Top 9 # Soạn Bài Vợ Nhặt Hay Nhất Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 6/2023 # Top Trend | Maiphuongus.net

Mở Bài Vợ Nhặt Hay Nhất

Cách mạng tháng 8 thành công đã mở ra một kỳ nguyên mới cho dân tộc, đổi đời cho biết bao con người đang khốn khổ nhưng dư âm nặng nề của nan đói thê thảm năm 1945 thì khó có thể xóa mờ trong tâm trí của người Việt Nam. Với tác phẩm Vợ Nhặt nhà văn Kim Lân đã làm hiện lên trước mắt người đọc một bức tranh sinh động về hiện thực thê thảm ấy và lạ thay, giữa khoảng trống lay lắt, tối tăm của cuộc sống đói nghèo nhà văn đã cho ta thấy được tấm lòng của những con người đói khổ dù đang bị cái đói, cái chết rình rập nhưng họ vẫn cưu mang, đùm bọc, yêu thương và san sẻ, cùng hướng về sự sống, về hạnh phúc và tương lai.

Mở bài Vợ Nhặt – Bài mẫu 2

Ai đó từng nói rằng ” Hãy hướng về phía mặt trời, bóng tối sẽ ngả sau lưng bạn.”. Bởi nói như nhà văn Nguyễn Khải “Sự sống nảy sinh từ trong cái chết, hạnh phúc bắt nguồn từ những gian khổ hy sinh. Ở đời không có con đường cùng chỉ có những ranh giới điều cốt yếu là phải có đủ sức mạnh để bước qua ranh giới đó.” . Đọc truyện ngắn “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân ta càng hiểu sâu sắc và thấm thía hơn chân lý đó. Ta không khỏi xót xa, ngậm ngùi thương cho hoàn cảnh éo le, mừng vui cho niềm tin của con người vào tương lai mới mà còn rưng rức trước tình cảm yêu thương của hơi ấm gia đình. Vậy hãy đi sâu vào phân tích tác phẩm để thấy giá trị hiện thực và tư tưởng nhân đạo của nhà văn.

Mở bài Vợ Nhặt – Bài mẫu 3

Nhà văn Kim Lân là minh chứng cho chân lý “quý hồ tinh bất quý hồ đa” trong nghệ thuật. Ông là một trong số những gương mặt đứng ở hàng đầu trong số các cây bút văn xuôi ” viết ít mà càng ngày càng được khâm phục rất nhiều” . Nhắc đến Kim Lân không thể không nhắc đến tác phẩm văn xuôi xếp vào loại gần như “thần bút” là truyện ngắn Vợ nhặt. Trong tác phẩm bức tranh của nạn đói khủng khiếp dường như đã thấm vào từng cảnh vật. Đọc truyện ngắn a không khỏi xót xa, ngậm ngùi thương cho hoàn cảnh éo le, cảm động bởi tình cảm giữa các nhân vật mà còn mừng vui cho niềm tin của con người về tương lai mới.

Soạn Bài Vợ Nhặt Lớp 12 Hay Đầy Đủ Nhất

SOẠN BÀI VỢ NHẶT

I- Tìm hiểu chung về truyện ngắn Vợ nhặt

1. Tác giả

Kim Lân sinh ra ở mảnh đất Kinh Bắc nên con người ông giản dị, thuần hậu nhưng vẫn ánh lên nét tài hoa, hóm hỉnh

Ông vừa viết văn, vừa kiếm sống bằng nhiều nghề khác nhau, cuộc sống lam lũ, vất vả

Kim Lân có sở trường ở thể loại truyện ngắn, ông viết rất chân thực, sinh động về đời sống nông thôn và hình ảnh những người nông dân vùng trung du và đồng bằng Bắc bộ

2. Tác phẩm

“Vợ nhặt” in trong tập truyện “Con chó xấu xí”, tiền thân là tiểu thuyết “Xóm ngụ cư”

II- Soạn bài Vợ nhặt

Câu 1 trang 33 SGK văn 12 tập 2:

Phần 1: từ đầu đến tự đắc với mình: Tràng đưa người vợ nhặt về nhà.

