【#1】Soạn Bài Lớp 8: Quê Hương Soạn Bài Môn Ngữ Văn Lớp 8 Học Kì 2

Soạn bài lớp 8: Quê hương Soạn bài môn Ngữ văn lớp 8 học kì 2

Soạn bài lớp 8: Quê hương

QUÊ HƯƠNG (Tế Hanh)

I. VỀ TÁC GIẢ

Nhà thơ Tế Hanh (tên khai sinh là Trần Tế Hanh), sinh năm 1921 tại xã Bình Dương, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi; hiện ở quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.

Tham gia cách mạng từ tháng 8-1945, Tế Hanh đã trải qua các công tác văn hoá, giáo dục ở Huế, Đà Nẵng. Năm 1948, ông ở trong Ban phụ trách Liên đoàn kháng chiến Nam Trung Bộ; Uỷ viên Thường vụ cho Hội Văn nghệ Trung ương. Năm 1957 khi thành lập Hội Nhà văn Việt Nam, ông là Uỷ viên Thường vụ Hội khóa I, II, Uỷ viên Thường vụ Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam (1963), ông tham gia nhiều khóa Ban chấp hành Hội Nhà văn, giữ các chức vụ: Trưởng ban đối ngoại (1968), Chủ tịch Hội đồng dịch (1983), Chủ tịch Hội đồng thơ (1986).

Ông đã cho xuất bản các tập thơ: Hoa niên (1945); Hoa mùa thi (1948); Nhân dân một lòng (1953); Bài thơ tháng bảy (1961); Hai nửa yêu thương (1963); Khúc ca mới (1966); Đi suốt bài ca (1970); Câu chuyện quê hương (1973); Theo nhịp tháng ngày (1974); Giữa những ngày xuân (1977); Con đường và dòng sông (1980); Bài ca sự sống (1985); Tế Hanh tuyển tập (1987); Thơ Tế Hanh (1989); Vườn xưa (1992); Giữa anh và em (1992); Em chờ anh (1994); Ngoài ra ông còn xuất bản các tập tiểu luận, và nhiều tập thơ viết cho thiếu nhi. Ông cũng đã xuất bản nhiều tập thơ dịch của các nhà thơ lớn trên thế giới.

Ông đã được nhận nhiều giải thưởng văn học: Giải Tự lực văn đoàn năm 1939; Giải thưởng Phạm Văn Đồng do Hội Văn nghệ Liên khu V tặng. Ông được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học, nghệ thuật (năm 1996).

II. KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. Hình ảnh nổi bật trong bài thơ của Tế Hanh là hình ảnh làng chài với những sinh hoạt vô cùng thân thuộc, những người dân chài mạnh khoẻ, cường tráng và đương nhiên không thể thiếu hình ảnh những con thuyền, những cánh buồm vốn được coi là biểu tượng của làng chài.

Vì được tái hiện lên từ nỗi nhớ êm đềm nên làng chài phải gắn liền với hoạt động chủ yếu: đánh cá. Đoàn thuyền ra khơi trong một ngày thật đẹp:

Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng.

Thời tiết đẹp không chỉ thiết thực với người dân chài (thời tiết có đẹp thì mới ra khơi được) mà còn làm nổi bật vẻ đẹp của làng chài trong tình yêu và nỗi nhớ của nhà thơ. Sức lực tràn trề của những người trai làng như truyền vào con thuyền, tạo nên khung cảnh ấn tượng, rất mạnh mẽ và hoành tráng:

Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã

Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang.

Rướn thân trắng bao la thâu góp gió Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng

Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng,

Cả thân hình nồng thở vị xa xăm;

Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm

Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ. Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ. Rướn thân trắng bao la thâu góp gió… Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!

Những con thuyền rẽ sóng băng băng và lời thơ cũng theo đó mà bay bổng trong không gian vô cùng rộng rãi, khoáng đạt. Mọi hình ảnh đều được nâng lên đến mức biểu tượng. Chiếc thuyền thì “hăng như con tấu mã”, một từ “phăng” thật mạnh mẽ, dứt khoát đã đưa con thuyền “mạnh mẽ vượt trường giang”. Đặc sắc nhất là cánh buồm. Trên sóng nước, hình ảnh dễ thấy nhất là cánh buồm chứ không phải con thuyền:

(Qua đò – Nguyễn Bính)

Rất ít khi trong các bức tranh vẽ thuyền mà lại thiếu cánh buồm bởi nó chính là yếu tố tạo nên sự hài hoà cân đối và vẻ đẹp lãng mạn. Với một người xa quê, cánh buồm còn “như mảnh hồn làng”, nó đã trở thành hình ảnh tượng trưng cho quê hương bởi dáng vẻ vô cùng mạnh mẽ và khoáng đạt:

Phải có tình yêu quê hương tha thiết và niềm tự hào mãnh liệt, Tế Hanh mới viết được câu thơ giàu giá trị biểu hiện đến như vậy:

1. Cách đọc

Sau cảnh “khắp dân làng tấp nập đón ghe về” (gợi tả không khí sinh hoạt vô cùng thân thuộc của làng chài), những câu thơ đột ngột chùng xuống:

2. Có thể bổ sung và sổ ghi chép thơ, những câu sau:

Từ tả thực, những câu thơ lại dần nghiêng về sắc thái biểu tượng lắng câu. Điều đó góp phần tạo cho bài thơ một cấu trúc hài hoà, cân đối. Bên trên là cảnh rẽ sống vượt trùng dương thì đến đây là cảnh nghỉ ngơi. Cái tĩnh đi liền ngay sau cái động nhưng không tách biệt hoàn toàn. Có một sợi dây liên kết, một sự gắn bó rất mật thiết phía sau hình ảnh “làn da ngăm rám nắng” và “thân hình nồng thở vị xa xăm” của những người trai làng chài, bên cạnh đó còn phải kể đến chi tiết rất gợi cảm: chiếc thuyền đã trở về nghỉ ngơi trên bến nhưng vẫn “nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ”. Từ “chất muối” cho đến hơi thở “vị xa xăm” đều gợi đến biển cả, đến những chuyển động vượt qua muôn ngàn sóng gió. Đó chính là khát vọng chinh phục đại dương rất mãnh liệt, đã ngấm sâu trong huyết quản của những người dân làng chài, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

2. Ai sinh ra ở vùng duyên hải hẳn chẳng lạ gì những cánh buồm. Thế nhưng những câu thơ của Tế Hanh vẫn có một cái gì đó là lạ và cuốn hút:

Cánh buồm vô tri đã được người thi sĩ thổi vào một tâm hồn. Đó chính là cái hồn thiêng liêng (trong tâm khảm nhà thơ) của ngôi làng ấy. Nhà thơ đã lấy cái đặc trưng nhất (những cánh buồm) để mà gợi ra bao ước mơ khao khát về một cuốc sống no ấm, đủ đầy. Câu thơ sau thấm chí còn “có hồn” hơn. Thuyền không phải tự ra khơi mà đang “rướn” mình ra biển cả. Hình ảnh thơ đẹp và thi vị biết bao.

Hai câu thơ là một bức tranh vẽ phác về hình ảnh dân chài. Đó là những con người dường như được sinh ra từ biển. Cuộc sống biển khơi dãi dầu mưa nắng làm cho làn da “ngăm rám” lại, trong cả “hơi thở” của thân hình cũng là hương vị xa xăm của biển. Hai câu thơ không phải chỉ là sự miêu tả đơn thuần mà nó là sự cảm nhận bằng cả một tâm hồn sâu sắc với quê hương.

Trong nỗi nhớ lại thấp thoáng màu nước xanh, cát bạc, cánh buồm… và hẳn không thể thiếu con thuyền “rẽ sóng chạy ra khơi”. Có thể thấy những hình ảnh ấy cứ trở đi trở lại, day dứt mãi trong tâm trí nhà thơ để rồi cuối cùng lại làm bật lên cảm xúc:

Câu thơ được viết thật giản dị nhưng cũng thật gợi cảm, đủ nôn nao lòng người. Bởi nó có sức nặng ngay từ nỗi nhớ da diết và chân thành của tác giả đối với quê hương.

4. Nét đắc sắc nghệ thuật nổi bật nhất của bài thơ này là sự sáng tạo các hình ảnh thơ. Bài thơ cho thấy một sự quan sát tinh tế, một sự cảm nhận và miêu tả sắc sảo. Hình ảnh thơ phong phú, vừa chân thực lại vừa bay bổng và lãng mạn khiến cho cả bài thơ rất có hồn và tràn đầy thi vị.

Bài thơ sử dụng kết hợp phương thức miêu tả và biểu cảm. Nhưng yếu tố miêu tả chủ yếu nhằm phụ vụ cho biểu cảm, trữ tình. Nhờ sự kết hợp này mà hình ảnh thơ vừa lột tả được chân thực, tinh tế cảnh vật và con người của cuộc sống miền biển vừa thể hiện sâu sắc những rung động của tâm hồn nhà thơ.

III. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG

Nội dung bài thơ nói về vẻ đẹp tươi sáng của bức tranh làng quê vùng biến, được thể hiện qua bút pháp bình dị, giàu cảm xúc của nhà thơ, cho nên khi đọc cần chú ý nhấn giọng ở những câu thơ giàu ý nghĩa biểu tượng:

(Tràng giang – Huy Cận)

(Quê hương – Giang Nam)

(Quê hương – Đỗ Trung Quân)

【#2】Giải Sinh Lớp 9 Bài 30: Di Truyền Học Với Con Người

Giải Sinh lớp 9 Bài 30: Di truyền học với con người

Bài 1 (trang 88 sgk Sinh học 9): Di truyền y học tư vấn có những chức năng gì?

Lời giải:

– Quy định nam lấy một vợ, nữ lấy một chồng là căn cứ và tỉ lệ giữa nam và nữ ở độ tuổi 18 – 35, ở độ tuổi trưởng thành này nam và nữ có tỉ lệ là 1: 1. Số nam và nữ bằng nhau. Nếu để 1 nam kết hôn với nhiều nữ hoặc ngược lại thì dẫn đến mất cân bằng trong xã hội.

– Những người có quan hệ huyết thống trong vòng bốn đời không được kết hôn với nhau vì ở những người cùng huyết thống thường có các gen gây bệnh ở trạng thái dị hợp (gen trội át gen lặn), khi họ lấy nhau các gen lặn gây bệnh gặp nhau, biểu hiện ra đời con làm con cái của họ bị dị tật bẩm sinh tăng lên rỗ rệt dẫn tới suy thoái nòi giống.

Bài 2 (trang 88 sgk Sinh học 9): Việc quy định: nam chỉ được lấy một vợ, nữ chỉ được lấy một chồng, những người có quan hệ huyết thống trong vòng bốn đời không được kết hôn với nhau dựa trên cơ sở khoa học nào?

Lời giải:

Cơ sở di truyền học của luật hôn nhân gia đình là:

– Quy định nam lấy một vợ, nữ lấy một chồng là căn cứ và tỉ lệ giữa nam và nữ ở độ tuổi 18 – 35, ở độ tuổi trưởng thành này nam và nữ có tỉ lệ là 1: 1. Số nam và nữ bằng nhau. Nếu để 1 nam kết hôn với nhiều nữ hoặc ngược lại thì dẫn đến mất cân bằng trong xã hội.

– Những người có quan hệ huyết thống trong vòng bốn đời không được kết hôn với nhau vì ở những người cùng huyết thống thường có các gen gây bệnh ở trạng thái dị hợp (gen trội át gen lặn), khi họ lấy nhau các gen lặn gây bệnh gặp nhau, biểu hiện ra đời con làm con cái của họ bị dị tật bẩm sinh tăng lên rỗ rệt dẫn tới suy thoái nòi giống.

Bài 3 (trang 88 sgk Sinh học 9): Tại sao phụ nữ không nên sinh con ở độ tuổi ngoài 35? Tại sao cần phải đấu tranh chống ô nhiễm môi trường.

Lời giải:

Phụ nữ ở tuổi ngoài 35 không nên sinh con vì dễ sinh ra con bị tật, bệnh di truyền, nhất là bệnh đao. Nếu ở tuổi 20 – 24 khi sinh con có khoảng 0,02 – 0,04% mắc bệnh đao thì ở tuổi 35 – 39 số con mắc bệnh đao tăng là 0,333 – 0,42%.

Cần phải đấu tranh chống ô nhiễm môi trường vì hầu hết các chất thải độc có trong lòng đất hoặc các vật dụng quanh ta thường xuyên phân rã xâm nhập vào động, thực vật rồi vào người (người sử dụng chúng làm thức ăn) chúng tích luỹ trong mô xương, mô máu, tuyến sinh dục gây ung thư máu, các khối u, đột biến.

