Top 14 # Soạn Ngữ Văn Bài Người Con Gái Nam Xương / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Maiphuongus.net

Soạn Bài Chuyện Người Con Gái Nam Xương Ngữ Văn 9 / 2023

Soạn bài chuyện người con gái Nam Xương

Bài làm Bố cục:

– Phần 1 (Ngay từ đầu đến “như đối với cha mẹ đẻ mình”): Thông qua đây ta nhận thấy được cũng chính cuộc sống của Vũ Nương khi được gả về nhà Trương Sinh cho đến trước khi Trương Sinh trở về thật đặc sắc.

– Phần 2 (Phần tiếp theo đến “nhưng việc trót đã qua rồi”): Nói lên được chính số phận oan khuất của nàng Vũ Nương.

– Phần 3 (Phần còn lại): Vũ Nương lúc này cũng đã được giải oan.

Câu 1. Bố cục của truyện Chuyện người con gái Nam Xương

– Đoạn 1: Đoạn 1 tác gải nói về một cuộc hôn nhân giữa Trương Sinh và Vũ Nương, đó cũng chính là một sự xa cách vì chiến tranh, phẩm hạnh của Vũ Nương trong thời gian xa cách.

– Đoạn 2: Diễn tả được chính những nỗi oan khuất và cái chết bi thảm của Vũ Nương

– Đoạn 3: Vũ Nương đã được giải oan

Câu 2. Các em hãy cho biết để khắc hoạ vẻ đẹp tâm hồn của Vũ Nương, tác giả Nguyễn Dữ cũng đã đặt nhân vật này vào những hoàn cảnh khác nhau để miêu tả:

– Tác giả Nguyễn Dữ cũng đã đặt nhân vật vào mối quan hệ vợ chồng trong cuộc sống hằng ngày, và Vũ Nương sống dường như cũng không để xảy ra mối bất hòa.

– Tiếp đến, đó chính là tác giả Nguyễn Dữ cũng đã đặt Vũ Nương vào trong tình huống chia li: Đó chính là khi tiễn chồng đi lính, nàng cũng đã lại bày tỏ sự thương nhớ, và chỉ mong chồng bình yên trở về chứ không mong muốn gì hơn.

– Khi vắng chồng, thì nàng Vũ Nương là một người vợ thuỷ chung, một người mẹ hiền, dâu thảo luôn luôn ân cần, hết lòng chăm sóc mẹ chồng lúc ốm đau.

– Cho đến khi bị chồng nghi oan, Vũ Nương đã cố phân trần để cho Trương Sinh hiểu rõ tấm lòng mình. Thế nhưng không có kết quả nào cả nên nagf đã chọ cái chết để bải vệ danh dự của mình

Câu 3. Vì sao Vũ Nương phải chịu nỗi oan khuất? Từ đó cảm nhận được điều gì về thân phận của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến?

– Nói đến nguyên nhân trực tiếp là do Trương Sinh quá đa nghi đã vậy còn hay ghen, gia trưởng, độc đoán. Không cho Vũ Nương thanh minh

– Tiếp đến ta nhận thấy được đây cũng chính là nguyên nhân gián tiếp là do xã hội phong kiến – chính là một xã hội gây ra bao bất công ấy ta nhận thấy được cũng chính thân phận người phụ nữ thật bấp bênh luôn luôn mong manh, bi thảm.

Câu 4. Hãy nêu nhận xét về cách dẫn dắt tình tiết câu chuyện, những lời trần thuật và những lời dối thoại trong truyện.

Có thể nhận thấy được chính cách dẫn dắt tình tiết câu chuyện tạo kịch tính, lôi cuốn. Không chỉ dừng lại ở đó ta nhận thấy được còn có những chi tiết hé mở, dường như cũng cứ chuẩn bị thắt nút đến khi nút thắt ngày một chặt hơn đã tạo cho câu truyện đã trở nên hấp dẫn, sinh động hơn rất nhiều.

Câu 5. Tìm những yếu tố kì ảo trong truyện. Đưa những yếu tố kì ảo vào một câu chuyện quen thuộc, tác giả nhằm thể hiện điều gì?

Đó là chuyện nằm mộng của Phan Lang, Chuyện Phan Lang và Vũ Nương ở chính dưới động rùa của Linh Phi,… Về chuyện lập đàn giải oan, thì lúc này đây nhân vật Vũ Nương hiện về ngồi trên kiệu hoa và đã vậy lại có cờ tán, võng lọng rực rỡ đầy sông tất cả dường như cứ lúc ẩn lúc hiện, rồi biến mát.

