuật. Câu chuyện kết thúc bằng lời kể của Xiu về cái đêm mà cụ Bơ-men vẽ chiếc lá mà không để cho Giôn- xi có phản ứng gì thêm như để lại dư âm trong lòng người đọc.

    Nhà văn O Hen-ri đã rất khéo léo khi xây dựng nghệ thuật đảo ngược tình huống hai lần. Lần đảo ngược thứ nhất, Giôn-xi như đang tiến dần đến cái chết bỗng khỏe lại, yêu đời và chiến thắng bệnh tật. Lần đảo ngược thứ hai liền tiếp sau đó, cụ Bơ-men từ môt người khỏe mạnh đến cuối truyện mắc bệnh và qua đời. Một con người đi từ sự sống đến cái chết, một con người người từ cái chết tìm lại sự sống. Tất cả đã được nhà văn kể lại thật tự nhiên và cảm động. Nhân vật cụ Bơ – men thật đẹp, thật cao cả, là một nghệ sĩ chân chính, tài năng. “Kiệt tác” của cụ giúp cho người đọc cảm thấy mùa đông ấm áp tình người – một thông điệp tuyệt vời mà nhà văn muốn gởi đến chúng ta: Hãy sống và yêu thương

    Truyện ngắn làm cho chúng ta không khỏi rung cảm trước tình yêu thương cao cả giữa những người nghèo khổ. Câu chuyện còn giàu tính nhân văn, ẩn chứa bức thông điệp trong cuộc sống: dù gặp phải hoàn cảnh khó khăn nhất cũng đừng bao giờ bi quan, tuyệt vọng, hãy mạnh mẽ tin tưởng vào ngày mai tươi sáng, ta sẽ vượt qua tất cả.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Văn 8 Vnen Bài 8: Chiếc Lá Cuối Cùng
  • Tóm Tắt Chiếc Lá Cuối Cùng Hay, Ngắn Nhất (5 Mẫu).
  • Chiếc Lá Cuối Cùng O’henry: Tóm Tắt, Phân Tích Và Soạn Bài
  • Giáo Án Lớp 8 Môn Ngữ Văn
  • Bài 8. Chiếc Lá Cuối Cùng
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Chiếc Lá Cuối Cùng Văn 8

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Soạn Bài Cảnh Khuya
  • Soạn Bài Cảnh Khuya (Hồ Chí Minh)
  • Soạn Bài Cảnh Khuya Và Rằm Tháng Giêng Ngắn Nhất
  • Soạn Bài Chữa Lỗi Dùng Từ (Chi Tiết)
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Chữa Lỗi Dùng Từ
  • Gợi ý soạn bài Chiếc lá cuối cùng

    I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1.Về tác giả

    O Hen-ri (1862 – 1910) nhà văn Mĩ chuyên viết truyện ngắn. Tác phẩm có các sâu sắc trong lòng người đọc như các tác phẩm: Căn gác xép, Tên cảnh sát và gã lang thang, Quà tặng của các đạo sĩ,…

    2. Về tác phẩm

    a) Đoạn trích nằm trong SGK thuộc phần 1 của truyện ngắn có cùng tên. Tác giả kể chuyện thật hấp dẫn. Nhân vật chính xuất hiện thoáng qua để lại cô chị (Xiu) cùng với bạn đọc hồi hộp dõi theo chiếc lá trên tường, thắt lòng lo cho số phận của Giôn-xi. Chiếc lá không rơi, Giôn-xi dần dần khoẻ lại thì cũng là lúc người hoạ sĩ già duy nhất trong đời ngã xuống.

    Cái chết của người hoạ sĩ già để lại trong lòng bạn đọc một nỗi buồn thấm thía nhưng không bi luỵ bởi chính nó đã thắp lên ngọn lửa của tình yêu cuộc sống, của niềm tin vào sức mạnh, sự vĩnh cửu của cái đẹp.

    b) Những chi tiết trong văn bản nói lên tấm lòng thương yêu và hành động cao cả của cụ Bơ-men với Giôn-xi:

    – Cụ Bơ-men và Xiu “sợ sệt ngó ra ngoài cửa sổ, nhìn cây thường xuân. Rồi họ nhìn nhau một lát, chẳng nói năng gì”.

    – Cụ Bơ-men đã âm thầm vẽ chiếc lá trong đêm lạnh buốt và mưa gió. Nhà văn bỏ qua không kể sự việc cụ đã vẽ chiếc lá trên tường trong đêm mưa tuyết chính là yếu tố gây bất ngờ, xúc động cho người đọc. Có thể em chiếc lá cụ Bơ-men vẽ là một kiệt tác vì nó không chỉ rất sinh động, khiến Giôn-xi tưởng đó là chiếc lá thường xuân thật; mà còn được vẽ bằng cả tình thương yêu con người của cụ, và bức tranh mang lại sự sống cho Giôn-xi.

    c) Những chi tiết khẳng định Xiu không hề được cụ Bơ-men cho biết sẽ vẽ chiếc lá để thay cho chiếc lá cuối cùng:

    – Trước đó hai người chẳng nói năng gì khi cụ Bơ-men làm người mẫu cho Xiu vẽ.

    – Khi Giôn-xi đòi kéo mành lên, Xiu làm theo một cách chán nản.

    – Chính Xiu cũng ngạc cùng với Giôn-xi khi thấy: “Sau trận mưa vùi dập và những cơn gió phũ phàng… vẫn còn một chiếc lá thường xuân bám trên bức tường gạch”.

    – Chỉ khi bác sĩ nói, Xiu mới biết là cụ Bơ-men bị ốm.

    Nếu Xiu biết trước ý định của cụ Bơ-men, câu chuyện sẽ không còn hấp dẫn vì chẳng còn yếu tố bất ngờ.

    d) Tâm trạng của Giôn-xi là tâm trạng của một người bệnh, ám ảnh về một điều gì đó, cho nên khi biết Giôn-xi tin rằng chiếc lá cuối cùng rụng xuống là cô sẽ buông xuôi, người đọc rất căng thẳng.