Từ khóa tìm kiếm:

  • sinh lớp 9 bài 30
  • sinh 9 bai 30 bai tap
  • giải bài 30 sinh 9
  • Giai bai tap sinh 9 bai 30
  • soan sinh 9 loi giai hay bai 30

【#3】Soạn Sinh Học 6 Bài 39: Quyết

Soạn sinh học 6 Bài 39: Quyết – Cây dương xỉ thuộc: CHƯƠNG VIII. CÁC NHÓM THỰC VẬT

Lý Thuyết:

Dương xỉ thuộc nhóm Quyết, là những thực vật đã có thân, rễ, lá thật và có mạch dẫn.

Dương xỉ thuộc nhóm Quyết, là những thực vật đã có thân, rễ, lá thật và có mạch dẫn. Chúng sinh sản bằng bào tứ. Bào tử mọc thành nguyên tán và cây con mọc ra từ nguyên tán sau quá trình thụ tinh.

Câu hỏi cuối bài:

1.So sánh cơ quan sinh dưỡng của cây rêu và cây dương xỉ, cây nào có cấu tạo phức tạp hơn ?

So sánh cơ quan sinh dưỡng của cây rêu và cây dương xỉ

* So với cây rêu thì cây dương xỉ có cấu tạo hoàn chỉnh hơn vì đã có rễ thật và đã có mạch dẫn.

2. Sưu tầm các loại dương xỉ gặp ở địa phương. Nhận xét về đặc điểm chung của chúng. Làm thể nào để nhận biết được một cây thuộc Dương xỉ ?

Các em có thể tìm các cây dương xỉ ở những nơi đất ẩm và râm ở ven đường đi, bờ ruộng, khe tường hoặc dưới tán cây trong vườn (trong rừng).

Khi tìm cần căn cứ vào đặc điểm của lá (lá non cuộn như vòi voi). Sau khi tìm được một số dương xỉ, thì các em quan sát để xác định đặc điếm chung để nhận biết chúng.

Đặc điểm chung của các cây thuốc ngành Dương xỉ.

– Lá non của cây cuộn xoắn.

– Thân cây là thân rễ nằm ngang, có nhiều rễ phụ mọc ra từ thân.

– Mặt dưới các lá già có các chấm đen là các túi bào tử.

3. Than đá được hình thành như thế nào ?

Sự hình thành than đá: Cách đây khoảng 300 triệu năm, khí hậu trên Trái Đất rất thích hợp với sự sinh trưởng của Quyết (nóng ẩm quanh năm, sương mù và mưa lớn nhiều).

Quyết phát triển rất nhanh làm thành những khu rừng lớn (toàn những cây thân gỗ) có cây cao tới 40m. Về sau, do sự biến đổi của vỏ Trái Đất, những khu rừng này bị chết và bị vùi sâu dưới đất. Do tác dụng của vi khuẩn, của sức nóng, sức ép của tầng trên Trái Đất mà chúng biến thành than đá.

Xem Video bài học trên YouTube

Giáo viên dạy thêm cấp 2 và 3, với kinh nghiệm dạy trực tuyến trên 5 năm ôn thi cho các bạn học sinh mất gốc, sở thích viết lách, dạy học

【#4】Sinh Học 11 Bài 8 Quang Hợp Ở Thực Vật Hay Nhất

Sinh học 11 bài 8 Quang hợp ở thực vật là tâm huyết biên soạn của nhiều thầy cô giáo bộ môn sinh học giúp các em nắm chắc kiến thức quang hợp ở thực vật vận dụng giải bài tập sinh học 11 bài 8 SGK. Top bài giải sinh học lớp 11 hay nhất được cập nhật chi tiết tại Soanbaitap.com.

Sinh học 11 bài 8 Quang hợp ở thực vật thuộc: CHƯƠNG I. CHUYỂN HÓA VẬT CHẤT VÀ NĂNG LƯỢNG và nằm trong A – Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở thực vật

Quan sát hình 8.1 và cho biết quang hợp là gì.

– Phương trình quang hợp tổng quát:

Quang hợp diễn ra chủ yếu ở cơ quan nào của cây, tại sao?

Quang hợp chủ yếu diễn ra ở lá xanh. Vì lá xanh là cơ quan chuyên trách quang hợp, có cấu tạo phù hợp chức năng.

Ví dụ:

+ Lá có dạng bản, diện tích bề mặt lá lớn → giúp hấp thụ được nhiều tia sáng.

+ Trong lớp biểu bì lá có khí khổng giúp CO2 khuếch tán vào bên trong lá.

+ Lớp mô giậu dày chứa nhiều lục lạp nằm sát ngay mặt trên lá dưới lớp biểu bì trên, giúp hấp thụ năng lượng ánh sáng

+ Lớp mô xốp có các khoảng trống gian bào lớn (nơi chứa CO2 cung cấp cho quang hợp).

+ Lá có mạng lưới mạch dẫn dày đặc giúp dẫn nước và muối khoảng đến từng tế bào để thực hiện quang hợp và vận chuyển các sản phẩm quang hợp ra khỏi lá.

Quan sát hình 8.2, nêu đặc điểm phân bố và sắp xếp của các tế bào chứa diệp lục trong lá và cho biết điều đó có tác dụng gì đối với quang hợp?

Các tế bào chứa diệp lục phân bố trong mô giậu và mô xốp của phiến lá.

Mô giậu có nhiều tế bào chứa diệp lục hơn, các tế bào xếp sít nhau và song song với nhau. Mô giậu nằm ngay bên dưới lớp tế bào biểu bì mặt trên của lá. Điều đó giúp các phân tử sắc tố hấp thụ trực tiếp được ánh sáng chiếu lên mặt trên của lá.

Mô xốp phân bố mặt dưới của lá. Các tế bào mô xốp phân bố cách xa nhau tạo nên các khoảng trống là điều kiện cho sự trao đổi khí cho quang hợp. Các khí CO2 khuếch tán vào lá đến các tế bào chứa sắc tố quang hợp chủ yếu qua mặt dưới của lá, nơi phân bố nhiều khí khổng hơn so với mặt trên.

Đề bài

Quan sát hình 8.3 và dựa vào kiến thức về lục lạp trong Sinh học 10. Hãy nêu những đặc điểm cấu tạo của lục lạp thích nghi với chức năng quang hợp.

– Kích thước chiều ngang 2-4μm, chiều dài 4-7μm.

– Cấu tạo: Lục lạp có cấu tạo màng kép, bên trong là khối cơ chất không màu gọi là chất nền stroma, có hệ thống các túi dẹt (có bản chất là màng tilacôit) xếp chồng lên nhau tạo thành các grana nằm rải rác

Hệ thống màng tilacôit là nơi phân bố hệ sắc tố quang hợp, nơi xảy ra các phản ứng sáng. Xoang tilacôit là nơi xảy ra các phản ứng quang phân li nước và quá trình tổng hợp ATP trong quang hợp

Chất nền (strôma) của lục diệp là nơi diễn ra các phản ứng của pha tối quang hợp.

Hướng dẫn giải bài tập Sinh học 11 bài 8 SGK

Giải bài 1 trang 39 SGK Sinh học 11. Quang hợp ở thực vật là gì? Viết phương trình quang hợp tổng quát?

Đề bài

Quang hợp ở thực vật là gì? Viết phương trình quang hợp tổng quát.

Quang hợp ở thực vật là quá trình sử dụng năng lượng ánh sáng mặt trời được diệp lục hấp thụ để tạo ra cacbonhiđrat và ôxi từ khí cacbonic và nước.

Phương trình tổng quát về quang hợp:

– Sản phẩm của quang hợp là nguồn chất hữu cơ làm thức ăn cho sinh vật dị dưỡng, làm nguyên liệu cho công nghiệp, làm dược liệu,… phục vụ đời sống con người.

– Quang hợp lấy khí CO2 và giải phóng khí O2 giúp điều hòa không khí, cung cấp O2 cho sự sống.

– Chuyển hóa quang năng (năng lượng ánh sáng) thành hóa năng (năng lượng trong các liên kết hóa học) trong các sản phẩm quang hợp, duy trì hoạt động của sinh giới.

Giải bài 3 trang 39 SGK Sinh học 11. Nêu đặc điểm của lá cây xanh thích nghi với chức năng quang hợp.

Lá cây xanh đã có cấu tạo bên ngoài và bên trong thích nghi với chức năng quang hợp như sau:

– Bên ngoài:

+ Diện tích bề mặt lớn để hấp thụ các tia sáng.

+ Phiến lá mỏng thuận lợi cho khí khuếch tán vào và ra được dễ dàng.

+ Trong lớp biểu bì cùa mặt lá có khí khổng để cho khí CO2 khuếch tán vào bên trong lá đến lục lạp.

– Bên trong:

+ Tế bào mô giậu chứa nhiều diệp lục phân bố ngay bên dưới lớp biểu bì mặt trên của lá dể trực tiếp hấp thụ được các tia sáng chiếu lên mặt trên của lá.

+ Tế bào mô xốp chứa ít diệp lục hơn so với mô giậu, nằm phía mặt dưới của phiến lá. Trong mô xốp có nhiều khoảng rỗng tạo điều kiện cho khí CO2 dễ dàng khuếch tán đến các tế bào chứa sắc tố quang hợp.

+ Hệ gân lá phát triển đến tận từng tế bào nhu mô của lá, chứa các mạch gỗ (con đường cung cấp nước cùng các ion khoáng cho quang hợp) và mạch rây (con đường dẫn sản phẩm quang hợp ra khỏi lá).

+ Trong lá có nhiều tế bào chứa lục lạp (với hệ sắc tố quang hợp bên trong) là bào quan quang hợp.

Giải bài 4 trang 39 SGK Sinh học 11. Nêu thành phần của hệ sắc tố quang hợp trong lá xanh và chức năng của chúng.

Thành phần của hệ sắc tố quang hợp: Diệp lục và carôtenôit. Diệp lục là sắc tố chủ yếu của quang hợp, carôtenôit là sắc tố phụ quang hợp.

Chức năng của hệ sắc tố quang hợp:

+ Diệp lục gồm diệp lục a và diệp lục b. Trong đó diệp lục a (P700và P680) tham gia trực tiếp vào sự chuyển hóa năng lượng ánh sáng thành năng lượng ở các liên kết hóa học trong ATP và NADPH. Các phân tử diệp lục b và diệp lục a khác hấp thụ năng lượng ánh sáng và truyền năng lượng đã hấp thụ được cho diệp lục a (P700 và P680) ở trung tâm phản ứng quang hợp.

+ Các carôtenôit gồm carôten và xantôphin (ngoài ra ở tảo còn có phicôbilin). Chức năng của chúng là hấp thụ năng lượng ánh sáng và truyền năng lượng đã hấp thụ được cho diệp lục b để diệp lục b truyền tiếp cho diệp lục a. Ngoài ra, carôtenôit còn có chức năng bảo vệ bộ máy quang hợp và tế bào khỏi bị nắng cháy khi cường độ ánh sáng quá cao.

Giải bài 5 trang 39 SGK Sinh học 11. Sắc tố tham gia trực tiếp vào chuyển hóa quang năng thành hóa năng trong sản phẩm quang hợp ở cây xanh là:

Đề bài

Sắc tố tham gia trực tiếp vào chuyển hóa quang năng thành hóa năng trong sản phẩm quang hợp ở cây xanh là:

a. Diệp lục a. b. Diệp lục b.

c. Diệp lục a, b. d. Diệp lục a, b và carôtenôit.

Đáp án a.

Sắc tố tham gia trực tiếp vào chuyển hóa quang năng thành hóa năng trong sản phẩm quang hợp ở cây xanh là diệp lục a. Diệp lục b và các sắc tố phụ còn lại chỉ có nhiệm vụ hấp thụ và truyền năng lượng ánh sáng cho diệp lục a ở trung tâm phản ứng

Giải bài 6 trang 39 SGK Sinh học 11. Cấu tạo ngoài của lá có những đặc điểm nào thích nghi với chức năng hấp thụ được nhiều ánh sáng:

A. Có cuống lá.

B. Có diện tích bề mặt lớn.

C. Phiến lá mỏng.

D. Các khí khổng lập trung chủ yếu ở mặt dưới của lá nên không chiếm mất diện tích hấp thụ ánh sáng.

Đáp án B: Cấu tạo ngoài của lá có những đặc điểm nào thích nghi với chức năng hấp thụ được nhiều ánh sáng là có diện tích bề mặt rộng

Xem Video bài học trên YouTube

Là một giáo viên Dạy cấp 2 và 3 thích viết lạch và chia sẻ những cách giải bài tập hay và ngắn gọn nhất giúp các học sinh có thể tiếp thu kiến thức một cách nhanh nhất

【#5】Soạn Bài Khái Quát Văn Học Việt Nam Từ Thế Kỉ X Đến Thế Kỉ Xix

+ Đều là các sáng tác của người Việt, mang đậm nét tính cách, phong tục của người Việt.