Câu hỏi (trang 52 SGK): Kể lại Chuyện người con gái Nam Xương theo cách của em.

Ý nghĩa – Nhận xét

– Thông quua câu chuyện về cuộc đời và số phận của Vũ Nương trong tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương thì mỗi học sinh thấu hiểu, đồng cảm với số phận bất hạnh, bé nhỏ của người phụ nữ Việt Nam ở dưới xã hội phong kiến hà khắc. Không chỉ dừng lại ở đó mà đồng thời biết trân trọng, khẳng định vẻ đẹp phẩm chất ngời sáng của họ.

Soạn Bài Chuyện Người Con Gái Nam Xương Ngữ Văn 9 Siêu Ngắn / 2023

Phần 1: Từ đầu … cha mẹ đẻ mình: Cuộc sống của Vũ Nương khi lấy Trương Sinh.

Phần 2: Qua năm sau … trót đã qua rồi: Câu chuyện oan khuất của Vũ Nương.

Phần 3: Còn lại: Vũ Nương được giải oan.

– Nhân vật Vũ Nương được miêu tả trong các hoàn cảnh khác nhau:

Trong cuộc sống vợ chồng: “giữ gìn khuôn phép”.

Khi tiễn chồng đi lính: nàng không trông mong chồng “đeo được ấn phong hầu…chỉ xin ngày về được bình an.”

⇒ Người vợ hiền thục, nết na, yêu chồng sâu sắc.

– Khi xa chồng: Vũ Nương là người vợ thủy chung , người con dâu hiếu thảo, người mẹ đảm đang.

– Khi bị chồng nghi oan: Bày tỏ lòng mình để níu kéo hạnh phúc gia đình, trẫm mình tự vẫn để bảo toàn danh dự ⇒ giàu lòng tự trọng.

Vũ Nương phải chịu nỗi oan khuất vì đứa con không nhận cha đẻ của mình mà nhận người khác làm cha mình. Chồng không tin tương lại thêm tính đa nghi, hay ghen tuông.

Số phận của người phụ nữ dưới xã hội phong kiến thật nhỏ nhoi, bấp bênh, bất hạnh. Họ không được coi trọng, bảo vệ mà luôn phải chịu sự bất công.

Trên cơ sở cốt truyện có sẵn, tác giả đã sắp xếp lại một số tình tiết, thêm bớt hoặc tô đậm những tình tiết có ý nghĩa, có tính chất quyết định đến quá trình diễn biến của truyện cho hợp lí, tăng cường tính bi kịch và cũng làm cho truyện trở nên hấp dẫn và sinh động hơn.

Truyện có nhiều lời thoại và lời tự bạch của nhân vật làm cho câu chuyện trở nên sinh động, góp phần khắc họa quá trình tâm lí và tính cách nhân vật.

– Những yếu tố kì ảo trong truyện: Phan Lang nằm mộng rồi thả Rùa; Phan Lang gặp nạn, lạc vào động Rùa, gặp Linh Phi cứu giúp; Phan Lang gặp lại Vũ Nương, được sứ giả Xích Hỗn rẽ đường nước đưa về dương thế; Vũ Nương hiện về trong lễ giải oan trên bến Hoàng Giang huyền ảo rồi biến mất.

– Vai trò của yếu tố kỳ ảo: Thể hiện đặc trưng của thể loại truyền kỳ; Làm hoàn chỉnh thêm nét đẹp vốn có của Vũ Nương; Tạo kết thúc có hậu và thức tỉnh người đọc về hạnh phúc gia đình;Thể hiện về ước mơ, về lẽ công bằng ở cõi đời của nhân dân ta.