    Nguyên nhân khiến tâm trạng củ Giôn-xi hồi sinh là sự hiện diện của chiếc lá trong điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt.

    Nhà văn kết thúc truyện bằng lời kể của Xiu, không cho Giôn-xi nói gì thêm, để mỗi người tự có hình dung, dự đoán theo cách của riêng mình.

    e) Đoạn trích Chiếc lá cuối cùng có hai lần đảo ngược tình huống gây bất ngờ:

    – Giôn-xi bị ốm và rất tuyệt vọng, nằm chờ chết. Thế mà cô khoẻ lại.

    – Cụ Bơ-men khoẻ mạnh, chỉ bị ốm có hai ngày, nhưng cụ đã đột ngột ra đi.

    Chính nghệ thuật đảo ngược tình huống đã gây hứng thú cho người đọc.

    II. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG 1. Tóm tắt bài văn

    Xiu và Giôn-xi là hai nữ hoạ sĩ trẻ. Giôn-xi bị bệnh sưng phổi căn bệnh rất nặng. Cô tuyệt vọng không muốn sống nữa và cô chỉ đợi chiếc lá cuối cùng rụng xuống là sẽ lìa đời. Biết được ý nghĩ điên rồ đó, cụ Bơ-men, một hoạ sĩ già đã thức suốt đêm mưa gió để vẽ chiếc lá chiếc lá cuối cùng không rụng đã làm cho Giôn-xi suy nghĩ lại, cô hi vọng và muốn được sống, được sáng tạo. Giôn-xi đã từ cõi chết trở về. Trong khi đó, cụ Bơ-men đã chết vì sáng tạo kiệt tác chiếc lá cuối cùng của mình.

    2. Cách đọc bài văn

    Bài văn được thể hiện qua nhiều tâm trạng, cảm xúc khác nhau. Khi đọc cần chú ý sử dụng giọng điệu:

    – Lời dẫn chuyện: khi thì chậm rãi, lo lắng (phần đầu), khi thì nhẹ nhàng, xót xa (đoạn cuối).

    – Lời nhân vật Xiu: từ lo lắng (sợ chiếc lá rơi xuống), thất vọng (thấy Giôn-xi ngày càng yếu hơn), mừng rỡ (Giôn-xi khỏi bệnh) đến xót xa (khi thuật lại cái chết cụ Bơ-men).

    – Lời nhân vật Giôn-xi: từ chán nản, buông xuôi đến vui vẻ, yêu đời.

    Kết thúc hướng dẫn soạn bài Chiếc lá cuối cùng, hi vọng lời giải trên sẽ giúp các bạn học sinh hiểu hơn về bài học hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Soạn Bài Chiếc Lá Cuối Cùng Lớp 8
  • Soạn Bài Chiếc Lá Cuối Cùng Của Hen
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Chiếc Lá Cuối Cùng
  • Soạn Bài Cụm Danh Từ Trang 116 Sgk Ngữ Văn 6, Tập 1
  • Soạn Bài Cụm Danh Từ (Chi Tiết)
  • Soạn Bài Ôn Dịch Thuốc Lá Ngữ Văn Lớp 8

    --- Bài mới hơn ---

  • Unit 4 Lớp 8: A Closer Look 2
  • Giải A Closer Look 2 Unit 4 Tiếng Anh 8 Mới
  • Unit 4 Lớp 8: A Closer Look 1
  • Unit 2 Lớp 8: A Closer Look 2
  • Giải A Closer Look 1 Unit 4 Tiếng Anh 8 Mới
  • Bài làm

    Câu 1: Ý nghĩa của việc dùng dấu phẩy trong đầu đề của văn bản: Ôn dịch, thuốc lá:

    • Thuốc lá ở đây chính là tệ nghiện thuốc lá
    • So sánh (tệ nghiện) thuốc lá với ôn dịch là rất thỏa đáng vì tệ nghiện thuốc lá cũng là một thứ bệnh (bệnh nghiện) và cả hai có một đặc điểm chung là rất dễ lây lan.
    • Từ ôn dịch trong tên gọi văn bản không đơn thuần chỉ có nghĩa là một thứ bệnh lan truyền rộng. Ở đây tác giả dùng từ ôn dịch, một từ còn “thường dùng làm tiếng chửi rủa”, hơn thế lại đặt một dấu phẩy ngắn cách giữa hai từ “ôn dịch” và “thuốc lá”. Dấu phẩy được sử dụng theo lối tu từ để nhấn mạnh sắc thái biểu cảm vừa căm tức vừa ghê tởm. Có thể diễn ý tên gọi văn bản một cách nôm na như sau: “Thuốc lá! mày là đồ ôn dịch!”

    Câu 2:

    Trước khi phân tich tác hại của thuốc lá, tác giả dẫn lời Trần Hưng Đạo bàn về việc đánh giặc: “Nếu đánh giặc như vũ bão thì không dáng sợ, đáng sợ là giặc gặm nhấm như tầm ăn dâu.”

    Nói như thếnày, nghĩa là tác giả đã so sánh việc chống thuốc lá với chống ngoại xâm, nói cách khác là so sánh việc thuốc lá tấn công loài người như giặc ngoại xâm đánh phá. Mượn lối so sánh đặc sắc của nhà quân sự thiên tài thời xưa, tác giả nhằm thuyết phục người đọc một vấn đề y học thời nay: thuốc lá đã và đang đe dọa sức khỏe và tính mạng của con người. Nó tuy không làm cho người ta lăn đùng ra chết, nên không dễ phân biệt những sự thật vô cùng độc hại. Tác giả so sánh tằm với khói thuốc lá. “Tằm ăn dâu” đến đâu, dù chậm, vẫn biết đến đó. Còn khói thuốc, người hút thường không thấy cái tác hại của nó ngay, tức là khói thuốc lá là một loại giặc “gặm nhấm”, nguy hiểm hơn nhiều với giặc “đánh như vũ bão”. Vì giặc đánh chúng ta còn có thể chống được, còn thứ gặm nhấm từ từ thì rất nguy hiểm.