+ Đều phát triển trên cơ sở văn tự của người Hán.

+ Đều thể hiện được những vẫn đề gần gũi với hiện thực cuộc sống của người dân như tâm tư, tình cảm, đời sống sinh hoạt trong xã hội trung đại.

+ Đều có được những thành tựu xuất sắc với các tác phẩm đạt tới đỉnh cao nghệ thuật của thể loại

Là bộ phận văn học ra đời sớm hơn, có vị trí quan trọng, được các triều đại phong kiến coi trọng hơn.

Gồm nhiều thể loại phong phú: chiếu, biểu, hịch, cáo, truyện truyền kì, kí sự, tiểu thuyết, chương hồi, phú, thơ cổ phong, thơ đường luật. Các thể loại này được sử dụng cả các văn bản hành chính của triều đình, vừa được dùng trong việc thể hiện tâm tư, đời sống của nhân dân.

Ra đời muộn hơn (khoảng cuối thế kỉ XIII), sử dụng văn tự chữ Hán để ghi âm tiếng nói của người Việt.

Là bộ phận không được giai cấp thống trị phong kiến coi trọng. Tuy nhiên, đối với đông đảo quần chúng nhân dân, văn học chữ Nôm lại có một vị trí đặc biệt.

Chủ yếu là thơ, với hai thể loại truyền thống là theo thể lục bát (nhiều sáng tác truyện thơ) và thể song thất lục bát (ngâm khúc), ngoài ra còn có thơ Nôm, thơ Đường luật, thơ Đường luật thất ngôn xen lục ngôn, hát nói…

Câu 2: Dựa vào kiến thức được trình bày trong mục II, lập bảng tổng kết về tình hình phát triển của văn học Việt Nam thời trung đại theo mẫu sau:

Câu 3: Nêu một số tác phẩm văn học đã học trong chương trình THCS để làm sáng tỏ những đặc điểm lớn về nội dung của văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX.

– Nội dung cảm hứng yêu nước: Sông núi nước Nam, Chiếu dời đô, Bình Ngô đại cáo, Hịch tướng sĩ, Thuật hoài, …

– Nội dung nhân đạo: Chuyện người con gái Nam Xương, Truyện Kiều, Bánh trôi nước, Chinh phụ ngâm, …

– Nội dung thế sự: Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh (Vũ Trung tùy bút), Lục Vân Tiên, Vũ trung tùy bút, …

Câu 4: Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX có những đặc điểm lớn nào về nghệ thuật? Từ đó hãy chỉ ra cách đọc văn học trung đại có điểm gì khác với cách đọc văn học hiện đại.

– Về nghệ thuật: văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX có những đặc điểm lớn như:

+ Tính quy phạm và sự phá vỡ tính quy phạm:

Tính quy phạm thể hiện ở quan điểm văn học: coi trọng chí khí, đề cao đạo lí sống của con người. Văn học thiên về ước lệ tượng trưng với hệ thống các điển tích, điển cố, hệ thống thi liệu mang tính quy phạm được đưa vào văn thơ.

Mặt khác, văn học trung đại phá vỡ tính quy phạm, phát huy cá tính sáng tạo, cái “tôi” của tác giả trong cả nội dung và hình thức biểu hiện (tiêu biểu là thơ Nôm của Hồ Xuân Hương).

+ Khuynh hướng trang nhã và xu hướng bình dị

Xu hướng bình dị thể hiện ở việc nội dung thơ ca gắn bó với hiện thực hơn, tự nhiên và quan tâm nhiều hơn đến cuộc sống của con người

– So sánh văn học trung đại và hiện đại:

Về nội dung: Nội dung văn học trung đại nói nhiều đến cái chí khí, lí tưởng của người quân tử, đạo đức trong cách ứng xử hàng ngày của con người. Đây là điểm khác biệt khá lớn với văn học hiện đại. Với điều kiện tiếp thu nhiều thể loại văn học mới phù hợp, văn học hiện đại đi sâu hơn để khám phá đời sống riêng, thế giới nội tâm của con người

Về hệ thống thi pháp: văn học trung đại với sử dụng nhiều điển tích, điển cố, hệ thống thi liệu mang tính quy phạm, hình ảnh trong văn học mang tính ước lệ tượng trưng, lời ít ý nhiều. Hệ thống thể loại, thi pháp được tiếp thu chủ yếu từ văn học Trung Quốc. Vì thế, để hiểu được nội dung của văn học giai đoạn này, người đọc cần nắm được nội dung của các thi liệu cổ, các cách diễn đạt sâu sắc cùng với cấu trúc ý thức xã hội, hệ tư tưởng phong kiến đó.

Hình ảnh, hình tượng và cách diễn đạt của văn học hiện đại bình dị, gần gũi hơn với đời sống, nên có được lượng độc giả đông đảo hơn. Với việc sử dung các thể loại mới như truyện ngắn, bút kí, tiểu thuyết, .. văn học hiện đại đã thành công trong việc hướng đến vào khám phá đời sống riêng, thế giới nội tâm của con người.

Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX được gọi là văn học trung đại, gồm hai thành phần: văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm, phát triển qua bốn giai đoạn. Những đặc điểm lớn về nội dung là chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân đạo và cảm hứng thế sự. Những đặc điểm lớn về nghệ thuật là tính quy phạm, tính trang nhã; vừa tiếp thu tinh hoa văn học nước ngoài, vừa sáng tạo những giá trị văn học mới mang bản sắc dân tộc.

【#6】Soạn Bài Lớp 8: Nhớ Rừng Soạn Bài Môn Ngữ Văn Lớp 8 Học Kỳ 2

Soạn bài lớp 8: Nhớ rừng Soạn bài môn Ngữ văn lớp 8 học kỳ 2

Soạn bài lớp 8: Nhớ rừng

Giáo án Ngữ văn lớp 8 bài Nhớ rừng Phân tích hình tượng con hổ trong bài thơ Nhớ rừng của Thế Lữ

I. VỀ TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM

1. Tác giả

Thế Lữ (1907-1989), tên khai sinh là Nguyễn Thứ Lễ, sinh tại ấp Thái Hà, Hà Nội. Quê quán: làng Phù Đổng, huyện Tiên Du (nay là Tiên Sơn), tỉnh Bắc Ninh.

Thuở nhỏ, Thế Lữ học ở Hải Phòng. Năm 1929, học xong bậc Thành chung, ông vào học Trường Cao đẳng Mĩ thuật Đông Dương, sau đó một năm (1930), ông bỏ học. Năm 1932, Thế Lữ bắt đầu tham gia Tự lực văn đoàn và là một trong những cây bút chủ lực của báo Phong hoá, Ngày nay. Năm 1937, ông bắt đầu hoạt động sân khấu, làm diễn viên, đạo diễn, lưu diễn tại các tỉnh miền Trung… và có hoài bão xây dựng nền sân khấu dân tộc. Cách mạng tháng Tám, ông hào hứng chào đón cách mạng, và lên Việt Bắc tham gia kháng chiến.

Tác giả đã xuất bản: Mấy vần thơ (thơ, 1935); Vàng và máu (truyện, 1934); Bên đường Thiên lôi (truyện, 1936); Lê Phong phóng viên (truyện, 1937); Mai Hương và Lê Phong (truyện, 1937); Đòn hẹn (truyện, 1939); Gói thuốc lá (truyện, 1940); Gió trăng ngàn (truyện, 1941); Trại Bồ Tùng Linh (truyện, 1941); Dương Quý Phi (truyện, 1942); Thoa (truyện, 1942); Truyện tình của anh Mai (truyện vừa, 1953); Tay đại bợm (truyện vừa, 1953). Ngoài ra Thế Lữ viết nhiều kịch bản: Cụ Đạo sư ông (kịch, 1946); Đoàn biệt động (1947); Đợi chờ (1949); Tin chiến thắng Nghĩa Lộ (1952); Thế Lữ cũng là dịch giả của nhiều vở kịch của Sếch-xpia, Gơ-tơ, Sin-le và Pô-gô-đin,…

2. Tác phẩm

Thế Lữ là một trong những nhà thơ hàng đầu của phong trào Thơ mới. Bài Nhớ rừng đã gắn liền với tên tuổi của ông. Nói đến Thế Lữ không thể không nói đến Nhớ rừng.

Sự xuất hiện của phong trào Thơ mới những năm đầu thế kỉ XX đã tạo ra sự bùng nổ mãnh liệt, một cuộc cách mạng thật sự trong địa hạt văn chương, nhất là thơ. Những thể thơ cũ (tiêu biểu từ thơ Đường luật) với khuôn khổ cứng nhắc, niêm luật gò bó đã không dung chứa nổi, không còn phù hợp với những tư tưởng, cảm xúc dào dạt, mới mẻ, lúc nào cũng chỉ chực tung phá. Đổi mới thể thơ, đổi mới hình thức câu thơ, các nhà thơ mới đồng thời đưa vào đó những dòng cảm xúc dạt dào, mạnh mẽ, tựa như những dòng nham thạnh bỏng đang tuôn chảy tràn trề. Nhớ rừng là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho trào lưu mới này.

II. KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. Bài thơ được ngắt làm năm đoạn. Nội dung của đoạn thứ nhất và đoạn thứ tư nói lên niềm uất hận của con hổ khi bị làm một thứ đồ chơi ngang với lũ gấu dở hơi, và cảnh tầm thường, tù túng, nhân tạo ở vườn bách thú. Đoạn thứ hai và đoạn thứ ba hồi tưởng cảnh tượng tự do, phóng khoáng nơi rừng núi thời oanh liệt. Đoạn thứ năm là hoài niệm nơi rừng núi xưa kia bằng giấc mộng ngàn.

2. a) Cảnh tượng ở vườn bách thú là cảnh tù túng. Đoạn thơ thứ nhất thể hiện tâm trạng chán ngán, căm hờn, uất ức của con hổ. Tuy bị nhốt trong cũi sắt, tuy bị biến thành một thứ đồ chơi lạ mắt, bị xếp cùng với bọn gấu dở hơi, bọn báo vô tư lự, nhưng chúa sơn lâm vẫn khinh lũ người ngạo mạn, ngẩn ngơ. Nó căm hờn sự tù túng, nó khinh ghét những kẻ tầm thường. Nó vượt khỏi sự tù hãm bằng trí tưởng tượng, sống mãi trong tình thương nỗi nhớ rừng.

Đoạn thơ thứ tư thể hiện cảnh vườn bách thú dưới con mắt của con hổ, đó là cảnh tượng nhân tạo, tầm thường, giả dối, nhàm chán “không đời nào thay đổi”.

Cảnh vườn bách thú tầm thường, giả dối, không thay đổi và tù túng đó được con hổ nhìn nhận gợi nên không khí xã hội đương thời. Thái độ ngao ngán, chán ghét cao độ với cảnh vườn bách thú cũng là thái độ của nhiều người, nhất là thanh niên thời đó với xã hội.

Đối lập với cảnh vườn bách thú là cảnh rừng nơi con hổ ngự trị ngày xưa. Rừng núi đại ngàn, cái gì cũng lớn lao, cao cả, phi thường: bóng cả, cây già, gió gào ngàn, nguồn hét núi. Giữa nơi hoang vu, cao cả, âm u, chúa sơn lâm hiện ra đầy oai phong, lẫm liệt:

Với khi thét khúc trường ca dữ dội

Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàngTrong hang tối, mắt thần khi đã quắc

Là khiến cho mọi vật đều im hơi

Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàngTa bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng

Những cảnh sửa sang, tầm thường giả dối

Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng

Dải nước đen giả suối, chẳng thông dòng Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng

Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt,Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan …

Khinh lũ người kia ngạo mạn ngẩn ngơ,

Thuở tung hoành hống hách những ngày xưa,

Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi

Ta bước chân lên dõng dạc, đường hoàng,

Ta biết ta chúa tể của muôn loài,

Vờn bóng âm thầm lá gai cỏ sắc

Những câu thơ này đã diễn tả tinh tế vẻ đẹp vừa dũng mãnh, uy nghi, vừa mềm mại uyển chuyển của chúa sơn lâm.