Vũ Thị Thiết (Vũ Nương) là người phụ nữ nhan sắc, đức hạnh. Chồng nàng là Trương Sinh phải đi lính sau khi hai người cưới nhau ít lâu. Nàng ở nhà, một mình vừa nuôi con nhỏ vừa chăm sóc mẹ chồng đau ốm rồi làm ma chu đáo khi bà mất. Trương Sinh trở về, nghe lời con, nghi vợ thất tiết nên đánh đuổi đi. Vũ Nương uất ức gieo mình xuống sông Hoàng Giang tự vẫn nhưng được thần Rùa Linh Phi và các tiên nữ cứu. Sau đó Trương Sinh mới biết vợ bị oan. Ít lâu sau, Vũ Nương gặp Phan Lang – người cùng làng chết đuối được Linh Phi cứu. Khi Phan Lang trở về, Vũ Nương nhờ gửi chiếc hoa vàng nhắn chàng Trương lập đàn giải oan cho nàng. Trương Sinh nghe theo, Vũ Nương ẩn hiện giữa dòng sông, nói vọng vào bờ lời tạ từ rồi biến mất.

Soạn Bài: Chuyện Người Con Gái Nam Xương – Ngữ Văn 9 Tập 1 / 2023

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả (các em tham khảo phần giới thiệu tác giả Nguyễn Dữ trong SGK Ngữ văn 9 tập 1).

2. Tác phẩm

* Xuất xứ: Văn bản Chuyện người con gái Nam Xương là một trong 20 truyện của tác phẩm Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ.

* Thể loại: Truyện được viết theo thể loại truyền kì. Đặc điểm của thể loại truyền kì:

Thường có yếu tố kì lạ, hoang đường, nhưng cũng có khai thác những truyện cổ dân gian và truyền thuyết lịch sử, dã sử của Việt Nam.

Nhân vật chính thường là những người phụ nữ đức hạnh, khao khát một cuộc sống yên bình, hạnh phúc, nhưng các thế lực bạo tàn và cả lễ giáo khắc nghiệt lại xô đẩy họ vào những hoàn cảnh éo le, oan khuất, bất hạnh. Một loại nhân vật khác là những người trí thức có tâm huyết, bất mãn với thời cuộc, không chịu trói mình trong vòng danh lợi chật hẹp

* Tóm tắt: Vũ Thị Thiết (Vũ Nương) là một người con gái đẹp người đẹp nết, được Trương Sinh là người thất học, hay ghen cưới về làm vợ. Cưới nhau chưa được bao lâu, Trương Sinh phải đi lính, Vũ Nương ở nhà chăm sóc mẹ chồng chu đáo và nuôi con thơ. Khi mẹ chồng mất, nàng cũng lo ma chay chu toàn như đối với cha mẹ đẻ mình. Khi Trương Sinh trở về, hay tin mẹ mất mà đau buồn. Đứa con không nhận cha, Trương Sinh nổi máu ghen tuông ngờ vực sự thủy chung của Vũ Nương. Để chứng tỏ sự trong sạch của mình với chồng, Vũ Nương đã nhảy sông tự vẫn. Phan Lang do cứu được Linh Phi nên được báo đáp, sau đó gặp được Vũ Nương. Trương Sinh lập đàn giải oan cho vợ nhưng Vũ Nương không còn được trở lại dương gian vì xã hội phong kiến quá hà khắc.

* Bố cục: Văn bản được chia làm 3 đoạn:

Đoạn 3: còn lại: Vũ Nương ở Thủy Cung và nỗi oan được giải

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1: Bố cục (như trên)

Câu 2:

* Nhân vật Vũ Nương được miêu tả trong những hoàn cảnh:

Trước khi lấy chồng: là người con gái tính tình thùy mị, nết na, tư dung tốt đẹp

Khi về nhà chồng: là một người vợ thảo hiền, nết na, nàng không để xảy ra những bất hòa trong cuộc sống vợ chồng

Khi chồng đi lính: là một người con dâu hiếu thảo, một người mẹ hiền, một người vợ chung thủy

Khi bị nghi oan: nàng cố giải thích nhưng không được, đến bước đường cùng nàng đã tự trẫm mình xuống sông để chứng minh sự trong sạch của mình.

Câu 3:

* Vũ Nương phải chịu nỗi oan khuất là vì:

Nguyên nhân trực tiếp: do Trương Sinh là một người quá đa nghi, hay ghen, gia trưởng, độc đoán, không cho Vũ Nương cơ hội trình bày

Nguyên nhân sâu xa: do xã hội phong kiến, chế độ nam quyền với những lễ giáo phong kiến hà khắc gây ra bao bất công khiến cho thân phận người phụ nữ bấp bênh, mong manh, bi thảm. Đồng thời cũng là do cuộc chiến tranh phi nghĩa gây ra.