    Lập luận như thế này có thể gây ấn tượng mạnh cho người đọc và giúp người đọc hình dung ra một cách cụ thể tác hại vô cùng to lớn của khói thuốc lá: không làm cho con người lăn đùng ra chết mà chết một cách từ từ.

    Câu 3:

    Trước khi tác giả nêu lên những tác hại của khói thuốc lá đối với những người không hút thuốc. Tác giả đã đặt giả định: “Có người bảo: Tôi hút, tôi bị bệnh, mặc tôi!”. Câu nói này là lời chống chế thường gặp ở những người hút thuốc. Bằng những lập luận chặt chẽ, dẫn chứng sinh động và cả tình cảm nhiệt thành sôi nổi, tác giả đã bác bỏ luận điệu sai lầm ấy.

    Có hai khái niệm đã được giới khoa học dùng phổ biến là hút thuốc lá chủ động hút thuốc lá bị động. Không hút thuốc nhưng để khói thuốc gây tác hại đến bẳn thân gọi là hút thuốc lá bị động hoặc là hút thuốc lá thụ động.

    Như vậy, bản thân hút thuốc lá nghĩa là hút thuốc lá chủ động cũng làm cho những người xung quanh hút thuốc lá bị động theo. Mình tự làm hại sức khỏe mình mà đồng thời cũng làm hại sức khỏe bao nhiêu kẻ khác.

    Câu 4:

    Tác giả đã đưa ra số liệu để so sánh tình hình hút thuốc lá ở nước ta với các nước Âu – Mĩ trước khi đưa ra kiến nghị: Đã đến lúc mọi người phải đứng lên chống lại, ngăn ngừa nạn ôn dịch này. Nước ta nghèo hơn các nước Âu – Mĩ rất nhiều, nhưng theo như so sánh, nước ta “xài” thuốc lá tương đương với các nước đó. Đó là điều thứ nhất không thể chấp nhận được. Hơn nữa, để chống tệ hút thuốc lá, các nước đó đã tiến hành những chiến dịch, thực hiện những biện pháp ngăn ngừa, hạn chế quyết liệt hơn ta. Đó là điều thứ hai để đáng suy nghĩ.

    So sánh này vừa có tác dụng làm rõ hơn tính đúng đắn của những điều được thuyết minh ở các phần trên, vừa tạo đà thuận lợi, cơ sở vững chắc cho tác giả nêu lên lời kiến nghị ở dưới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Bố Cục Văn Bản Ngắn Nhất
  • Soạn Bài: Bố Cục Trong Văn Bản (Ngắn Nhất)
  • Soạn Bài Bố Cục Của Văn Bản (Siêu Ngắn)
  • Soạn Bài: Trong Lòng Mẹ (Siêu Ngắn Gọn)
  • ✅ Trong Lòng Mẹ (Trích Những Ngày Thơ Ấu)
  • Soạn Văn 8 Vnen Bài 12: Ôn Dịch, Thuốc Lá

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Tính Thống Nhất Về Chủ Đề Của Văn Bản (Chi Tiết)
  • Soạn Bài Ngữ Văn Lớp 12: Luật Thơ
  • Soạn Bài Ngữ Văn Lớp 12: Luật Thơ (Tiếp Theo)
  • Soạn Bài Nghị Luận Về Một Bài Thơ, Đoạn Thơ
  • Soạn Bài Ngữ Văn Lớp 12: Sóng
  • Soạn văn 8 VNEN Bài 12: Ôn dịch, thuốc lá

    A. Hoạt động khởi động

    (trang 85, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Trao đổi với bạn về 2 bức tranh sau và trả lời câu hỏi:

    1. Trong gia đình và môi trường sống xung quanh em có người hút thuốc là hay không?

    2. Theo em hút thuốc lá có hại như thế nào?

    3. Em hãy nêu thông điệp được gợi ra từ hai bức tranh.

    Trả lời:

    1. Trong gia đình và môi trường sống xung quanh em có khá nhiều người vẫn đang hút thuốc lá.

    2. Theo em, hút thuốc lá gây hại cho sức khỏe, không chỉ bản thân người hút mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe của những người xung quanh.

    3. Thông điệp được gợi ra từ hai bức tranh: Thuốc lá giống như một mối hiểm họa đang đè nặng lên cuộc sống của mỗi chúng ta

    B. Hoạt động hình thành kiến thức

    1. (trang 85, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Đọc văn bản sau: Ôn dịch, thuốc lá

    2. (trang 87, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Tìm hiểu văn bản.

    a. Phân tích ý nghĩa của nhan đề văn bản. Việc dùng dấu phẩy trong đầu đề văn bản: Ôn dịch, thuốc lá có tác dụng gì? Hãy nêu ý chính của văn bản.

    b. Tác giả dẫn lời Trần Hưng Đạo bàn về việc đánh giặc trước khi phân tích tác hại của thuốc lá có tác dụng gì trong lập luận?

    c. Tác giả đã đưa ra những lí lẽ gì cho thấy tác hại của việc hút thuốc lá?

    d. Vì sao tác giả đặt giả định” Có người bảo:Tôi hút, tôi bị bệnh, mặc tôi!” trước khi nêu lên những tác hại về phương diện xã hội của thuốc lá?

    e. Vì sao tác giả đưa ra những số liệu để so sánh tình hình hút thuốc của nước ta với các nước Âu-Mĩ trước khi đưa ra kiến nghị: Đã đến lúc mọi người phải đứng lên chống lại, ngăn ngừa nạn ôn dịch này?

    g. Nêu ngắn gọn thông điệp được gợi ra từ văn bản

    Trả lời:

    a. Phân tích ý nghĩa của nhan đề văn bản: “Ôn dịch, thuốc lá” ngắn gọn nhưng lại mang đến cho người đọc đầy đủ thông tin vấn đề, và cả thái độ của người viết đối với vấn đề đang nói tới. Thuốc lá ở đây được nhắc tới với tệ nạn nghiện hút thuốc lá. Nó được ví một cách rất thoả đáng với ôn dịch, được tác giả xem như một thứ bệnh nguy hiểm đến tính mạng của con người và rất dễ lây lan. Hơn nữa, từ “ôn dịch” còn mang sắc thái biểu cảm. Nghiện thuốc lá được nói đến trong một cảnh báo gay gắt, đến mức nó đáng trở thành một đối tượng để nguyền rủa.