Phần 2: tiếp đến đẩy xe bò về: Tràng hồi tưởng lại cảnh hai người gặp nhau và nên vợ nên chồng

Phần 3: tiếp đến nước mắt chảy ròng ròng: Tình thương của người mẹ nghèo khó

Phần 4: phần còn lại: buổi sáng hôm sau và niềm tin vào tương lai tương sáng

Câu 2 trang 33 SGK văn 12 tập 2:

Người dân xóm ngụ cư ngạc nhiên khi thấy anh Tràng đi cùng một người đàn bà xa lạ về nhà vì trong thời buổi đói kém, miếng ăn cũng không đủ no, chẳng ai nghĩ đến chuyện lập gia đình

Sự ngạc nhiên của dân làng, của bà cụ Tứ và của Tràng cho thấy tác giả đã sáng tạo được một tình huống truyện độc đáo:

Người ta lấy vợ, còn Tràng nhặt được vợ

Đám cưới thiếu mọi lễ nghi cần thiết, lời cầu hôn chỉ là câu nói đùa vu vơ, sính lễ chỉ là 4 bát bánh đúc và chiếc thúng con

Sau 2 lần gặp gỡ, Tràng và người đàn bà xa lạ đã nên duyên vợ chồng

Đám cưới diễn ra trên nền cảnh đám ma

Lên tiếng tố cáo xã hội hủy diệt sự sống, hạ thấp giá trị con người

Trong cùng cực đói khát, những người dân lao động vẫn hướng về sự sống, khát khao hạnh phúc và tin vào tương lai

Câu 3 trang 33 SGK văn 12 tập 2:

Giới thiệu nhan đề Vợ nhặt: Vợ nhặt là người vợ không được cưới hỏi, người vợ theo không

Câu 4 trang 33 SGK văn 12 tập 2:

Kim Lân đã có những phát hiện sâu sắc và tinh tế khi thể hiện niềm khao khát có tổ ấm của nhân vật Tràng:

Giữa lúc đói khát, Tràng vẫn quyết định đưa người vợ nhặt về nhà

Băn khoăn trước nét mặt bần thần của người vợ nhặt

Giới thiệu người vợ nhặt bằng thái độ trân trọng và yêu thương

Có ý thức về trách nhiệm và bổn phận

Câu 5 trang 33 SGK văn 12 tập 2:

Tâm trạng buồn vui xen lẫn của bà cụ Tứ:

Bà vừa mừng vừa tủi: mừng vì con trai lấy được vợ, tủi vì làm mẹ mà không lo được cho con

Bà thương con trai vì đói khát mới lấy được vợ, xót xa cho con dâu vì đói khát mới bám lấy con trai mình

Bà vừa lo âu vì hoàn cảnh đói kém, vừa hi vọng để hướng các con tới tương lai

Câu 6 trang 33 SGK văn 12 tập 2:

Nghệ thuật viết truyện ngắn của Kim Lân

Xây dựng tình huống truyện độc đáo

Ngôn ngữ giản dị, thuần hậu, mang lời ăn tiếng nói của người nông dân vào văn chương

Nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật đặc sắc

III- Luyện tập Vợ nhặt

Câu 1 trang 33 SGK văn 12 tập 2:

Chi tiết gây xúc động và để lại ấn tượng sâu sắc nhất là chi tiết nồi cháo cám

Câu 2 trang 33 SGK văn 12 tập 2:

Ý nghĩa đoạn kết của truyện:

Nhà văn đã mở ra một tương lai tươi sáng hơn tên cái nền hiện thực tối tăm của cảnh đói khát, hướng con người tới cuộc sống tốt đẹp hơn, tự giải phóng cho chính mình và có được hạnh phúc

Nguồn Internet

Dàn Ý Phân Tích Nhân Vật Người Vợ Nhặt Trong Tác Phẩm Vợ Nhặt Hay Nhất

Đề bài: Phân tích nhân vật người vợ nhặt trong Vợ nhặt

Dàn ý mẫu

I. Mở bài

– Giới thiệu tác giả Kim Lân: là cây bút chuyên viết Truyện ngắn, ông am hiểu sâu sắc đời sống của người nông dân và thường tập trung viết về họ.