Câu 4:

* Cách dẫn dắt tình tiết câu chuyện:

Từ những chi tiết hé mở, chuẩn bị thắt nút cho đến khi mâu thuẫn được đẩy lên đến đỉnh điểm đã tạo nên sự hấp dẫn và sinh động cho câu chuyện

Những đoạn độc thoại và đối thoại được sắp xếp rất đúng chỗ giúp cho câu chuyện trở nên sinh động, góp phần khắc họa tâm lý, tính cách nhân vật, đưa truyện đến kịch tính

Câu 5:

* Những yếu tố kỳ ảo trong truyện:

Chuyện nằm mộng của Phan Lang, Phan Lang và Vũ Nương dưới động rùa của Linh Phi

Vũ Nương hiện về ngồi trên kiệu hoa, cờ tán, võng lọng rực rỡ đầy sân, lúc ẩn lúc hiện, rồi “bóng nàng loang loáng mờ nhạt dần mà biến đi mất”

* Đưa những yếu tố kỳ ảo vào một câu chuyện quen thuộc, kết hợp với yếu tố tả thực để tạo ra hiệu quả nghệ thuật về tính chân thực của truyện. Qua đó, tác giả muốn tạo cơ sở để minh oan cho Vũ Nương, khẳng định lòng trong trắng của nàng. Đồng thời, thể hiện tấm lòng nhân đạo, là ước mơ, khát vọng của nhân dân về một thế giới công bằng.

3

/

5

(

2

bình chọn

)

Soạn Văn 9 Vnen Bài 4: Chuyện Người Con Gái Nam Xương / 2023

A. Hoạt động khởi động

1. Nêu những nhận xét của em về Vũ Nương qua lời thoại sau của nhân vật

Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, điều đâu bay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh, xin ngài chứng giám.Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu Mỹ. Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ.

B. Hoạt động hình thành kiến thức

1. Đọc văn bản 2. Tìm hiểu văn bản

a) Tìm bố cục của truyện bằng cách hoàn thành sơ đồ sau (ghi vào vở)

Nghĩa tình son sắt của Vũ Nương dành cho gia đình nhà chồng

Phần 1

(từ đầu đến “lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình.”)

Nỗi oan khuất và cái chết của Vũ Nương

Phần 2

(từ “Qua năm sau, giặc ngoan cố” đến “nhưng việc trót đã qua rồi!”)

b) Nhận xét về những phẩm chất của Vũ Nương được thể hiện ở từng phần của câu chuyện .

c) Nguyên nhân dẫn đến nỗi oan khuất của Vũ Nương là gì? Theo em, nguyên nhân nào là quan trọng nhất? Vì sao?

– Nguyên nhân trực tiếp:

+ Lời nói ngây thơ của bé Đản đã vô tình gây nên mối hiểu lầm của Trương Sinh.

+ Nguyên nhân đáng trách nhất để dẫn đến cái chết oan khuất của Vũ Nương đó là tính cách đa nghi, ít học của Trương Sinh. Khi nghe lời nói ngây thơ của con trẻ, chàng chẳng thèm suy xét đúng sai hay lắng nghe những lời phân trần mà vội vàng kết tội vợ mình. Chính sự hồ đồ, độc đoán, tệ bạc này của Trương Sinh là nguyên nhân quan trọng nhất đẩy Vũ Nương đến đường cùng không lối thoát. Nếu Trương Sinh là một người tỉnh táo và biết lắng nghe, suy xét, có lẽ bi kịch này sẽ không xảy ra.

– Nguyên nhân gián tiếp:

+ Do chế độ nam quyền độc đoán, một xã hội mà nam nữ không bình đẳng, hôn nhân không có tình yêu và tự do.

+ Do chiến tranh phong kiến phi nghĩa.

d) Từ bi kịch của Vũ Nương, hãy nêu lên những cảm nhận của em về thân phận của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến.

Bi kịch số phận của Vũ Nương bắt nguồn từ một cái bóng, và thân phận của nàng cũng giống như chính cái bóng trên tường: nhỏ nhoi, mong manh, leo lét. Cũng như Vũ Nương, người phụ nữ nói chung sống dưới chế độ phong kiến hoàn toàn không được làm chủ cuộc đời của mình. Họ luôn phải phụ thuộc vào những người đàn ông, bị coi rẻ danh dự và nhân phẩm. Bi kịch của Vũ Nương là tiếng nói thương cảm cho số phận bất hạnh của người phụ nữ và cực lực lên án xã hội phong kiến đương thời bất công, phi lí chà đạp, rẻ rúng con người.

e) Nhận xét về cách dẫn dắt câu chuyện, tác dụng của những lời đối thoại và tự bạch của nhân vật, những yếu tố kì ảo hoang đường trong truyện.