Những câu thơ của đoạn 3 đã miêu tả bốn cảnh đẹp của núi rừng và nổi bật trên cảnh vừa lộng lẫy, dữ dội, vừa hùng tráng, thơ mộng là hình ảnh con hổ chúa tể, như một vị đế vương đầy quyền uy, đầy tham vọng. Nó uống ánh trăng tan, nó nghe chim ca, nó ngắm giang san, nó muốn chiếm lấy bí mật của vũ trụ. Đúng là một thời oanh liệt, thời huy hoàng.

b) Việc sử dụng từ ngữ, hình ảnh, giọng điệu trong đoạn thơ thứ hai và thứ ba rất đặc biệt. Một loạt những từ chỉ sự cao cả, lớn lao, hoành tráng của núi rừng: bóng cả, cây già, gào, hét, thét. Trong khi đó, hình ảnh con hổ thì khoan thai, chậm rãi, được so sánh với sóng cuộn nhịp nhàng. Diễn tả sức mạnh tuyệt đối của con hổ không phải bằng tiếng hổ gầm, mà là ánh mắt dữ dội:

Sang khổ thơ sau, hàng loạt những điệp ngữ như nhắc đi nhắc lại một cung bậc nuối tiếc, hoài niệm: Nào đâu những, đâu những, đâu những, đâu những… Sau mỗi câu này là một câu hỏi. Và kết thúc là câu hỏi thứ năm, vừa hỏi, nhưng cũng như là khẳng định: thời oanh liệt nay chỉ còn trong quá khứ, trong hồi tưởng mà thôi. Những hình ảnh đêm trăng, mưa, nắng, hoàng hôn vừa đẹp lộng lẫy, vừa dữ dội đã góp phần dựng lại một thời oanh liệt của chúa sơn lâm khi còn tự do.

c) Làm nổi bật sự tương phản, đối lập gay gắt giữa cảnh tượng vườn bách thú, nơi cầm tù, nơi tầm thường, trì đọng với nơi đại ngàn tự do, phóng khoáng, hoành tráng, bí hiểm… nhà thơ đã thể hiện tâm trạng con hổ chán ngán, khinh ghét, căm thù cũi sắt, căm thù cảnh tầm thường, đơn điệu. Và luôn luôn hoài niệm, luôn hướng về thời oanh liệt ngày xưa. Tâm sự ấy là tâm trạng lãng mạn, thích những gì phi thường, phóng khoáng, đồng thời gần gũi với tâm trạng người dân mất nước khi đó. Họ cảm thấy “nhục nhằn tù hãm”, họ nhớ tiếc thời oanh liệt của cha ông với chiến công chống giặc ngoại xâm. Tâm sự của con hổ cũng chính là tâm sự của họ. Chính vì thế mà người ta say sưa đón nhận bài thơ.

3. Tác giả mượn lời con hổ ở vườn bách thú là rất thích hợp. Nhờ đó vừa thể hiện được thái độ chán ngán với thực tại tù túng, tầm thường, giả dối, vừa thể hiện được khát vọng tự do, khát vọng đạt tới sự cao cả, phi thường. Bản thân con hổ bị nhốt trong cũi là một biểu tượng của sự giam cầm, mất tự do, đồng thời thể hiện sự sa cơ, chiến bại, mang tâm sự u uất, không bao giờ thoả hiệp với thực tại. Một điều nữa, mượn lời con hổ, tác giả dễ dàng tránh được sự kiểm duyệt ngặt nghèo của thực dân khi đó. Dù sao, bài thơ vẫn khơi gợi lòng khao khát tự do và yêu nước thầm kín của những người đương thời.

4*. Nhà phê bình Hoài Thanh đã đã ca ngợi Thế Lữ như một viên tướng điều khiển đội quân Việt ngữ bằng những mệnh lệnh không thể cưỡng được. Điều này nói lên nghệ thuật sử dụng từ ngữ điêu luyện, đạt đến độ chính xác cao. Chỉ riêng về âm thanh rừng núi, Thế Lữ cho ta nghe thấy tiếng gió gào ngàn, giọng nguồn hét núi, tiếng thét khúc trường ca dữ dội. Bên trên đã nói đến những điệp từ tạo ra sự nuối tiếc quá khứ oanh liệt (Nào đâu, đâu những…) Cũng có thể thấy câu thơ Thế Lữ miêu tả dáng hiên ngang, hùng dũng, mềm mại của chúa sơn lâm:

Mấy câu thơ trên có sự nhịp nhàng, cân đối, gợi hình ảnh con hổ khoan thai, mềm mại, với bước chân chậm rãi thật tài tình.

Hay một đoạn khác tả cảnh tầm thường của con người bắt chước, học đòi thiên nhiên:

Câu thơ: ” Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng” được viết theo cách ngắt nhịp đều nhau, có cấu tạo chủ vị giống nhau – điều đó như mô phỏng sự đơn điệu, tầm thường của cảnh vật.

Được sáng tác trong hoàn cảnh đất nước còn đang bị kẻ thù đô hộ, giày xéo, bản thân tác giả cũng không tránh khỏi thân phận của một người dân nô lệ nhưng Nhớ rừng không rơi vào giọng điệu uỷ mị, yếu đuối. Ngược lại, nó đã thể hiện một sức sống mạnh mẽ, tiềm ẩn, chỉ có ở những con người, những dân tộc không bao giờ biết cúi đầu, luôn khao khát hướng đến tự do.

III. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG

Điều đặc biệt đáng chú ý trước hết trong bài thơ này là lời đề từ: “Lời con hổ ở vườn bách thú”. Lời đề từ này có tính định hướng cho việc thể hiện giọng đọc, nhằm thể hiện “lời” của con hổ – chúa tể sơn lâm từng oai linh gầm thét, nay bị nhốt trong “vườn bách thú” chật hẹp. Nghịch cảnh thật là trớ trêu.

Điều đáng chú ý thứ hai là: Thế Lữ đã mượn lời con hổ để thể hiện nỗi chán ghét thực tại tầm thường, tù túng và niềm khao khát tự do mãnh liệt. Phảng phất trong bài thơ có nỗi đau thầm kín của Thế Lữ và cũng là của những người thanh niên thuở ấy trước cảnh nước mất nhà tan.

Do đó, có thể:

  • Đọc bài thơ bằng giọng trầm, âm điệu tha thiết mạnh mẽ, thể hiện nỗi đau âm thầm, lòng kiêu hãnh và khát vọng tự do mãnh liệt của con hổ.
  • Đọc nhấn mạnh các từ ngữ:

【#7】Soạn Bài Khóc Dương Khuê Ngắn Nhất

Thông qua hướng dẫn soạn bài Khóc Dương Khuê của Nguyễn Khuyến thuộc chuyên mục Soạn văn 11 của Đọc tài liệu, các em sẽ cảm nhận rõ hơn tình bạn cao quý của tác giả qua nỗi đau đớn, tiếc thương trước sự ra đi của người bạn tri kỉ là Dương Khuê.

Bài soạn không những tóm tắt ngắn gọn nhất những thông tin cơ bản về tác giả, tác phẩm mà còn đưa ra những gợi ý chi tiết cho các câu hỏi đọc hiểu phần soạn bài Khóc Dương Khuê. Dựa vào đó, các em sẽ có cơ sở để làm rõ, phân tích nội dung nghệ thuật của bài thơ.

Cùng tham khảo…

Hướng dẫn soạn bài Khóc Dương Khuê chi tiết

Gợi ý trả lời câu hỏi đọc hiểu soạn bài Khóc Dương Khuê trang 32 SGK Ngữ văn 11 tập 1 với nhiều cách khác nhau từ soạn bài ngắn gọn nhất tới bài soạn đầy đủ, chi tiết nhất cho các em tham khảo.

Soạn bài Khóc Dương Khuê ngắn gọn nhất

Câu 1 trang 32 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Theo anh (chị), bài thơ này có thể chia thành mấy đoạn? Nội dung của mỗi đoạn là gì?

Trả lời:

Bài thơ có thể chia thành ba đoạn:

– Đoạn 1 (hai câu đầu): Nỗi đau đột ngột khi mất bạn.

– Đoạn 2 (từ câu 3 đến câu 22): Nhớ lại những kỷ niệm giữa hai người và thể hiện tâm trạng thời cuộc của nhà thơ.

– Đoạn 3 (phần còn lại): Nỗi đau mất bạn và tâm sự cô đơn vì thiếu tri kỷ.

Câu 2 trang 32 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Tình bạn thắm thiết, thủy chung giữa hai người được thể hiện như thế nào trong bài Khóc Dương Khuê?

Trả lời:

* Thể hiện ở những kỉ niệm có với nhau

– Cùng nhau thi đỗ làm quan.

– Cùng nhau dong chơi khắp chốn non nước.

– Cùng ngân nga hát ả đào.

– Cùng nhau trải qua những buổi hoạn nạn, vật đổi sao rời.

* Thể hiện ở nỗi đau khi mất bạn

– Chân tay rụng rời khi nghe tin bạn mất

– Rượu ngon không có bạn hiền

– Đàn kia gảy cũng không ai thấu hiểu

Câu 3 trang 32 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Đây là một bài thơ có nghệ thuật tu từ đặc sắc. Hãy phân tích những biện pháp nghệ thuật tu từ thể hiện nỗi trống vắng của nhà thơ khi bạn qua đời.

Trả lời:

– Nghệ thuật nói giảm nói tránh “Bác Dương thôi đã thôi rồi”

– Nghệ thuật sử dụng các câu hỏi tu từ trong đoạn cuối bài thơ. Hàng loạt các câu thơ như: Làm sao bác vội về ngay; Vội vàng sao đã mải lên tiên, … Để rồi lắng đọng trong những câu thơ hụt hẫng, chơi vơi

– Điệp từ không dùng rất hợp hoàn cảnh và đặc sắc. Chỉ một cặp lục bát mà chồng xếp 5 chữ không diễn tả thật đúng cái trống vắng khi mất bạn. Để rồi kết đọng trong tiếng khóc đáng thương của người bạn già tri kỉ. Câu thơ cuối buông nhẹ mà khơi gợi, xót đau, hờn tủi.

Bài 1 trang 32 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Theo anh (chị), bài thơ này có thể chia thành mấy đoạn? Nội dung của mỗi đoạn là gì?

Trả lời:

Bài thơ Khóc Dương Khuê có thể chia thành ba đoạn với nội dung từng đoạn như sau:

– Đoạn 1 (hai câu thơ đầu): Nỗi đau đột ngột khi mất bạn.

– Đoạn 2 (từ câu 3 đến câu 22): Những kỉ niệm tươi rói về tình bạn sống lại trong hồi tưởng của nhà thơ.

– Đoạn 3 (phần còn lại): Nỗi đau tắc nghẹn, hẫng hụt, chơi vơi khi đối diện với hiện thực phũ phàng (mất người tri âm, tri kỉ).

– 2 câu đầu: Tin đến đột ngột

– 12 câu tiếp theo: Sự hồi tưởng về những kỉ niệm thời xuân xanh, chưa thành đạt.

– 8 câu tiếp: Ấn tượng mới trong lần gặp cuối cùng, lúc cả hai đã mãn chiều xế bóng

– 16 câu còn lại: Nỗi đau khôn tả lúc bạn dứt áo ra đi.

Bài 2 trang 32 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Tình bạn thắm thiết, thủy chung giữa hai người được thể hiện như thế nào?

Trả lời: Bác Dương thôi dã thôi rồi, Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta.

– Câu thơ đọc lên nghe nhói đau, quặn thắt bởi cái sự không lành kia đến đột ngột quá. Câu lục ngắt nhịp 2/1/3 thể hiện đúng cái trường độ đứt đoạn của những tiếng nấc tắc nghẹn trong nỗi đau đến quá đỗi bất ngờ. Trong khi đó nhịp thơ dàn trải và đều đặn ở câu bát làm nỗi đau lan toả ra khắp không gian, trời đất. Một tượng đài đáng kính, đáng trọng trong lòng nhà thơ vừa mất đi một cách quá bàng hoàng khiến người trong cuộc choáng váng, tiếc nuối mà biết rằng không thể cưỡng lại được.

– Đau gắn với nhớ, càng nhớ càng đau. Hiện tại phũ phàng khơi gợi về những ngày tươi đẹp trong quá khứ đê rồi khi những ki niệm kia vụt tan thì hiện thực lại càng gợi sự đớn đau quặn thắt hơn. Câu thơ lặng lẽ trôi về quá khứ, dựng dậy cả một thời “quá khứ hoàng kim” của tình bạn, với mấy chục năm trời gắn bó:

+ Từ buổi đầu gặp gỡ (“thủa đăng khoa ngày trước”) đến tận khi tóc bạc da mồi (“Bác già tôi cũng già rồi”);

+ Có lúc thật phong lưu tài tử (“Thú vui con hát lựa chiều cầm xoang”) lại có khi chia sẻ cay đắng gian nan (“Buổi dương cửu cùng nhau hoạn nạn”),…

Trả lời:

Bài thơ rất thành công trong nghệ thuật tu từ, nhất là nghệ thuật sử dụng các câu hỏi tu từ trong đoạn cuối của bài thơ. Phân tích bài thơ Khóc Dương Khuê có thể thấy hàng loạt các câu thơ như: Làm sao bác vội về ngay; Vội vàng sao đã mải lên tiên,... để rồi lắng đọng trong những câu thơ hụt hẫng, chơi vơi:

Rượu ngon không có bạn hiền, Không mua không phải không tiền không mua.