    Ôn dịch trong tiếng Việt là từ được dùng để làm tiếng chửi rủa thể hiện thái độ căm ghét, ghê sợ – một loại bệnh nguy hiểm lây lan làm chết người trong một thời gian nhất định. Thế nhưng, thuốc lá càng nguy hại hơn khi nó luôn thường trực trong cuộc sống của chúng ta.

    – Việc sử dụng dấu phẩy ở nhan đề có tác dụng nhấn mạnh sự biểu đạt:

    + Gây ấn tượng với người đọc

    + Vấn nạn thuốc lá nguy hiểm như ôn dịch

    + Ngắn gọn, súc tích, vẫn nhấn mạnh được mức độ nguy hiểm của nạn hút thuốc

    + Nhấn mạnh thái độ căm ghét, nguyền rủa loại ôn dịch đó.

    – Những ý chính văn bản:

    Phần thứ nhất (từ đầu cho đến “nặng hơn cả AIDS”), tác giả nêu vấn đề đồng thời với nhận định về tầm quan trọng và tính nghiêm trọng của vấn đề: “Ôn dịch thuốc lá đe doạ sức khoẻ và tính mạng loài người còn nặng hơn cả AIDS”.

    Phần 2 (tiếp … con đường phạm pháp) : tác hại của thuốc lá

    Phần 3 (còn lại) : lời kêu gọi chống thuốc lá.

    b. Tác giả trích dẫn lời của Trần Hưng Đạo:

    + Lấy lối so sánh của nhà quân sự đại tài nói tới vấn nạn thuốc lá

    + Tạo sự liên tưởng bằng lối lập luận sắc bén.

    + Thuốc lá cũng là một loại giặc cần chống

    + Giặc thuốc lá không đánh như vũ bão, nó “gặm nhấm như tằm ăn dâu”

    + Tác hại của thuốc lá không nhìn thấy ngay nên mức độ nguy hiểm khôn lường.

    c. Tác hại của việc hút thuốc lá

    Tác giả đã sử dụng những cứ liệu khoa học, bằng sự giải thích, phân tích tường tận của một nhà khoa học và cũng là một bác sĩ. Tác giả chứng minh cho mọi người thấy được tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe của con người. Nó không chỉ phá hủy sức khỏe con người, mà còn gây ra những căn bệnh nan y như: Viêm phế quản, ung thư phổi và ung thư vòm họng làm tắc động mạch, làm nhồi máu cơ tim,…

    d. Tác giả đặt giả định “tôi hút, tôi bị bệnh, mặc tôi!” để phủ định, bác bỏ

    + Thực tế, nhiều người coi thường sức khỏe người thân, người xung quanh nên mặc sức hút thuốc lá

    + Họ ngụy biện bằng cách vin vào quyền tự do cá nhân, tuyên bố tự chịu trách nhiệm về việc làm của mình.

    + Tác giả phản bác vì người hút thuốc không chỉ hủy hoại sức khỏe bản thân mà còn hủy hoại sức khỏe của những người xung quanh.

    + Hút thuốc là quyền cá nhân, nhưng không thể sử dụng quyền đó làm ảnh hưởng tới không khí người khác.

    e. Tác giả đưa ra các so sánh tình hình hút thuốc ở nước ta ngang với các thành phố lớn ở Âu- Mĩ:

    + Các nước phát triển ở Âu- Mĩ cấm hút thuốc, có chiến dịch chống hút thuốc mạnh mẽ, còn nước ta chưa có biện pháp quyết liệt để xử lí

    + Nước ta còn quá nhiều bệnh dịch cần thanh toán thế mà chúng ta lại rước về nhiều thứ bệnh dịch nguy hiểm và tốn kém, gay ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống người dân.

    – Sự so sánh là rất cần thiết vì nó cảnh báo mạnh mẽ vấn nạn hút thuốc lá đang trở nên phổ biến ở nước ta, cần đưa ra các biện pháp khắc phục.

    g. Thông điệp:

    Thuốc lá nguy hại và dễ lây lan như một thứ dịch bệnh. Mỗi chúng ta cần ngăn chặn thuốc lá để bảo vệ cuộc sống của chính mình.

    3. (trang 88, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Tìm hiểu về câu ghép (tiếp theo)

    a. Đọc câu ghép sau và hoàn thành phiếu bài tập ở dưới:

    – Có lẽ tiếng Việt của chúng ta đẹp bởi vì tâm hồn của người Việt Nam ta rất đẹp, bởi vì đời sống, cuộc đấu tranh của nhân dân ta từ trước tới nay là cao quý, là vĩ đại, nghĩa là rất đẹp.

    (Phạm Văn Đồng, Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt)

    – Nếu bạn học hành chăm chỉ thì bạn sẽ vượt qua kì thi sắp tới

    – Tuy trời rét mướt nhưng những cành đào vẫn đua nhau khoe sắc

    – Bạn ấy chẳng những chăm chỉ học mà bạn ấy còn hát rất hay

    b. Dựa vào những kiến thức đã học ờ các lớp dưới, hãy nêu thêm những quan hệ ý nghĩa có thê có giữa các vế câu. Cho ví dụ minh hoạ.

    c. Mối quan hề đó thường được đánh dấu bằng những dấu hiệu nào?

    Trả lời:

    a. Hoàn thành phiếu bài tập:

    b. Những quan hệ ý nghĩa có thể có giữa các vế câu: quan hệ nguyên nhân, giả thuyết, tương phản, tăng tiến, điều kiện, lụa chọn, bổ sung, tiếp nối…

    Ví dụ:

    * Điều kiện (giả thiết). Ví dụ: Nếu trời mưa chúng tôi sẽ không được đi chơi

    * Tăng tiến. Ví dụ : Hoa không những học giỏi mà còn rất chăm ngoan nữa.

    * Lựa chọn. Ví dụ : Cậu định ở lại hay về?