– Cách dẫn dắt câu chuyện: Tác giả dẫn dắt câu chuyện có diễn biến, cao trào, thắt nút, mở nút, kết thúc rất khéo léo, kịch tính.

– Những lời đối thoại, tự bạch sinh động và có tác dụng thể hiện tính cách, diễn biến tâm lí của nhân vật và tạo kịch tính cho truyện.

– Những chi tiết kì ảo, hoang đường trong truyện:

+ Tăng sức hấp dẫn, cuốn hút cho chuyện.

+ Hoàn chỉnh thêm những nét đẹp vốn có của Vũ Nương, một người dù đã ở thế giới khác, vẫn quan tâm đến chồng con, nhà cửa, phần mộ tổ tiên, khao khát được phục hồi danh dự.

+ Tạo nên một kết thúc phần nào có hậu, thể hiện ước mơ ngàn đời của nhân dân ta về sự công bằng: người tốt dù có phải trải qua bao oan khuất, cuối cùng sẽ được minh oan.

3. Tìm hiểu về sự phát triển của từ vựng

Đọc các ví dụ và trả lời câu hỏi.

(1) Mùa xuân đã đến trên quê hương tôi.

(2) Tuổi xuân của cô tôi đã trôi qua.

(3) Bạn ấy ngã xe nên bị đau tay.

(4) Anh ấy là tay văn nghệ có tiếng trong trường.

(5) Mấy ngày nay, nước nóng lên tới 40 độ C.

(6) Cả hội trường nóng lên khi người ca sĩ cất tiếng hát.

(7) Chúng tôi lau bàn ghế khi trực nhật.

(8) Cuộc bầu cử nhằm chọn ra 30 ghế trong Hạ viện.

1. Hãy nêu nghĩa của các từ được in đậm trong những ví dụ trên.

(1) Xuân: chỉ mùa xuân, mùa khởi đầu trong một năm.

(2) Xuân: chỉ tuổi trẻ

(3) Tay: bộ phận phía trên của cơ thể, từ vai đến ngón, dùng để cầm, nắm

(4) Tay: người chuyên hoạt động hay giỏi về một môn, một nghề nào đó

(5) Nóng: Chỉ nhiệt độ cao

(6) Nóng: không khí sôi động

(7) Ghế: một đồ vật dùng để ngồi

(8) Ghế: một vị trí trong một cơ quan, tổ chức

1. Theo em, từ nào được dùng theo nghĩa gốc, từ nào được dùng theo nghĩa chuyển?

Những từ (1), (3), (5), (7) được dùng theo nghĩa gốc

Những từ (2), (4), (6), (8) được dùng theo nghĩa chuyển

1. Nghĩa chuyển của những từ nào được hình thành theo phương thức ẩn dụ, từ nào theo phương thức hoán dụ?

Nghĩa chuyển của từ (2), (6) được hình thành theo phương thức ẩn dụ.

Nghĩa chuyển của từ (6), (8) được hình thành theo phương thức hoán dụ.

d. Những nội dung sau nói về sự phát triển của từ vựng. Chọn các phương án đúng (ghi vào vở).

4. Tìm hiểu về cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp

Đọc đoạn trích và trả lời câu hỏi

Không phải ngẫu nhiên mà Nam Cao viết Lão Hạc sau Chí Phèo, Trẻ con không được ăn thịt chó, Tư cách mõ, Một bữa no. Nhân vật trong các truyện đó từng ngã quỵ trước bản năng, miếng ăn, cái đói .Đói khiếp thật! Miếng ăn quý thật nhưng vì nó mà đánh đổi tất cả thì quả đáng buồn. Suốt cuộc đời ngắn ngủi của Nam Cao, cái đói luôn ám ảnh. Ông từng chua chát nói: “Trọn đời tôi, tôi chỉ lo chết đói. Như thế bảo còn nghĩ đến cái to tát sao được”. Thế mà ông nghĩ đấy, ông nghĩ đói khổ là nguy cơ hủy diệt nhân cách và tinh thần con người. Miếng ăn thành thử thách, Nam Cao đã trộn lẫn hai cuộc đời thực từ làng Đại Hoàng quê ông để sáng tạo nên Lão Hạc, trao cho lão vũ khí tinh thần và không muốn lãng thua cuộc. Lão đã lớn từ trang sách cách, trở thành biểu tượng của nhân cách.