Hư từ không dùng trong trường hợp này thật hợp và cũng thật sắc. Không mua rượu không phải vì không tiền, mà vì mất bạn. Không có tri kỉ thì độc ẩm chỉ tăng thêm nỗi xót xa. Chữ không tạo thành nghịch lí: Có tiền mà không mua. Chuyện uống rượu đối với nhà thơ đã thành “nghĩa tửu” bởi thế mà nó không chỉ còn là câu chuyện vật chất tầm thường nữa. Chỉ một cặp lục bát mà chồng xếp 5 chữ không diễn tả thật đúng cái trống vắng khủng khiếp khi mất bạn: Câu thơ không viết, câu thơ không biết đưa ai, chiếc giường treo không bạn, tiếng đàn ngơ ngẩn không tri âm. Ý thơ trống vắng, chơi vơi để rồi kết đọng trong tiếng khóc đáng thương của người bạn già tri kỉ:

Tuổi già hạt lệ như sương, Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan!

Ngoài những nghệ thuật tu từ đặc sắc trên, bài thơ cũng sử dụng nhiều biện pháp tu từ khác như: nói giảm (“Bác Dương thôi đã thôi rồi”), nhân hóa (“nước mây man mác”), cách nói so sánh (“tuổi già giọt lệ như sương”), sử dụng lối liệt kê (có lúc, có khi, cũng có khi,…) nhằm tái hiện những kỉ niệm về tình bạn thân thiết và tấm lòng của nhà thơ với bạn.

Tác giả, tác phẩm

Tác phẩm này cũng là một tác phẩm của Nguyễn Khuyến, vì vậy về phần giới thiệu tác giả, các em học sinh có thẻ tham khảo lại các thông tin cơ bản của tác giả qua phần soạn bài Câu cá mùa thu.

II. Tác phẩm Khóc Dương Khuê

– Bài “Khóc Dương Khuê” lúc đầu viết bằng chữ Hán ( Văn đồng niên Vân Đình tiến sĩ Dương Thượng thư), sau đó được chính Nguyễn Khuyến dịch ra chữ Nôm và bản chữ Nôm lại có phần phổ biến hơn bản chữ Hán.

Dương Khuê (1839 – 1902) người làng Vân Đình, tông Phương Đình, tỉnh Hà Đông (nay là huyện Ứng Hoà, thuộc Hà Nội), đỗ tiến sĩ năm 1868, làm quan đến chức Tổng đốc Nam Định, Ninh Bình. Ông là bạn thân của Nguyễn Khuyến.

Bài thơ

KHÓC DƯƠNG KHUÊ

Bác Dương thôi đã thôi rồi,

Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta.

Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước,

Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau;

Kính yêu từ trước đến sau,

Trong khi gặp gỡ khác đâu duyên trời?

Cũng có lúc chơi nơi dặm khách,

Tiếng suối nghe róc rách lưng đèo;

Có khi tầng gác cheo leo,

Thú vui con hát lựa chiều cầm xoang;

Cũng có lúc rượu ngon cùng nhắp,

Chén quỳnh tương ăm ắp bầu xuân.

Có khi bàn soạn câu văn,

Biết bao đông bích, điển phần trước sau.

Buổi dương cửu cùng nhau hoạn nạn,

Phận đấu thăng chẳng dám tham trời;

Bác già, tôi cũng già rồi,

Biết thôi, thôi thế thì thôi mới là!

Muốn đi lại tuổi già thêm nhác,

Trước ba năm gặp bác một lần;

Cầm tay hỏi hết xa gần,

Mừng rằng bác vẫn tinh thần chưa can,

Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác,

Tôi lại đau trước bác mấy ngày;

Làm sao bác vội về ngay,

Chợt nghe, tôi bỗng chân tay rụng rời.

Ai chẳng biết chán đời là phải,

Vội vàng sao đã mải lên tiên;

Rượu ngon không có bạn hiền,

Không mua không phải không tiền không mua.

Câu thơ nghĩ đắn đo không viết,

Viết đưa ai, ai biết mà đưa;

Giường kia treo những hững hờ,

Đàn kia gẩy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn.

Bác chẳng ở dẫu van chẳng ở,

Tôi tuy thương, lấy nhớ làm thương;

Tuổi già hạt lệ như sương,

Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan!

Nội dung chính: Khóc Dương Khuê nói lên nỗi lòng đau xót khôn nguôi của tác giả trước việc người bạn tri kỉ đã qua đời.

Bố cục: Bố cục bài Khóc Dương Khuê có thể chia làm 3 đoạn:

+ Đoạn 1: hai câu đầu – Giới thiệu về sự ra đi đột ngột của Dương Khuê

+ Đoạn 2: từ câu 3 đến 22 – Nhớ lại những kỷ niệm giữa hai người và thể hiện tâm trạng thời cuộc của nhà thơ.

+ Đoạn 3: các câu còn lại – Nỗi đau mất bạn và tâm sự cô đơn vì thiếu tri kỷ.

// Các em vừa tham khảo nội dung chi tiết bài soạn văn Khóc Dương Khuê do Đọc Tài Liệu biên soạn. Mong rằng nội dung của bài hướng dẫn soạn văn 11 bài Khóc Dương Khuê này sẽ giúp các em ôn tập và nắm vững các kiến thức quan trọng của tác phẩm. Chúc các em luôn đạt được những kết quả cao trong học tập.

[ĐỪNG SAO CHÉP] – Bài viết này chúng tôi chia sẻ với mong muốn giúp các bạn tham khảo, góp phần giúp cho bạn có thể để tự soạn bài Khóc Dương Khuê một cách tốt nhất.

【#8】Hướng Dẫn Soạn Bài Văn Tức Nước Vỡ Bờ Ngắn Gọn Lớp 8

Chào các bạn học sinh lớp 8, hôm nay chúng ta cùng chúng tôi đến với bài văn hướng dẫn soạn bài Tức Nước Vỡ Bờ, tham khảo bài viết sau:

(Trích tiểu thuyết Tắt đèn – Ngô Tất Tố)

TÁC GIẢ – TÁC PHẨM

Nhà văn Ngô Tất Tố (1893-1954) quê ở làng Lộc Hà (nay thuộc huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội).

– Trước 1945, Ngô Tất Tố làm nhiều nghề: dạy học, bốc thuốc, làm báo, viết văn. Ông từng cộng tác với nhiều tờ báo: An Nam tạp chí, Đông Pháp thời báo, Thần chung, Phổ thông, Đông Phương, Công dân, Hải Phòng tuần báo, Hà Nội tân văn, Thực nghiệp, Tương lai, Thời vụ, Con ong, Việt nữ, Tiểu thuyết thứ ba,…

– Trong Cách mạng Tháng Tám, ông tham gia Uỷ ban Giải phóng xã (Lộc Hà). Năm 1946: gia nhập Hội Văn hoá Cứu quốc và lên chiến khu Việt Bắc tham gia kháng chiến chống Pháp, Nhà văn từng là Chi hội trưởng Chi hội Văn nghệ Việt Bắc, hoạt động ở Sở Thông tin khu XII, tham gia viết các báo: Cứu quốc khu VII, Thông tin khu VII, Tạp chí Văn nghệ và báo Cứu quốc Trung ương… và viết văn. Ông đã là Uỷ viên Ban chấp hành Hội văn nghệ Việt Nam (trong Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ I – 1948).

– Tác phẩm đã xuất bản: Ngô Việt xuân thu (dịch, 1929); Hoàng Hoa Cương (dịch, 1929); Vua Hàm Nghi với việc kinh thành thất thủ (truyện kí lịch sử, 1935); Đề Thám (truyện kí lịch sử, viết chung, 1935); Tắt đèn (tiểu thuyết, báo Việt Nữ, 1939; Mai Lĩnh xuất bản, 1940); Lều chõng (phóng sự tiểu thuyết, 1940; đăng báo Thời vụ, 1941; Mai Lĩnh xuất bản, 1952); Thơ và tình (dịch thơ Trung Quốc, 1940); Đường Thi (sưu tầm, chọn và dịch, 1940); Việc làng (phóng sự, báo Hà Nội tân văn, 1940; Mai Lĩnh xuất bản, 1941); Thi văn bình chú (tuyển chọn, giới thiệu, 1941); Văn học đời Lí(tập I) và Văn học đời Trần (tập II, trong bộ Việt Nam văn học – nghiên cứu, giới thiệu, 1942); Lão Tử(soạn chung, 1942); Mặc Tử (biên soạn, 1942); Hoàng Lê nhất thống chí (dịch, tiểu thuyết lịch sử, 1942; báo Đông Pháp, 1956); Kinh dịch (chú giải, 1953); Suối thép (dịch, tiểu thuyết, 1946); Trước lửa chiến đấu (dịch, truyện vừa, 1946); Trời hửng (dịch, truyện ngắn, 1946); Duyên máu (dịch, truyện ngắn, 1946); Doãn Thanh Xuân (dịch, truyện ngắn, 1946, 1954); Nữ chiến sĩ Bùi Thị Phác (chèo, 1951).

Tác phẩm của Ngô Tất Tố sau này được tập hợp trong tuyển tập: Ngô Tất Tố và tác phẩm, gồm 2 tập, do Nhà Xuất bản Văn học ấn hành, 1971 – 1976.

– Nhà văn đã được nhận hai giải thưởng trong giải thưởng văn nghệ 1949 -1952 của Hội Văn nghệ Việt Nam: Giải ba dịch (Trời hửng, Trước lửa chiến đấu) và giải khuyến khích (vở chèo Nữ chiến sĩ Bùi Thị Phác); Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (năm 1996).

Tóm tắt:

Gia đình chị Dậu đã dứt ruột bán con mà chưa đủ tiền nộp sưu. Anh Dậu đang ốm cũng bị bọn tay sai lôi ra đình, đánh cho dở sống dở chết. Được bà hàng xóm cho bát gạo, chị Dậu vừa nấu xong nồi cháo thì cai lệ và người nhà lí trưởng ập đến. Mặc dầu chị Dậu hết lời van xin, cai lệ vẫn toan hành hạ anh Dậu. Chị Dậu xông vào đỡ tay, bị cai lệ đánh, và chị đã túm cổ đẩy tên này ngã chổng quèo. Người nhà lí trưởng sấn sổ giơ gậy định đánh thì bị chị Dậu túm tóc lẳng cho một cái ngã nhào ra thềm.

TRẢ LỜI CÂU HỎI

1- Tên cai lệ:

* Cai lệ là một viên cai chỉ huy một tốp lính ở nông thôn thời trước CM, thường được bọn quan lại cho phép sử dụng bạo lực để dàn áp người dân theo lệnh của chính quyền.

* Thuế sưu là thứ thuế mà người đàn ông là dân thường tuổi từ 18-60 hằng năm phải nộp cho nhà nước phong kiến thực dân.

* – Gõ đầu roi xuống đất, cai lệ thét bằng giọng khàn khàn …: Thằng kia…

– Trợn ngược hai mắt hắn quát: Mày định nói…

– Giọng vẫn hầm hè: Nếu không có tiền nộp sưu cho ông bây giờ …

– Tha này! Tha này! Vừa nói hắn vừa bịch …

* Tàn bạo, không chút tính người là bản chất, tính cách của hắn. Tên cai lệ mang tính cách dã thú đó là một trong những hiện thân sinh động của trật tự thực dân phong kiến đương thời.

    Phân tích tình thế của chị Dậu khi bọn tay sai xông đến.

* Anh Dậu ốm nặng,bị đánh, trói, cùm kẹp. Chị Dậu phải bán con, ổ chó tưởng đủ nộp sưu cho chồng. Nào ngờ lại còn cả suất sưu người chết. Anh rũ người như một xác chết, bọn hào lí sai khiêng trả anh về nhà. Anh vừa được cứu tỉnh, cai lệ và người nhà lí trưởng xông vào – chị Dậu đứng trước tình thế mạng sống của chồng rất mong manh.

* Chị Dậu

– “van xin tha thiết”

-“liều mạng cự lại” cư lại” bằng lí lẽ – quyết ra tay đấu lực với chúng.