    * Tương phản. Ví dụ : Chúng tôi đến chơi nhưng Lan không có ở nhà

    c. Mối quan hề đó thường được đánh dấu bằng những dấu hiệu: cặp quan hệ từ, dấu câu hoặc hoàn cảnh giao tiếp.

    4. (trang 88, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Tìm hiểu về các phương pháp thuyết minh.

    (1) Huế là một trong những trung tâm văn hóa, nghệ thuật lớn của Việt Nam

    (2) Nông Văn Vân là tù trưởng dân tộc Tày, giữ chức trị châu Bảo Lạc( Cao Bằng)

    -Hai câu văn đều có từ gì ở thành phần vị ngữ? Sau từ ấy, người ta cung cấp một kiến thức như thế nào?

    – Hãy nêu vai trò và đặc điểm của loại câu văn định nghĩa, giải thích trong văn bản thuyết minh

    b. Đọc các câu văn, đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:

    Cây dừa cống hiến tất cả của cải của mình cho con người: thân cây làm máng, lá làm tranh, cọng lá chẻ nhỏ làm vách gốc dừa già làm chõ xôi, nước dừa để uống, để kho cá, kho thịt, nấu canh, làm nước mắm,……

    Theo các nhà khoa học, bao bì ni lông lẫn vào đất làm cản trở quá trình sinh trưởng của các loài thực vật bị nó bao quanh, cản trở sự phát triển của cỏ dẫn đến hiện tượng xói mòn ở các vùng đồi núi. Bao bì ni lông bị vứt cuống cống làm tắc các đường dẫn nước thải, làm tăng khả năng ngập lụt của các đô thị về mùa mưa. Sự tắc nghẽn hệ thống cống rãnh làm cho muỗi phát sinh, lây truyền dịch bệnh. Bao bì ni lông trôi ra biển làm chết các sinh vật khi chúng nuốt phải……..

    Trong câu văn, đoạn văn tác giả đã sử dụng phương pháp thuyết minh gì? Phương pháp ấy có tác dụng gì đối với việc trình bày tính chất của sự vật?

    c. Cho đoạn văn sau:

    Ngày nay, đi các nước phát triển, đâu đâu cũng nổi lên chiến dịch chống thuốc lá. người ta cấm hút thuốc ở tất cả những nơi công cộng, phạt nặng những người vi phạm( ở bỉ, từ năm 1987, vi phạm lần thứ nhất phạt 40 đô la, tái phạm phạt 500 đô la)

    Chỉ ra và nêu tác dụng của ví dụ ở trong đoạn văn trên đối với việc trình bày cách xử phạt những người hút thuốc ở nơi công cộng. Phương pháp thuyết minh của đoạn văn trên là gì?

    d. Đoạn văn sau cung cấp những số liệu nào? Nếu không có số liệu, có thể làm sáng tỏ được vai trò của cỏ trong thành phố không?

    Các nhà khoa học cho biết trong không khí, dưỡng khí chỉ chiếm 20% thể tích, thán khí chiếm 3%. Nếu không có bổ sung thì trong vòng 500 năm con người và động vật sẽ dùng hết số dưỡng khí ấy, đồng thời số thán khí không ngừng gia tăng. Vậy vì sao đến nay dưỡng khí vẫn còn? Đó là nhờ thực vật. Thực vật khi quang hợp hút thán khí và nhả ra dưỡng khí. Một héc-ta cỏ mỗi ngày có khả năng hấp thụ 900 kg thán khí và nhả ra 600 kg dưỡng khí. Vì thế trồng cây xanh và thảm cỏ trong thành phố có ý nghĩa cực kì to lớn.

    (Nói về cỏ)

    Đoạn văn trên đã sử dụng phương pháp thuyết minh nào?

    e. Cho câu văn sau:

    Thái Bình Dương chiếm một diện tích lớn gần bằng ba đại dương khác cộng lại và lớn gấp 14 lần diện tích biển Bắc Băng Dương là đại dương bé nhất.

    Cho biết tác dụng của phương pháp so sánh trong câu văn trên. Câu văn đã sử dụng phương pháp thuyết minh nào?

    g. Đối với những sự vật đa dạng, người ta chia ra từng loại để trình bày. Đối với sự vật có nhiều bộ phận cấu tạo, có nhiều mặt, người ta chai ra từng bộ phận từng mặt để chứng minh. Hãy cho biết văn bản Huế đã trình bày các đặc điểm của thành phố Huế theo những phương diện nào? Tác giả đã sử dụng phương pháp thuyết minh gì?

    h. Trả lời các câu hỏi sau:

    Muốn có tri thức để làm tốt bài văn thuyết minh, người viết phải làm gì?

    Để bài văn thuyết minh có sức thuyết phục, người viết cần sử dụng những phương pháp thuyết minh nào?

    Trả lời:

    a. Trả lời câu hỏi:

    * Trong các câu văn trên, ta thường gặp từ ” là”. Sau từ ấy, người ta cung cấp một kiến thức cần thiết cho từ trước nó.

    * Vai trò đặc điểm của loại câu văn định nghĩa, giải thích trong văn bản thuyết minh là giải thích vấn đề được nêu lên trước đó.

    b. Phương pháp liệt kê có tác dụng đưa ra hàng loạt số liệu, tính chất, đặc điểm của sự vật nào đó nhằm nhấn mạnh, khẳng định đối tượng cần thuyết minh làm rõ.

    + Đoạn Cây dừa Bình Định: liệt kê lợi ích từ tất cả các bộ phận của cây dừa đều hữu dụng.

    + Đoạn trích trong bài “Thông tin về ngày Trái Đất năm 2000 liệt kê hàng loạt tác hại của bao bì ni lông.

    c. Phân tích đoạn văn:

    Đoạn văn sử dụng phương pháp nêu ra ví dụ.

    + Nêu ví dụ là phương pháp thuyết minh có tính thuyết phục, ấy dẫn chứng từ sách báo, đời sống để làm rõ điều mình trình bày.