(Theo Hoàng Thị Thương, Tiếng nói tri âm)

a) Những phần được in đậm là trích dẫn lời nói hay ý nghĩ? Nó được ngăn cách với bộ phận đứng trước bởi dấu gì?

Phần in đậm đầu tiên là trích dẫn lời nói, được ngăn các với bộ phận đứng trước bằng dấu hai chấm và dấu ngoặc kép.

Phần in đậm thứ hai là trích dẫn ý nghĩ, không được ngăn cách với bộ phận đứng trước.

b) Chỉ ra sự giống nhau và khác nhau về nội dung và hình thức của hai cách dẫn trên.

Giống: đều là thuật lại lời nói, ý nghĩ của một người.

Khác:

– Về nội dung:

+ Cách thứ nhất: lời nói được nhắc lại nguyên văn

+ Cách thứ 2: ý nghĩ được thuật lại

– Về hình thức:

+ Cách dẫn thứ nhất: Nằm trong dấu ngoặc kép và nằm sau dấu 2 chấm.

+ Cách dẫn thứ 2: Không đặt trong dấu ngoặc kép.

c) Cách dẫn thứ nhất được gọi là dẫn trực tiếp. Cách dẫn thứ 2 được gọi là dẫn gián tiếp. Hãy hoàn thiện (vào vở) những thông tin còn thiếu để có được những khái niệm đúng.

Dẫn gián tiếp: là thuật lại lời nói hay ý nghĩ của người hoặc nhân vật, có sự điều chỉnh nhất định, phần dẫn (…)

Dẫn trực tiếp: là nhắc lại lời nói hay ý nghĩ của người hoặc nhân vật, (…) phần dẫn được đặt trong dấu ngoặc kép.

Dẫn gián tiếp: là thuật lại lời nói hay ý nghĩ của người hoặc nhân vật, có sự điều chỉnh nhất định, phần dẫn không đặt trong dấu ngoặc kép.

Dẫn trực tiếp: là nhắc lại lời nói hay ý nghĩ của người hoặc nhân vật một cách nguyên văn, phần dẫn được đặt trong dấu ngoặc kép.

C. Hoạt động luyện tập

1. Luyện tập đọc hiểu văn bản Chuyện người con gái Nam Xương

a) Kể tóm tắt văn bản Chuyện người con gái Nam Xương

Vũ Nương tên thật là Vũ Thị Thiết quê ở Nam Xương là người con gái thùy mị nết na tư dung tốt đẹp nên Trương Sinh đem lòng yêu mến bảo mẹ đem trăm lạng vàng cưới nàng làm vợ. Biết chồng có tính đa nghi Vũ Nương luôn giữ gìn khuôn phép ăn ở đúng mực. Gả cho Trương Sinh chưa được bao lâu thì phải tiễn chồng đi lính. Vũ Nương ở nhà chăm sóc mẹ già con trẻ. Bà mẹ vì quá nhớ con buồn rầu mà chết. Nàng ma chay tế lễ chu đáo. Vũ Nương hàng đêm thường chỉ bóng mình trên vách bảo với con đấy là cha Đản. Khi giặc tan Trương Sinh trở về đứa trẻ không nhận là cha mình. Trương Sinh tình cờ biết con còn có một người khác mà đêm đêm vẫn đến, nghi ngờ vợ mình thất tiết, về đến nhà chàng mắng chửi thậm tệ và ruồng bỏ đuổi Vũ Nương ra khỏi nhà mặc cho hàng xóm và nàng đã hết sức thanh minh. Vũ Nương uất ức tự tử ở bến Hoàng Giang được Linh Phi – vợ vua Nam Hải cứu sống và đưa về ở trong động rùa. Ở nhà, đêm tối bóng Trương Sinh in trên vách thấy con gọi cha Trương Sinh mới vỡ lẽ ra nỗi oan của vợ thì quá muộn. Ở dưới thủy cung, Vũ Nương luôn hướng về gia đinh nhờ sự giúp đỡ của Linh Phi và Phan Lang (người cùng làng) Vũ Nương được Trương Sinh lập đàn giải oan ở bến Hoàng Giang. Sự trở về của nàng vô cùng lộng lẫy lúc ẩn lúc hiện rồi biến mất.

b) Viết đoạn văn trình bày cảm nhận của em về một trong hai nhân vật: mẹ Trương Sinh, Trương Sinh.