– (tìm các từ ngữ thể hiện ngôn ngữ của chị Dậu )

– Với cai lệ “lẻo khoẻo”, chị: “túm lấy cổ hắn, ấn dúi ra cửa”, hắn đã “ngã chỏng quèo trên mặt đất”! Đến tên người nhà lí trưởng, “hai người giằng co nhau, du đẩy nhau, rồi ai nấy đều buông gậy ra, áp vào vật nhau”, kết cục anh chàng “hầu cận ông lí” yếu hơn chị chàng con mọn, hắn bị chị túm tóc lẳng cho một cái, ngã nhào ra thềm “!

– Sức mạnh ghê gớm và tư thế ngang tàng của chị Dậu, đối lập với hình ảnh, bộ dạng thảm hại hết sức hài hước của hai tên tay sai

Đoạn văn đặc biệt sống động và toát lên một không khí hào hứng rất thú vị “làm cho đọc giả hả hê một chút sau khi đọc những trang rất buồn thảm”

Do đâu chị Dậu có được sức mạnh như thế?

– Sức mạnh của lòng căm hờn – đó cũng là sức mạnh của lòng yêu thương.

– Chị Dậu mộc mạc, hiền dịu, đầy vị tha, sống khiêm nhường, biết nhẫn nhục chịu đựng, nhưng vẫn có một sức sống mạnh mẽ, một tinh thần phản kháng tiềm tàng; một thái độ bất khuất.

Kết thúc cảnh này, anh Dậu nói: “U nó không được thế! Người ta đánh mình không sao, mình đánh người ta thì mình phải tù, phải tội” còn chị Dậu lại nói: ” Thà ngồi tù để chúng nó làm tình làm tội mãi thế, tôi không chịu được…” Vì sao có ý kiến khác nhau như thế?

– Anh Dậu tuy nói đúng cái lí, cái sự thật, nhưng chị Dậu không chấp nhận cái lí vô lí đó: Câu trả lời của chị cho thấy chị không còn chịu cứ phải sống cúi đầu, mặc cho kẻ ác chà đạp. Ở chị có một tình thần phản kháng tiềm tàng mà mãnh liệt.

    Về nhan đề của đoạn trích: Tức nước vỡ bờ

– Nhà văn đã cảm nhận được xu thế “tức nước vỡ bờ” và sức mạnh to lớn khôn lường của sự “vỡ bờ” đó. Và không phải quá lời nếu nói rằng cảnh “Tức nước vỡ bờ” trong đoạn trích đã dự báo cơn bão táp quần chúng nông dân nổi dậy sau này. Nhà văn Nguyễn Tuân đã nói rằng Ngô Tất Tố, với Tắt đèn đã “xui người nông dân nổi loạn” quả không sai.

* Đoạn văn tuyệt khéo:

– Sự dồn nén, ” tức nước” để đến “vỡ bờ” được Ngô Tất Tố diễn tả rất tự nhiên, hợp lí.

– Nghệ thuật diễn tả câu chuyện, hành động cũng thật tài tình, sinh động. Chú ý cách diễn tả theo lối tăng tiến động tác, lời nói của nhân vật cai lệ và chị Dậu. Đoạn văn này sống động như một màn kịch ngắn.

Nhân vật được khắc hoạ rất chân thực, sinh động, rõ nét, thể hiện sự diễn biến tâm lí của nhân vật chi Dậu rất hợp lí.

– Tác phẩm đã nêu lên một hiện thực xã hội lúc bấy giờ, những hiện thực về những tên quan lại thối nát.

– Con người đã biết đứng lên đấu tranh để đòi lại công lý.