    + Trong đoạn trích bài Ôn dịch, thuốc lá nêu ví dụ các nước phát triển xử phạt đối với người sử dụng thuốc lá.

    d. Đoạn văn sử dụng phương pháp dùng số liệu

    Phương pháp dùng số liệu là sử dụng những con số có tính định lượng để giải thích, minh họa, chứng minh cho một sự vật, hiện tượng nào đó.

    e. Đoạn văn sử dụng phương pháp so sánh

    Đoạn văn huyết minh về độ rộng lớn của biển Thái Bình Dương, người viết đã tiến hành so sánh với các đại dương khác để giúp người đọc có được ấn tượng cụ thể về diện tích của nó. Phép so sánh có tác dụng làm nổi bật, cụ thể hoá đối tượng cần thuyết minh.

    g. Tác giả dùng phương pháp phân tích, phân loại để trình bày các đặc điểm của thành phố Huế theo những phương diện: (văn hóa, xã hội, lịch sử,…)

    * Phong cảnh thiên nhiên.

    * Các công trình kiến trúc.

    * Các nhà vườn ở Huế.

    * Món ăn.

    * Tinh thần quật cường của nhân dân.

    h. Trả lời câu hỏi:

    Muốn có tri thức để làm tốt bài văn thuyết minh, người viết phải quan sát, tìm hiểu sự vật, hiện tượng cần thuyết minh, nhất là phải nắm bắt được bản chất, đặc trưng của chúng, để tránh sa vào trình bày các biểu hiện không tiêu biểu, không quan trọng.

    Để bài văn thuyết minh có sức thuyết phục, dễ hiểu, sáng rõ, người ta có thể sử dụng phối hợp nhiều phương pháp thuyết minh như: nêu định nghĩa, giải thích, liệt kê, nêu ví dụ, dùng số liệu, so sánh, phân tích, phân loại…

    C. Hoạt động luyện tập

    a) Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: hôm nay tôi đi học.

    (Thanh Tịnh, Tôi đi học)

    b) Nếu trong pho lịch sử loài người xoá các thi nhân, văn nhân và đồng thời trong tâm linh loài người xoá hết những dấu vết họ còn lưu lại thì cái cảnh tượng nghèo nàn sẽ đến bực nào!

    (Hoài Thanh, Ý nghĩa văn chương)

    c) Như vậy, chẳng những thái ấp của ta mãi mãi vững bền, mà bổng lộc các ngươi cũng đời đời hưởng thụ; chẳng những gia quyến của ta được êm ấm gối chăn, mà vợ con các ngươi cũng được bách niên giai lão; chẳng những tông miếu của ta sẽ được muôn đời tế lễ, mà tổ tông các ngươi cũng được thờ cúng quanh năm; chẳng những thân ta kiếp này đắc chí, mà đến các ngươi trăm năm về sau tiếng vẫn lưu truyền; chẳng những danh hiệu ta không bị mai một, mà tên họ các ngươi cũng sử sách lưu thơm.

    (Trần Quốc Tuấn, Hịch tướng sĩ)

    d) Tuy rét vẫn kéo dài, mùa xuân đã đến bên bờ sông Lương.

    (Nguyễn Đình Thi)

    e) Hai người giằng co nhau, du đẩy nhau, rồi ai nấy đều buông gậy ra, áp vào vật nhau […]. Kết cục, anh chàng “hầu cận ông lí” yếu hơn chị chàng con mọn, bị chị này túm tóc lẳng cho một cái, ngã nhào ra thềm.

    (Ngô Tất Tố)

    Trả lời:

    a, Quan hệ nhân- quả:

    + Nguyên nhân: “tôi đi học”

    + Kết quả “cảnh vật chung quanh thay đổi”

    b, Quan hệ giả thuyết- hệ quả

    + Giả thuyết: xóa hết dấu vết của thi nhân

    + Hệ quả: “cảnh tượng nghèo nàn”

    c, Quan hệ ý nghĩa giữa các vế: quan hệ đồng thời

    + Một vế là quyền lợi của chủ tướng, vế hai là quyền lợi của tướng sĩ, quân binh

    d, Quan hệ ý nghĩa giữa các vế: quan hệ tương phản

    + Vế một rét của mùa đông, vế hai sự ấm áp, tươi mới của mùa xuân

    e, Quan hệ giữa các vế: quan hệ tăng tiến

    2. (trang 91, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Đọc các đoạn trích trong sách giáo khoa và trả lời câu hỏi.

    (a) Biển luôn thay đổi tuỳ theo màu sắc mây trời. Trời xanh thẳm, biển cũng thẳm xanh, như dâng cao lên chắc nịch. Trời rải mây trắng nhạt, biển mơ màng dịu hơi sương. Trời âm u mây mưa, biển xám xịt, nặng nề . Trời ầm ầm dông gió, biển đục ngầu giận giữ.

    (b). Vào mùa sương, ngày ở Hạ Long như ngắn lại. Buổi sớm, mặt trời lên ngang cột buồm, sương tan, trời mới quang. Buổi chiều, nắng vừa nhạt, sương đã buông nhanh xuống mặt biển.

    a. Tìm câu ghép trong những đoạn trích trên.

    b. Xác định quan hệ ý nghĩa giữa các vế câu trong mỗi câu ghép.

    c. Có thể tách mỗi vế câu nói trên thành một câu đơn không ? Vì sao?

    Trả lời:

    – Câu ghép:

    Trời// xanh thẳm, biển// cũng xanh thẳm như dâng cao lên, chắc nịch.

    Trời// rải mây trắng nhạt, biển// mơ màng dịu hơi sương.

    Trời// âm u mây mưa, biển xám xịt nặng nề.

    Trời// ầm ầm dông gió, biển// đục ngầu giận dữ

    – Quan hệ ý nghĩa giữa các vế câu ghép trên: quan hệ nhân quả. Sự thay đổi của trời dẫn tới sự thay đổi của nước.

    + Vế một là sự thay đổi màu sắc của trời dẫn đến kết quả biển thay đổi màu sắc.

    b, Câu ghép:

    Buổi sớm, mặt trời// lên ngang cột buồm, sương//tan, trời// mới quang.

    Buổi chiều, nắng// vừa nhạt, sương// đã buông nhanh xuống biển.