Qua truyện ngắn Người con gái Nam Xương, chân dung tính cách Trương Sinh hiện lên với thói gia trưởng, độc đoán, đa nghi và hay ghen tuông vô cớ. Trong thiên truyện, Trương Sinh đóng vai trò là người tạo dựng nên thảm kịch đối với người vợ Vũ Nương. Từ lời nói hồn nhiên của con trai, Trương Sinh đã thiếu suy nghĩ nên tự mình hình dung Vũ Nương đã không giữ gìn khí tiết, gian díu với người ngoài trong thời gian anh đi lính. Anh ta đinh ninh là vợ hư: “mối nghi ngờ ngày càng sâu, không có gì gỡ ra được”. Trương Sinh đã xử sự hồ đồ, độc đoán, la mắng, đánh đuổi vợ, không bình tĩnh phán đoán, phân tích sự việc, cũng không tin hàng xóm bênh vực Vũ Nương và những lời phân trần của nàng. Chính sự ích kỉ, tàn nhẫn, mù quáng của Trương Sinh đã đẩy Vũ Nương đến chỗ nàng phải tự vẫn để chứng tỏ tấm lòng trong sạch của mình. Sự vô lí, mê muội của Trương Sinh phản ánh bộ mặt xã hội phong kiến nam giới chuyên quyền, trọng nam khinh nữ, người phụ nữ hoàn toàn không có tiếng nói trong gia đình. Trong câu chuyện, dù nhân vật Trương Sinh không được tác giả chú trọng xây dựng nhưng lại có sức biểu đạt sâu sắc. Đó cũng là dụng ý của ông, nhằm muốn nói xã hội phong kiến mục ruỗng cùng với những quy định khắc khe của nó ấy dù không nổi bật nhưng lại có sức ảnh hưởng âm thầm ghê gớm. Nó giống như một sợi dây vô hình siết chặt và quyết định vận mệnh con người.

2. Luyện tập về sự phát triển của từ vựng

a) Nghĩa gốc của từ mũi là: bộ phận nhô lên ở giữa mặt người và động vật có xương sống dùng để thở, ngửi.

Trong những câu sau, từ mũi được dùng với nghĩa gốc hay nghĩa chuyển:

(1) Chúng tôi vừa đi thăm mũi đất Cà Mau.

(2) Du lịch đã trở thành ngành mũi nhọn của địa phương.

(3) Họ thích đứng ở mũi tàu ngắm nhìn sông nước,

(4) Viêm mũi dị ứng là bệnh khá phổ biến ở trẻ nhỏ.

Câu (1), (2), (3) từ “mũi” được dùng theo nghĩa chuyển

Câu (4), từ “mũi” dùng theo nghĩa gốc.

b) Từchân trong các câu sau là từ nhiều nghĩa. Hãy xác định:

– Ở câu nào, từ chân dùng với nghĩa gốc?

– Ở câu nào từ chân dùng với nghĩa chuyển theo phương thức ẩn dụ?

– Ở câu nào từ chân dùng với nghĩa chuyển theo phương thức hoán dụ?

(1) Đề huề từng túi gió trăng

Sau chân, theo một vài thằng con con.

(Nguyễn Du, Truyện Kiều)

(2) Năm em học sinh lớp 9A có chân trong đội tuyển của trường đi dự “Hội khỏe Phù Đổng”.

(3) Dù ai nói ngả nói nghiêng

Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân.

(4) Buồn trông nội cỏ rầu rầu

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

(Nguyễn Du, Truyện Kiều)

– Câu (1), từ “chân” được dùng với nghĩa gốc

– Câu (3), (4), từ “chân” được dùng với nghĩa chuyển theo phương thức ẩn dụ.

– Câu (2), từ chân dùng với nghĩa chuyển theo phương thức hoán dụ.

c) Vì sao nói các từ: ngân hàng, sốt, vua là những từ có nghĩa chuyển. Cho ví dụ để chứng minh điều đó.

Ngân hàng:

– Nghĩa gốc là “tổ chức kinh tế hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh và quản lý các nghiệp vụ tiền tệ, tín dụng”.