Theo: Hoc24

【#9】Mô Phôi Phần Mô Học Byt

Published on

  1. 1. SÁCH Đ À O TẠO BÁC s ĩ Đ A KHO A ■ ■ É w m Chủ biên: chúng tôi TRỊNH BÌNH NHÀ XUẤT BẢN Y HỌC
  2. 2. BỘ Y TẾ Mô – PHỐI PHẨN MÔ HỌC■ SÁCH ĐÁO TẠO BÁC sĩ ĐA KHOA Mã số: Đ.01ỆY.03 Chủ biên: chúng tôi TRỊNH BÌNH TRƯƠNG CAO ĐANG Y ìt PHU THỌ T h ữ v i ệ .v sô:ệệ.& t -í NHÀ XUẤT BÂN Y HỌC HÀ NỘI – 2007
  3. 3. CHỈ ĐẠO B1ÉN SOẠN: Vụ khoa hoc và Đáo tạo, Bộ Y tê CHỦ BIÊN: chúng tôi Trịnh Bình NHỮNG NGƯỜI BIÊN SOẠN: chúng tôi Trinh Bình chúng tôi Nguyễn Thị Binh chúng tôi Nguyễn Ngoe Hùng TS. Nguyễn Khang Sơn TS. Ngỏ Duy Thìn BS. Lưu Đình Mùi T H Ư K Ý B ÍỀ N SOẠN: BS. Lưu Đình Mùi THAM GIA T Ổ C H Ư C BẢN TH ẢO : ThS. Phí Văn Tham BS. Nguyẻn Ngoe Thinh © Ban quyến thuoc Bỏ Y tế (Vu Khoa học va Đao tạo)
  4. 4. LỜI GIỚI THIỆU Thực hiện một sô”điểu của Luận Giáo dục, Bộ Giáo đục & Đào tạo và Bộ Y té đã ban hành chương trình khung đào tạo Bác sĩ đa khoa. Bo Y tè tô chức bièn soạn tài liệu đạy – hoc các mòn cơ sở, chuyén mỏn và cơ bản chuyèn ngành theo chương trình trên nhám từng bưốc xây dưng bộ sách chuấn vè chuyên môn đẻ đảm bảo chất lượng đào tạo nhân lực y tế. Sách “Mô – Phôi (Phẩn Mo học”) được bièn soạn dựa trén chương trình giáo dục đại học của Trường Đại học Y Hà Nội trèn cơ sỏ chương trình khung đa dược phê duyệt. Sách đươc các nhà giáo giàu kinh nghiệm và tàm huyết với còng tác đào tao biên soan theo phương chám: Kiên thức cơ bản, hệ thong; nội dung chính xác, khoa học; cap nhặt các tiến bộ khoa học, kỷ thuat hiện đại và thực tiễn Việt Nam. Sách “Mo – Phôi (Phẩn Mô học”) đã được Hòi đồng chuyèn môn Thẩm định sách và Tài liệu day – hoc chuyén nganh Bác sĩ đa khoa của Bộ Y tè tham đinh vào nãm 2006. Bộ Y tê ban hành làm tài liệu đạy – học đạt chuàn chuyén món của ngành Y tè trong giai đoan 2006 – 2010. Trong quá trình sử dụng, sách phải được chỉnh lý, bô sung và cap nhat. Bộ Y tẻ xin chân thành cảm ơn các giảng viên Bộ môn Mô-Phỏi Trường Đại học Y Hà Nội đã dành nhiêu công sức hoàn thành cuòn sách này, kịp thơi phục vụ cho công tác đao tạo nhản lực y tế. Vì lan đáu xuàt bản, chúng tôi mong nhận được ý kièn đóng góp của đồng nghiệp, các bạn sinh viên và các độc giả đẻ lẩn xuất bản sau được hoàn thiện hơn. VỤ KHOA HỌC VÀ ĐÀO TẠO B ộ Y T Ể 3
  5. 7. PHẦN HAI: MÓ HOC HỆ c ơ QUAN 97 Chương 5: Hệ tuẩn hoàn BS. Lưu Đinh Mũi 97 – Hệ tuần hoàn mảu 97 – Hệ tuần hoàn bạch huyết 106 Chương 6: Hệ bạch huyét – m iển dịch chúng tôi Trinh Bình 108 – Những tẻ bào thuộc hệ bạch huyèt 109 – Tủy xương 115 – Tuyến ức 118 – Nang bạch huyẻt – Trung tâm sinh san của mỏ bạch huyết 122 – Bạch hach (Hạch bạch huyẻt) 124 – Lách 128 – Vòng bạch huyêt quanh họng (Những hạnh nhân) 133 Chương 7: Da và các bộ phận phụ thuộc da BS. Lưu Đinh Mui 137 -D a 137 – Cac bộ phận phụ thuộc da 141 – Phản bỏ’ mach và than kinh 146 Chương 8: Hệ hô hảp chúng tôi Nguyễn Ngoe Hung 147 – Đưòng dẫn khí tới phói 147 – Phổi 151 Chương 9: Hệ tiêu hoa chúng tôi Nguyễn Thị Binh 159 – Khoang miệng 159 -Họng 165 – Ong tiẻu hóa chính thức 105 – Những tuyên tiêu hóa ị 77 Chương 10. He tiết niệu BS. Lưu Đình Mui 190 -T h ậ n 190 – Những đường bài xuát nước tiêu ^gg Chương 11: Hệ nội tiết BS. Lưu Đình Mui 200 – Đai cương vé hệ nội tiết OQQ 8
  6. 8. – Tuyén yén 201 – Tuyên thượng thận 205 – Tuyến giáp 207 – Tuyên cận giáp 210 Chương 12: Hệ sinh dục nam BS. Lưu Đình Mui 212 – Tinh hoàn 212 – Những đường dẩn tinh 219 – Những tuyèn phụ thuộc các dưòng dản tinh 220 – Dương vật 222 Chương 13: Hệ sinh dục nữ chúng tôi Nguyen Thị Bình 223 – Buồng trứng 224 -Vòi trứng 232 – Tử cung 232 – Âm đạo 238 – Cơ quan sinh đục ngoài 238 – Tuyến vú 238 Chương 14: Hệ th á n k in h TS. Ngỏ Duy Thìn 242 – Đại cương 242 – Hệ thần kinh trung ương 242 – Hệ thần kinh ngoại vi 251 – Hệ thần kinh thưc vật 255 Chương 15: Thị giác q u an TS. Nguyễn Khang Sơn 257 – Đại cương 257 – Cấu tao các màng của nhàn cầu 258 – Những mói trường chiêt quang của nhản cầu 266 – Những bộ phận phụ thuộc nhàn cầu 267 9
  7. 9. Chương 16: T hính giác quan TS. Nguyến Khang Sơn 270 -T a i ngoai 270 – Tai giừa 271 – Tai trong (Mé đạo) 272 Phụ lục 1: Tẻ bao chúng tôi Trinh Binh 282 Phụ luc 2: Máu, sự tạo máu, bạch huyết chúng tôi Nguyên Thị Binh 292 – Thành phan cua máu 292 – Tạo máu trong thời ky phòi thai 295 – Sự tao máu từ khi tre ra đời 296 – Dáy hỏng cáu và bạch cau có hạt 297 – Bạch huyét và dưỡng chấp 298 Tài liệu th am khảo 299 10
  8. 13. phu hơp. Chieu day mieng mỏ khóng nẻn qua õmm. Sau đo phai đưa ngay vào dung dịch thuoc có đinh. Cac bưóc thao tac lam tiẻu ban tuan tư như sau: cô đinh, khứ nước, lam trong miẻng mô, vui nên, cat lat mong, dán lat cát lèn phien kính, ngàm nước, nhuóm m au, khử nước và dan ỉa kinh. Bàng 1. Mỏt sỏ phương phap nhuóm mau thương qui trong mỏ hoc Phương phap Thành phấn dung dich nhuộm Nhán tẻ bào Báo tương Sợi collagen Sơi Sợi chun vòng H.E Hematoxylin & eosin xanh dương đỏ đỏ Azan Azocarmin orange G, xanh anilin đó đỏ nhat xanh dương vang xanh da dương cam Theo van Gieson Hematoxylin sắt, a.picric, fuchsin acid nau đen vang nảu đỏ vang nâu Ba mau theo Masson – Goldner Hematoxylin sát, azophloxin đen đò xanh la cây xanh la cay Nhuỏm mò chun theo VVeiqert Resorsin-fuchsin, Hematoxylin a picric theo Ponceau, a acetic xam vang đỏ đen Ngàm muỏi bac cho sơi võng Dung dịch nitrat bac nau sảm đen Vì tẻ bao va các thanh phản khac trong mieng mỏ khong có mau sác. nen cac lat cát cán phai đươc nhuom mau đe lảm tảng đò tương phan giữa cac cáu trúc, giup nhặn bièt chung duơi kính hien VI quang hoc. Có 2 phương phap nhuỏm mau: (1) Phương phap nhuộm thường qui sử dung cac phẩm nhuom đẻ nhuộm các thanh phán tẻ bao. mỏ băng cac mau khac nhau tương tu như phuơng phap dung trong cõng nghe nhuom vai; (2) Phương phap nhuỏm đăc biệt, đó la kỹ thuat hoa-mỏ đung đẻ phat hièn cac thanh phan hoa hoc hoãc enzvm trong tẻ bào và mò. 4.2. Kính hiên vi diện tư tru y ề n qua (TEM) cho ph ep n h ặ n biết cac cấu trú c chi tiẻt dưới tê bao Dùng chùm đien tử thay cho anh sang cho phep nhản biet đươc cac cau truc nho kích thước khoang lnm trong cac mièng mo đươc chuan bi tốt dươi kinh hiên VI điện tu. Viec chuản bị miéng mó cho kính hien VI đien tư truyền qua can dung thuoc cỏ đinh đậc biẻt ngam vào cac lat cát mo (dưới 2mm) Thuòc cò đirT thương dung la glutaraldehyde. Osmium tetroxyde la thuốc vừa có đinh ” ua lam tang đò tương phan giủa cac cấu truc khi chum điên tư xuyên qua 14
  9. 15. 4.3. Kính hiển vi điện tứ quét (SEM) cho phep nhan biet hình ảnh 3 chieu của eac cảu trúc dưới tê bảo SEM Nguốn sang Tu kích Mẩu Vat kmh Thi kinh Mắt Đo phan giai 200nm . Nguón dién tử sung đièn tử 0 .1nm Cuón quet mach quet Tu kinh mo vát Vát Thâu kính trung gian Mảu tháu kinh chiếu Man quang dai ảnh Cuón lam lech Đó phong đai ~x200 x50 ‘ X 1.500.000 0.5nm x 10 – 1.000.000 Hình 1. Sơ đỗ so sanh cáu tao va hoạt đỏng cùa kinh hiển vi điên từ TEM, SEM với kính hiển vi quang hoc LM , ^** A. Hình vi thể; B, c. Hình siẽu vi thể; D. Sơ đõ cat Dưới k ín h hie n VI điện tử, ngang; 1. Mam khiaTz Mảng đây; 3! Vi nhung mao; 4. vòng dĩnh được mò tả như sau: o Dai bịt; 5. Vóng dính; 6. Thể liên kẻt. mật cát thang góc với bè mật tè bào: ngay sát dưới dải bịt khoảng gian bào rộng khoang 20nm, có mặt độ đièn tử thấp; tai đay, mật trong màng bào tương mỗi tẻ bào có mỏt dai lưới xơ mảnh gan vào. Ờ mãt cắt song song với bé mặt tẻ bào: mỗi dai lưới xơ này gán liên tục một vòng mặt trong màng bào tương cực ngọn mỗi tè bào. Vòng dính là cấu trúc liên két những lưới tận có trong bào tương cực ngọn những tẻ bào biẻu mo. Lưới tận (terminal web) là hệ thống lưới có trong bảo tương phàn ngon nhiều tê bào biếu mò. Lưới tận co 3 loai xơ: xơ actin, xơ myosin va xơ trung gian. Dải lưới xơ được mò tả ơ vòng dính, gom những xơ actin, đươc cho la phản ngoại vi của lưới tán. Những xơ actin năm theo true dọc cua các vi nhung mao củng co liên hè với các xơ của lưới tận. 2.6.4. Thẻ liên kết (Desmosomes) (Hìnhl-2; 1-3; 1-9) Khóng như dài bịt và vòng dính vảy quanh toàn bộ mãt bèn tẻ bào, thế liên kẻt gióng như những “môi hàn” liên kèt từng điẻm cua hai màng báo tương cạnh nhau. Chúng két nỏi cac xơ trương lực của tẻ bào này với các xơ trương lực của té bào bén cạnh (xơ trương lực là loại xơ trung gian có đương kính khoảng lOnm). Dưới kính hiển vi đien tử, đặc điem nổi bật cua the liên ket là su có mật cua một cap tâm bào tương tụ đậc hình đĩa (đường kính khoang 0,ÕỊim) ờ sat ngay màng bào tương mỗi tẻ bào, đỏi xứng nhau qua khoang gian bào rộng 30nm có mật độ đién tử thàp. Giữa khoang gian bào là mỏt vèt đạm mật đó đièn tử (tại đav, được xác định là có những protein xuyên màng). Xhững xơ 5 25
  10. 24. Hình 1.4. Lién kết khe . nhung mao đươc mỏ tả như do 4 xớ actin^ ma0 ^ 3 Mang bao tương; 26
  11. 27. tạp, chia thành nhiểu nhánh. Ở những té bào tái hấp thu ion Na manh (thí du te bao ông xa ở than), những mê đao đáy khả phát triển. Xen vao giữa những mê đạo đáy, các ngân bào tương có chiểu rong khoảng 50-180nm và chứa nhiểu ti the. Nhò có những me đạo đay, toàn bộ diên tích của màng bào tương ở mật đáy tâng lẻn rất nhieu. Vì thẻ, quá trình trao đổi chát ở đáy thuận lợi và tăng lên. Sự có mật nhiểu ti thể trong ngân bào tương và sư tiẽp xúc mật thiêt của ti the với với mê đạo đáy tao điểu kiện cung cấp nâng lương cho sự vận chuyến các chái qua màng ớ phần đáv tẻ bào. 2.7.2.2. Thè ban liên kết (Hình 1-9) Trong CƯC đáy của tè bào biếu mô hướng vé phía màng đáy có những cấu trúc giỏng như mòt nửa the liên kết. Cấu truc này được goi là thé ban liên kết, có tác dụng làm cho các tê bào biếu mô liên kèt chật chẽ với mô liên ket phía dưối (hay chung quanh) qua các xơ trung gian trong tê bào. Hình 1.9. Sơ đo siẻu cẩu trúc thể liên kết (A); thể bán liên kẽt (B) (Mãt căt thảng goc với mãt đay bieu mó) a. Biểu mò lát đơn; b. Biểu mỏ vuỏng đơn; c. Biểu mò tru đơn; d Biểu mỏ tru già tảng co lỏna chuyến; e. Biêu mộ tru táng; g. Bieu mỏ lat táng khong sừng hoa h. Biểu mỏ lát tang sừna hoa; i-k. Biểu mó chuyển tiêp. y a 30
  12. 29. Mặt của biếu mo lát đơn bao giờ củng hơi ưốt, nhản, bóng, cho phép câc tạng chuyên động dễ dàng, không bị cọ xát mạnh vào nhau và vào thành cơ thể. Vì thế biểu mô lát đơn còn được gọi là biểu mô trượt. 3.1.1.2. Biếu mo ưuóng đơn (Hình l-10b) Quan sát lát cắt song song vói bể mặt bièu mô, các tê bào bièu mò thè hiện là những hình đa giác. Nêu quan sát theo mặt phẳng vuông góc vói bề mật biểu mỏ, biểu mỏ gồm một hàng tè bào hình khối vuòng, nhân hình tròn, nằm giữa té bào . Có thê gặp biểu mô vuông đơn ỏ mót sò” nơi: biêu mò lợp mat tự đo của buồng trứng, mật trong của bao nhân mắt, hoặc ở các ống bài xuất của một sô” tuyên ngoai tiét (ống Boll của tuyén nưốc bọt). Biểu mo sắc tỏ” của vòng mạc củng thuộc loại biếu mỏ vuông đơn. Biếu mò chẻ tiẻt của một sô nang tuyèn củng đươc xép vào loai biéu mò vuông đơn, dù rằng những tè bào tao thành những nang đó thường là hình tháp hơn là hình khỏi vuòng. 3.1.1.3. Biểu mô trụ đơn (Hình l-10c) Biếu mỏ trụ đơn gồm một hàng tê bào hình trụ. Chiểu cao của tè bào lón hơn chiếu ngang. Nhản tè bào có hình trứng, nằm phía cực đáy. Khi quan sát lát cắt song song vói bẻ mặt biểu mô, người ta thấy tè bao củng co hình đa diện giong như biêu mó vuòng đơn nhưng chu vi cua những tè bào trụ nhò hơn nhiéu. Biếu mô trụ đơn lơp mật trong của ông tièu hoá suỏt từ tảm vị đén đoan trẽn của trực tràng và gặp cả ở đường bài xuãt của môt sò tuyên. Biêu mó trụ đơn có thè đươc hình thành từ một loại te bào giỏng nhau (thí đụ: biểu mô của niêm mạc dạ dày, biéu mó ỏng cỏ tử cung). Nhưng củng có biếu mô trụ đơn được tạo nẻn bởi nhiếu loại té bào trụ khác nhau (thí du bieu mò ruột được tạo thành bòi 3 loai tẻ bào trụ: tẻ bào mam khía, tè bào hình đài, té bào ưa chrom ưa bac). Có the gập biẻu mò tru đơn có lỏng chuyển ỏ vòi trứng những phè quản; bieu mò trụ đơn có lỏng bàt động ở ông mào tinh, bièu mò òng nòi tuỷ. 3.1.2. Biếu mỏ tần g Biếu mò tâng là loai biêu mo đươc tao thành bời hai hoặc nhièu lớp tè bào chỏng lèn nhau. Dưa vào hình dáng tê bào nằm tren cùng đẻ phản loại, người ta co thẻ chia biếu mo táng làm 3 loại và 2 loai đặc biệt: 3.1.2.1. Biếu mô lat tầng Loại biếu mo này đươc tạo thành bới nhiếu lớp tè bao, nhưng những tè bào tren cung là nhửng tẻ bào dẹt. Loại biểu mỏ này được chia làm hai loai: – Biêu mò lat táng sừng hoá. Loại biêu mỏ này có đàc đièm là gỏm nhièu hàng te bào co hình dang thay đối từ đưới lẻn trên, những hàng trèn 31