    – Quan hệ ý nghĩa giữa các vế câu: quan hệ đồng thời.

    + vế một nêu lên sự thay đổi của mặt trời, vế hai nêu sự thay đổi đối ứng của sương.

    – Không thể tách các vế câu trên thành câu đơn, sẽ làm mất đi quan hệ ý nghĩa vốn luôn song hành (nguyên nhân- kết quả)

    3. (trang 91, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Văn bản Ôn dịch thuốc lá đã sử dụng những phương pháp thuyết minh nào để nêu bật tác hại của việc hút thuốc lá?

    Trả lời:

    Các phương pháp được sừ dụng trong bài viết : dùng số liệu, nêu ví dụ, so sánh đối chiếu, phân tích. Cụ thể như sau:

    * Đoạn 1 (Từ đầu đến còn nặng hơn cả AIDS): phương pháp nêu định nghĩa giải thích.

    * Đoạn 2 (Từ Ngày trước đến sức khỏe cộng đồng): phương pháp so sánh, giải thích, dùng số liệu.

    * Đoạn 3 (từ có người bảo đến tội ác): phương pháp giải thích, nêu ví dụ.

    * Đoạn 4 (từ Bố và anh hút đến hết): phương pháp giải thích, nêu ví dụ, phân tích

    4. (trang 91, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Đọc văn bản thuyết minh “Ngã ba Đồng lộc” và trả lời câu hỏi thuyết minh đòi hỏi kiến thức nào? Văn bản này sử dụng phương pháp thuyết minh nào?

    NGÃ BA ĐỒNG LỘC

    Ngã ba Đồng Lộc là giao điểm giữa hai đường tỉnh lộ số 8 và số 15 thuộc vùng đất đội Hà Tĩnh. Trên một đoạn đường khoảng 20 km mà có những 44 trọng điểm đánh phá của giặc Mĩ và đã phải chịu đựng hơn 2057 trận bom. Ở đây có một tập thể kiên cường gồm 10 cô gái tuổi đời từ 17 đến 20 làm nhiệm vụ san lấp hố bom, làm đường, đào hầm trú ẩn, bảo đảm an toàn cho xe và người qua lại. Ngày 24 – 7 – 1968, sau 18 lần giặc Mĩ cho máy bay đánh phá ác liệt vào khu vực này, cả 10 chị em vẫn trụ lại kiên cường, bất khuất, giữ vững mạch đường đến hơi thở cuối cùng.

    Cũng trên mảnh đất anh hùng này đã sinh ra người anh hùng trẻ tuổi La Thị Tám, một cô gái đầy nhiệt tình cách mạng, gan dạ, mưu trí. Liên tục 116 ngày đêm làm nhiệm vụ, chị đã quan sát, đánh dấu những quả bom chưa nổ ở các trọng điểm địch đánh phá ác liệt. Ba lần bị bom nổ vùi lấp, chị vẫn kiên cường bám sát trận địa, đánh dấu đủ, rõ các hút bom, phục vụ đắc lực cho việc phá bom, đảm bảo giao thông thông suốt.

    Ngày nay Ngã ba Đồng Lộc trở thành một nơi tưởng niệm những tấm gương oanh liệt của các cô gái thanh niên xung phong trong thời kháng chiến chống Mĩ.

    (Báo Quân đội nhân dân, 1975)

    Trả lời:

    Văn bản thuyết minh Ngã ba Đồng Lộc

    – Kiến thức:

    + Vị trí địa lý của Ngã ba Đồng Lộc

    + Về tập thể 10 cô gái thanh niên xung phong làm nhiệm vụ san lấp hố bom, đào hầm, đảm bảo an toàn giao thông

    + Cô gái La Thị Tám đầy nhiệt tình cách mạng, dũng cảm và mưu trí.

    – Phương pháp thuyết minh

    + Liệt kê: kể tên việc làm của 10 cô gái thanh niên xung phong.

    + Phương pháp nêu ví dụ: “ba lần bị bom nổ vui lấp… giao thông thông suốt”

    + Phương pháp dùng số liệu: “Ngày 24/7/ 1968… hơi thở cuối cùng”

    D. Hoạt động vận dụng

    1. (trang 92, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Viết đoạn văn khoảng (5-7 câu) ghi lại suy nghĩ của em về hiện tượng hút thuốc lá ở một số bạn học hiện nay. Trong đoạn văn có sử dụng câu ghép.

    Trả lời:

    Hiện nay, có không ít học sinh, dù vẫn còn ngồi trên ghế nhà trường, nhưng đã hút thuốc lá như một thói quen khó bỏ. Dường như, các bạn chưa hiểu được hết tác hại của việc hút thuốc lá. Hút thuốc lá ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người. Hút thuốc lá có thể gây ra bệnh về phổi, gan, tim, khoa học và thực tế đã chứng minh rằng nếu một người hút thuốc lá thường xuyên trong vòng nhiều năm thì tuổi thọ sẽ giảm đi rất nhiều so với những người không hút thuốc lá. Trong thuốc lá có côcain dễ gây nghiện, khu hút có thể nó kích thích sự hưng phấn cho người hút nhưng nó lại gây ra tác hại rất lớn. Nó làm thành màng đen bao lấy phổi, hút càng nhiều thì diện tích màng đen càng lớn gây bệnh cho người hút. Thuốc lá không chỉ gây hại cho riêng người hút mà hút thuốc

    2. Vẽ tranh

    E. Hoạt động tìm tòi mở rộng

    1. (trang 91, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Tìm hiểu và nhận xét về tình trạng hút thuốc lá ở một số người thân hoặc bạn bè quen biết.

    2. (trang 91, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Trao đổi với các thành viên trong gia đình hoặc các bạn trong nhóm để đề xuất một biện pháp giảm thiểu tác hại của việc hút thuốc lá.