Ví dụ: “Tôi làm thẻ ATM ở ngân hàng BIDV”.

– Nghĩa chuyển là:

Nơi lưu trữ, bảo quản những thành phần, bộ phận cơ thế (ngân hàng máu, ngân hàng gen,…) hoặc dữ liệu

Ví dụ: Ngân hàng đề thi lên tới hàng trăm nghìn câu hỏi để phục vụ kì thi năm nay.

Sốt:

– Nghĩa gốc là “tăng nhiệt độ cơ thể lên quá mức bình thường do bị bệnh”.

Ví dụ: Anh ấy bị sốt đến 40 độ C

– Nghĩa chuyển: Tình trạng tăng nhu cầu đột ngột làm cho hàng hoá trở nên khan hiếm: cơn sốt đất, cơn sốt vàng, cơn sốt hàng hóa,…

Ví dụ: Cơn sốt vàng năm nay đã đẩy giá vàng lên rất cao.

Vua:

– Nghĩa gốc là “người đứng đầu của nhà nước quân chủ”.

Ví dụ: “Lê Chiêu Thống là một ông vua cõng rắn cắn gà nhà”.

– Nghĩa chuyển là “người đàn ông được coi là nhất trong một lĩnh vực nhất định, thường là sản xuất, kinh doanh, thể thao, nghệ thuật”.

Ví dụ: Pele được mệnh danh là ông vua bóng đá.

d) Trong hai câu thơ:

Ngày ngày mặt tời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.

(Viễn Phương, Viếng lăng Bác)

Từ mặt trời ở câu thứ hai được dùng theo phép tu từ nào? Mang ý nghĩa gì? Có thể coi đây là hiện tượng phát triển nghĩa từ nghĩa gốc của từ mặt trời được hay không? Vì sao?

– Từ mặt trời trong câu thơ thứ hai được sử dụng theo phép tu từ ẩn dụ. Mang ý nghĩa ngợi ca sự vĩ đại, lớn lao của Bác Hồ.

– Đây không phải là hiện tượng phát triển nghĩa của từ, bởi vì sự chuyển nghĩa của từ mặt trời trong câu thơ có tính chất lâm thời, nó không làm cho từ có thêm nghĩa mới.

3. Luyện tập về cách dẫn trưc tiếp và cách dẫn gián tiếp

a) Tìm lời dẫn trong những đoạn trích sau (trích từ truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao). Em hãy cho biết đó là lời nói hay ý nghĩ và được dẫn theo cách nào?

(1) Lão tìm lời lẽ giảng giải cho con trai hiểu. Lão khuyên nó hãy dằn lòng bỏ đám này, để dùi giẳng lại ít lâu, xem có đám nào khá mà nhẹ tiền hơn sẽ liệu; chẳng lấy đứa này thì lấy đứa khác; làng này đã chết con gái đâu mà sợ.

(2) Nó cứ làm in như nó trách tôi; nó kêu ư ử; nhìn tôi như muốn bảo tôi rằng; “A! Lão già tệ lắm! Tôi ăn ở với lão như thế mà lão xử với tôi như thế này à?”

(3) Sau khi thằng con đi, lão tự bảo rằng: “Cái vườn là của con ta. Hồi còn mồ ma mẹ nó, mẹ nó cố thắt lưng buộc bụng, dè sẻn mãi, mới để ra được 50 đồng bạc tâu. Hồi ấy, mọi thứ còn rẻ cả…”

(1) Lời dẫn hãy dằn lòng bỏ đám này, để dùi giẳng lại ít lâu, xem có đám nào khá mà nhẹ tiền hơn sẽ liệu; chẳng lấy đứa này thì lấy đứa khác; làng này đã chết con gái đâu mà sợ.

Dẫn lời nói – cách dẫn gián tiếp

(2) Lời dẫn “A! Lão già tệ lắm! Tôi ăn ở với lão như thế mà lão xử với tôi như thế này à?”

Dẫn ý nghĩa – cách dẫn trực tiếp

(3) “Cái vườn là của con ta. Hồi còn mồ ma mẹ nó, mẹ nó cố thắt lưng buộc bụng, dè sẻn mãi, mới để ra được 50 đồng bạc tâu. Hồi ấy, mọi thứ còn rẻ cả…”

Dẫn ý nghĩ – cách dẫn trực tiếp