  13. 30. cùng hình thành lớp keratin (lóp sừng). Biếu bì da thuộc loại biéu mò này. Từ trong ra ngoài biếu bì gom õ lớp: lớp đay hay lớp sinh san, lơp sợi, lớp hạt, lớp bong và lớp sưng ỊHình l-10h). Bièu bì da dườc coi là bieu mò bao vệ điển hình. Cùng như mọi bieu mô lat tầng, biểu bì da luỏn luon được đôi mới nhờ sự sinh sản cua lớp đáy. Hướng tiến triển cua cac tè bào biêu mô là từ trong ra ngoài, đẻ cuôi cung trơ thành những mảng sừng bong ra. – Biếu mỏ lát táng khòng sừng hoá. Đó là loai biểu mỏ lợp thành các khoang thiên nhiẻn trong cơ thế, nơi thường xuyên có sự co sát cớ thẻ gây tòn thương cho thành ống (khoang miệng, thưc quản, ảm đao.ẻ.) Bièu mỏ lát táng không sừng hoa cũng đươc tạo thanh bởi nhiêu lớp tẻ bào: lớp đay (lốp sinh san), lớp sơi (lớp Malpighi), lớp trèn mật gom những te bào dẹt còn nhan. Những tẻ bào này sẽ bong khoi bieu mô, rơi vào trong khoang. Biéu mô lát táng không sừng hoa không có lớp hạt và lớp sừng <Hình l-10g). 3.1.2.2. Bièu mô ưunng tẩng Biéu mô vuóng táng được tạo bởi hai hàng tê bao trò lên mà hang năm trên cung là những tẻ bào hình khối vuông. Thí đu: ớ biểu mô võng mạc the mi, hàng tẻ bào vuóng ớ lớp trong có kha nàng tiết ra thuv dịch, hàng tẻ bao vuỏng ớ lớp ngoai có chứa nhiếu hạt sac tỏ’ đen (xem chương 16). 3.1.2.3. Bieu mô tru tầng (Hình l-10e) Biéu mỏ trụ tầng gốm nhieu hang tè bào chống chàt lèn nhau và hang tê bào nàm trẽn củng có hình trụ. Trong cơ thế, ít có bièu mô thuỏc loại nay. Thí dụ: bieu mô màng tiep hợp mi mat, biếu mô cua đoạn niệu đạo tien liệt biéu mô cua một sò óng bài xuàt lớn cua mót sò tuyèn. 3.1.2.4. Biếu mô tru giả tang (Hình 1-lOd.) Ở biéu mô trụ gia tầng, cac tè bào chong chát len nhau, hàng te bào trẽn cung có hình trụ, nhưng cực đáy cua tất ca các tè bào đeu sát với mang đáy. Hình dang cua cac tè bào trong biẻu mô khac nhau: Mot so’ tè bao có mat đay rộng, hẹp dàn len phía tren và không len đen mãt biẻu mô. Mo: so kuác rat cao, keo dài suót chiểu dày cua biêu mô và mặt ngọn tẻ báo ròng hơn mát đáy Nhản cua cac tè bao thường năm ỏ phàn rong nhất cua tè bao do đó nhan các tẻ bao thương nằm chênh nhau thanh 2 – 3 hang. Vì vay biéu mô có dáng như loại biêu mô tảng nén no đươc mang tèn là gia táng. Thí dụ: Biéu mô lơp những ỏng bà: xuất lớn cua tuyên nước bot mang tai và một số tuyến khác, biêu mô lơp nieu đạo nam (trừ đoan nieu đạo tiển liẻt) Bieu mô tru gia tầng có lỏng chuyển lợp phàn lớn đưòng dẫn không khi cưa bỏ mav hỏ hap, vòi Eustache, mỏt phàn hòm nhì, túi lệ. 32
  14. 31. 3.1.2.5. Bleu mô chuyên tiep (Hình l-10i-k) Biẻu mô này được tao thành bởi nhiều hàng tê bào. Nghiên cứu thièt đổ cắt thẩng góc vói mat bieu mỏ, người ta thấy hình dáng tẻ bào thay dõi từ dưới lén trẽn tói mật tự do của biếu mỏ. Lốp té bào sát màng đáy có hình khỏi vuông hay hình tru gọi là lớp đay. Trẽn lớp đảy có nhièu hàng tẻ bào đa diện. Hang tẻ bào trên cung gồm những té bào đa điện lón. Biéu mỏ chuyén tiếp là loại biếu mô cua niem mac bàng quang, trong đó cac tế bào có khả nãng bièn đối hình dáng rõ ràng, tuý thuộc vào tình trang câng giãn của bàng quang. Khi bàng quang càng, tẻ bào các lớp trèn của biếu mỏ det lại. Người ta coi biếu mô chuyến tiép như hình thái trung gian giữa bièu mỏ trụ tang và biểu mỏ lát táng không sừng hoá. 3.2. Biếu mỏ tuyến #Ệ2Ệ2ỆĐinh nghĩa Biéu mò tuyén hay tuyén là loai mo đươc tạo thanh bới nhửng tẻ bào hay tap hợp những tè bảo có khả nãng chr tiết. 3.2.2. Những đác điếm của tè bao chẻ tiết Chè tiết là mot quá trĩnh trong đó các tẻ bào tuyèn hap thụ vật chất từ máu hoác dịch gian bào, bằng cơ chè sinh tông hợp nội bào bién chúng thành các sản phám có Cấu tạo phức tap. Những sàn pham này thường tích trong bào tương té bao dưói dạng những chat vùi chê tiết sau dó được đưa ra khói tẻ bào. Những chat vùi chè tiết vê bản chất hoá học, có thẻ là protid, lipiđ nguyen chàt, polysaccarid, glycoprotein, lipoprotein hoặc glycoprotein phức tap. Dưới kính hièn vi điện tử, hạt chè tiết có mặt độ điện tử vừa và thường có vo bọc là màng lipoprotein. Đặc điem hình thái sièu vi chung của một sô”loại tè bào có chức nâng chè tiết: – Những tẻ bao biếu mô có sản pham chẻ tiết là protein: + Lưới nội bào có hat rất phát triển. + Tính phản cực thé hiện rõ ràng: lưới nội bào có hat tập trung ờ cực đáy tẻ bao; bo Golgi tập trung ơ vùng tren nhan. + Bào tương cực ngọn tẻ bào tích đay hat chè tiẻt có ban chất protein, sản sang đưa ra bé mat té bao theo kiéu xuát bao. – Những tè bào biêu mỏ co sản phẩm chè tièt là steroid: + Luới nội không hat rất phat trien. + Giàu khong bào trong bao tương (những tui chứa lipid tien than cua cac hormon loai steroid). Không có hạt chẻ tiết. + Ti thè co mao hình ỏng. 33
  15. 32. – Những té báo biểu mô có chức nang vận chuyển ion: + Máng bao tương nhiêu nếp chúng tôi (tăng diện tích trao đôi lon). + Ti the tap trung sat màng bào tương (cung cap ATP). + Vong đính ho 1Cđài bit phát triển (ngan càn sự khuyẻch tán ngươc cua các ion đả chuyển qua tẻ bao). Co ba kiéu đưa những san pham chẻ tiết ra khòi te bào: – Chế tiết kiểu nguyên vẹn (merocrine): Chỉ cỏ sản pham chè tiết được đưa ra khoi tè bào. Tẻ bào tổn tại nguyên ven. Phan lớn các tuyên trong cơ thê có tè bao chẻ tiết hoạt động kiểu này. – Chè tiết kiêu toàn hủy (holocrine): Toan bỏ tê bao trở thánh sản phám chê tiết, đưdc đưa ra khòi tuyên. Tuyên bã ờ da hoạt đong theo kiẻu này. – Chè tiết kiéu ban huý (apocrine): Một lương nhò bào tương cực ngọn té bào củng san pham che tiẽt được đưa ra khòi tê bao. Tẻ bào chè tièt của tuyên sữa hoat đong theo kiêu này. 3.2.3. Phản loai tuyến 3.2.3.1. Căn cứ đẻ phán loại Theo sò lương tẻ bào tạo ra sản phấm, có: – Tuyèn đơn bào: Tuyên chỉ gổm mỏt tẻ bào chê tiết. Đo là trường họp tẻ bào hình đài tièt chát nhẩy ờ biéu mò niém mạc ruột và đường hô hap (Hình 1-11), tè bào nội tièt ớ ruột non. – Tuyen đa bào: Tuyẻn gồm nhiếu tẻ bào tham gia tạo chát chẻ tiẻt. Đại đa so cẩc tuvẻn trong cơ thẻ là loại tuyèn đa bào. Theo vị trí nhặn san phàm chẻ tiet đầu tién có: – Tuyén ngoại tiết: Là những tuyen mà san pham chê tiết được bài xuất ra mật ngoài cơ thẻ hoac được đưa vào cac khoang cơ the. Tuyên ngoại tiết co hai phan: phán chẻ tiẻt va phần bài xuất. – Tuyén nội tièt. Là những tuyên má san phẩm chê tiết được đưa thang váo mau. Tuyên nội tiết chỉ co phan chẻ tiết khòng có phần bài xuất, nèn cac té bao tuyên liên hẻ chat chẻ với mao mach mau. Hình 1-11. Tuyèn đơn bào (te bào hình đai tiết nhay ở bieu mò nièm mac ruòt) , 1. Tuyén ông đơn thảng; 2. Tuyén ông đơn cong (a. Phan bai xuât, b. Phán chẻ tiết); 3. Tuyén ỏng chia nhanh thảng; 4. Tuyèn tui nhiêu nang mở chung vao mót ống bai xuảt; 5. Tuyén ỏng- túi; 6. Tuyẻn óng chia nhanh cong; 7. Tuyén tui kiểu chúm nho. 3õ
  16. 34. mao mạch. Đa số tuyén nội tiết trong cơ thế thuộc loại tuyến kiểu lưới: thuý trước tuyên yên, tuyên thương thận, tuyến cận giáp trạng, tuyén tuỵ nội tiết (tiểu đao Langerhans), hoàng thể… – Tuyẻn kiểu tui: Các tẻ bào tuyến tạo thành những túi. Thành túi đươc lợp bời mot hàng té bao chè tiết, xen giữa các túi có những mach máu và bạch huyet. Trong lnng tủi thường chứa đay keo. Chỉ có tuyèn giap trạng là tuyèn nội tiét kiêu tui. – Tuyên tản mát: Cac tẻ bào tuyến hoặc rải rác hoặc hop thành đảm nhò nằm tản mát trong mỏ liên kẻt và tiẻp xúc mat thiẻt với các mao mach. Tuyến kẽ tinh hoàn la tuyén nội tièt kiéu tan mát. 4. BIẾN ĐÒI CỦA TE BAO BIÊU MỎ Trong một số hệ cơ quan, tè bào bieu mỏ đa bièn đoi thành các dạng: (1) tẻ bdO cơ – bieu mỏ (myoepithelial cells), (2) tẻ bào thần kinh-nội tiet (neuroendocrine cells) và (3) té bào nội tièt ò ruòt (enteroendocrine cells). – Tê bào cơ – bièu mô (trong bào tương có xơ actin và xơ myosin) có kha nang co rút. Te bào nay bao quanh các nang tuvèn của tuyến nước bọt… Khi chung co rút, thúc đây cac re bào che tiét đưa các sản phẩm vào lòng tuyèn. – Te bao thần kinh – nội tièt cỏn gọi là tẻ bào thần-kinh biểu mo la nhứng tê bào cảm giác. Những nơron hai cực cua nụ vị giac thuộc loại nàv. – Te bào nội tiết ò ruột có nguồn góc bieu mỏ, biệt hoá thành cac tuyên nội tiết đơn bào. Những loai te bào này tiết ra mỏt số peptid và hormon như serotonin, enteroglucagon. gastrin… San phàm ché tiết cua những tế bào này được giai phóng vào lớp đem chứ khóng vào lòng ruột. 5. S ự TÁI TAO BIẼƯ MÔ Bièu mò luỏn được đỏi mới nhờ gian phan tẻ bào. Tỉ lệ đối mối cua mỗi biéu mò khac nhau. ỏ biếu bì da, cac tè bào trên mát biẻu mo hoá sừng. Lớp tế bao hoá sừng này ớ mức độ nào đo đả bao vệ cho những té bào lớp sáu cua biếu mỏ. Chung được thay thé đán bàng sư phản chia cua các tẻ bao cua những lớp đáy bièu mô. Cang lên phía trẽn cac tè bào dần hoá sừng. Hỉnh 1.13. Sơ đổ tuyẽn nói tiết . 42
  17. 43. những cầu nối đồng hoa trị để tạo thành lưới phan tử. Khi SƠ1 giãn, từng phản tử trải dai ra và cả lưới phản tử cũng giãn ra như dai cao su giãn. Sơi chun cỏ tính đan hồi cao, khi kéo căng có thế dài ra từ một đến mót lan rưởi chiéu dài ban đáu của sợi* 1.3. Những tế bào liên kết o mo liên két chính thức có nhiều loại tê bào với đậc điểm hình thai và chức náng khác nhau. Những tê bào cố định có đời sóng tương đỏi dài, trong đó phải kê tới nguyên bào sợi là tẻ bào có chức nang chẻ tiét, duy trì các thành phần gian bao liên kết; tê bào mỡ là loai tê bào tỏng hợp, dự trữ lipid đế cung cấp nguồn sinh nàng lượng cho quá trình chuyến hoá của tất ca các tè bào khac trong cơ thể; té bào nội mô, tẻ bào vòng. Phán lớn những té bào di đong có đòi sông tương đôi ngẩn, chúng đưric thay thè liên tục bni nguồn té bào cùng loại rất phong phú vê sỏ”lượng từ máu. Những tẻ bào di động trong mỏ liên ket chính thức là những bạch cầu có hạt, bach cau đơn nhản lón và đại thực bào, tương bào, dưỡng bào… Một sô” trong những loại tê bào di động này tham gia vào đáp ứng miền dịch của cơ thè. 1.3.1. Nguyên bao s ợ i (Hình 2-1; 2-8; 2-9) Nguyên bào sợi là loại tề bào phô biên nhat trong mô liên két chính thức. Chúng tóng hợp chất căn bản và các thành phản tao sợi liên kêt. Nguyên bào sơi là loại tẻ bao đang hoạt động tông hợp chat tích cực. Té bào sợi được coi là ớ trạng thái đã hoàn thành quá trình tỏng hợp chàt, chúng thướng nằm giữa cac thành phần gian bao. Dưới kính hiẻh vi quang học nguyén bao sơi cổ hình sao với nhiêu nhanh bào tương dài ngãn khác nhau, nhưng không liên hệ với nhanh bào tương của tẻ bào bèn canh. Nhán tẻ bao hình trứng, to và sáng màu, chat nhiẻm sãc min, hạt nhản rõ ràng. Dưới kính hiến vi điện tử, trong bào tương nguyên bào sợi rảt giàu lưới nội bào co hạt, bo Golgi phát triển, giàu tui ché tiet và khong bào (Hình 5-4). Bằng phương phap miẻn dịch hoá tẻ bào, nhặn thảy ờ vùng bào tương sat màng tẻ bào giàu xơ actin và a-actinin. Xơ actin phản bò” khap bào tương tè bao. Nhieu ong sieu vi từ trung thể toả ra ngoai vi tè bào. Nguyên bao sơi tong hờp procollagen, glycosaminoglycan và glycoprotein đưa vảo khoang gian bào. Tại đày, các phàn tử procollagen chuyên thanh cac phản tủ troprocollagen, đơn vị càu tao của các sợi lièn két. Ngoài ra nguyên bào sơi còn tòng hơp collagenase, enzym tham gia vào qua trình thoai bien sinh học cua collagen trong điếu kiện pH cua mô liẻn ket khoang 7,0. !, À !34 r i j I ầ Hình 2.8. Sơ đo cau tao vi thể vá sièu vi thể cùa nguyén bào sơi (bẽn trai) và tê bao sci (bèn phải) , Trong bao tương có những lysosom (tĩêu thể) (2) va những phagosom (thể thưc bao) (1). 48