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k7: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    Loạt bài Soạn văn 8 VNEN ngắn nhất của chúng tôi được biên soạn bám sát nội dung sách Hướng dẫn học Ngữ văn 8 Tập 1, Tập 2 chương trình mới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Soạn Một Người Hà Nội Của Nguyễn Khải Trong Ngữ Văn Lớp 12
  • Soạn Bài Một Người Hà Nội Ngữ Văn Lớp 12 Hay Nhất
  • Soạn Bài Một Người Hà Nội Trang 89 Sgk Ngữ Văn 12
  • Soạn Bài Một Người Hà Nội Trang 89 Sgk Ngữ Văn 12 Tập 2
  • Soạn Bài Một Người Hà Nội Văn 12
  • Soạn Bài Chiếc Lá Cuối Cùng Ngữ Văn Lớp 8

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Chiếc Lá Cuối Cùng Lớp 8 Ngắn Gọn
  • Soạn Văn Bài: Chiếc Lá Cuối Cùng (O Hen
  • Soạn Bài Chiếc Lá Cuối Cùng (Ngắn Gọn)
  • Soạn Bài Chiếc Lá Cuối Cùng Lớp 8 Ngắn Nhất
  • Bài 8. Chiếc Lá Cuối Cùng
  • Đề bài: Soạn bài Chiếc lá cuối cùng

    Bài làm

    1.

    – Những chi tiết nói lên lòng thương yêu của cụ Bơ-men dành cho Giôn-xi:

    • Sợ sệt nhìn cây thường xuân rụng lá. Cụ sợ khi lá thường xuân rụng hết cũng là lúc Giôn-xi lìa đời.
    • Cụ Bơ-men và Xiu nhìn nhau chẳng nói gì, nhưng có lẽ trong thâm tâm cụ đang nghĩ đến cách vẽ chiếc lá cuối cùng để cứu sống Giôn-xi (Điều này ta được biết ở cuối truyện qua lời kể của Xiu)
    • Cụ Bơ men âm thầm vẽ chiếc lá trong đêm mưa gió.

    – Tác giả không kể sự việc cụ đã vẽ chiếc lá trong đêm mưa tuyết ra sao mà đợi đến những dòng cuối cùng của truyện mới cho bạn đọc biết qua lời kể lại của Xiu, có thế mới tạo ra được bất ngờ cho Giôn-xi và gây hứng thú bất ngờ cho cả bạn đọc chúng ta.

    – Chiếc lá cụ Bơ-men vẽ trên tường trong đêm mưa tuyết là một kiệt tác vì nó đem lại sự sống cho Giôn-xi. Chiếc lá không chỉ được vẽ bằng bút lông, bột màu, mà bằng cả tình thương bao la và lòng hi sinh cao thượng.

    2.

    – Xiu không được cụ Bơ- men cho biết sẽ vẽ chiếc lá thay cho lá thường xuân cuối cùng sắp rụng:

    • Trước đó, hai người không nói năng gì khi cụ Bơ- men làm mẫu cho Xiu vẽ
    • Khi Giôn-xi đòi kéo mành lên, “Xiu làm theo một cách chán nản” và sau đó còn “cúi khuôn mặt hốc hác” xuống người bệnh và nói lời não ruột.
    • Xiu cũng ngạc nhiên như chính Giôn-xi ngạc nhiên khi thấy chiếc lá cuối cùng vẫn còn sau đêm mưa gió
    • Chỉ khi bác sĩ nói Xiu mới biết cụ Bơ-men ốm

    – Nếu Xiu được biết trước ý định của cụ Bơ-men thì truyện sẽ kém hay đi vì Xiu không bị bất ngờ và chúng ta không được thưởng thức cả đoạn văn nói lên tâm trạng lo lắng thấm đượm tình người của cô.

    3.

    – Thử hình dung tâm trạng căng thẳng của Giôn-xi, Xiu và của người đọc khi hai lần Giôn-xi ra lệnh kéo mành lên.

    • Người đọc có tâm trạng căng thẳng, hồi hộp khi hai lần Giôn-xi bảo Xiu kéo mành lên.
    • Xiu: tâm trạng lo lắng chỉ diễn ra ở lần kéo mành đầu tiên.
    • Giôn-xi: Cả hai lần bảo Xiu kéo mành lên, cô lạnh lùng, thản nhiên chờ đón cái chết khi chẳng còn thấy chiếc lá nào bám trên bức tường gạch.

    – Nguyên nhân sâu xa quyết định sự hồi sinh của Giôn-xi là sự gan góc của chiếc lá (cô không biết đấy là chiếc lá vẽ), chống chọi kiên cường với thiên nhiên khắc nghiệt, bám lấy cuộc sống, trái ngược với nghị lực yếu đuối, buông xuôi muốn chết của mình.

    – Kết thúc truyện bằng lời kể của Xiu là vừa đủ, không cần để Giôn-xi phản ứng gì thêm. Như vậy truyện sẽ có dư âm, để lại trong lòng người đọc nhiều suy nghĩ và những dự đoán. Truyện sẽ kém hay nếu nhà văn cho chúng ta biết Giôn-xi nghĩ gì, nói gì, có hành động như thế nào khi nghe Xiu kể lại cái chết và việc làm cao cả của cụ Bơ-men. Đây chính là kết thúc mở của truyện.

    4.

    – Truyện có hiện tượng hai lần đảo ngược:

    • Ban đầu, Giôn-xi bị bệnh, cô tuyệt vọng chờ chết. Cụ Bơ- men vẫn khỏe mạnh
    • Sau đó, Giôn-xi hồi sinh, khỏi bệnh. Còn cụ Bơ-men chết sau hai ngày vì dầm mưa gió suốt đêm.

    – Tác dụng của hiện tượng đảo ngược tình huống truyện:

    • Nhân vật trong truyện bất ngờ và độc giả cũng bất ngờ.
    • Gây hứng thú cho người đọc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đọc Hiểu Văn Bản: Chiếc Lá Cuối Cùng
  • Soạn Bài Chiếc Lá Cuối Cùng Siêu Ngắn
  • Top 3 Soạn Bài Chiếc Lá Cuối Cùng Ngắn Nhất.
  • Tóm Tắt Văn Bản Chiếc Lá Cuối Cùng
  • Tóm Tắt Truyện Ngắn Chiếc Lá Cuối Cùng Của O. Henri
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100