– Vợ nhặt là một trong số những truyện ngắn đặc sắc viết về người nông dân của ông. Nhân vật đóng vai trò quan trọng trong tác phẩm này chính là người vợ nhặt.

II. Thân bài

1. Lai lịch

– Không có quê hương gia đình: có thể thấy nạn đói năm 1945 đã khiến biết bao con người bị dứt khỏi quê hương, gia đình.

– Tên tuổi cũng không có và qua tên gọi “vợ nhặt”: thấy được sự rẻ rúng của con người trong cảnh đói.

2. Chân dung

– Ngoại hình: quần áo tả tơi như tổ đỉa, gầy sọp, khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn hai con mắt.

– Lần thứ nhất: khi nghe câu hò vui của Tràng, thị đã vui vẻ giúp đỡ, đây chính là sự hồn nhiên vô tư của người lao động nghèo.

– Lần thứ hai:

+ Thị sưng sỉa mắng Tràng, từ chối ăn trầu để được ăn một thứ có giá trị hơn, khi được mời ăn tức thì ngồi sà xuống, mắt sáng lên, “ăn một chặp bốn bát bánh đúc”.

+ Khi nghe ràng nói đùa “đằng ấy có về với tớ … cùng về”, thị đã theo về thật bởi trong cái đói khổ, đó là cơ hội để thị bấu víu lấy sự sống.

– Nhận xét: cái đói khổ không chỉ làm biến dạng ngoại hình mà cả nhân cách con người. Người đọc vẫn cảm thông sâu sắc với thị vì đó không phải là bản chất mà do cái đói xô đẩy.

3. Phẩm chất

– Có khát vọng sống mãnh liệt:

+ Quyết định theo Tràng về làm vợ dù không biết về Tràng, chấp nhận theo không về không cần sính lễ vì thị sẽ không phải sống cảnh lang thang đầu đường xó chợ.

+ Khi đến nhà thấy hoàn cảnh nghèo khổ, trái ngược lời tuyên bố “rích bố cu”, thị “nén một tiếng thở dài”, dù ngao ngán nhưng vẫn chịu đựng để có cơ hội sống.

– Thị là người ý tứ và nết na:

+ Trên đường về, thị cũng rón rén e thẹn đi sau Tràng, đầu hơi cúi xuống, thị ngại ngùng cho thân phận vợ nhặt của mình.

+ Khi vừa về đến nhà, Tràng đon đả mời ngồi, chị ta cũng chỉ dám ngồi mớm ở mép giường, hai tay ôm khư khư cái thúng, thể hiện sự ý tứ khi chưa xác lập được vị trí trong giá đình.

+ Khi gặp mẹ chồng, ngoài câu chào thị chỉ cúi đầu, “hai tay vân vê tà áo đã rách bợt”, thể hiện sự lúng túng ngượng nghịu.

+ Sáng hôm sau, thị dậy sớm quét tước nhà cửa, không còn cái vẻ “chao chát, chỏng lỏn” mà hiền hậu, đúng mực.

+ Lúc ăn cháo cám, mới nhìn “mắt thị tối lại”, nhưng vẫn điềm nhiên và vào miệng thể hiện sự nể nang, ý tứ trước người mẹ chồng, không buồn làm bà buồn.

– Nhận xét: cái đói có thể cướp đi nhân phẩm trong khoảnh khắc nào đó chứ không vĩnh viễn cướp đi được tâm hồn con người.

– Thị còn là người có niềm tin vào tương lai: kể chuyện phá kho thóc trên Thái Nguyên, Bắc Giang để thắp lên hi vọng cho cả gia đình, đặc biệt là cho Tràng.

– Nêu cả nhận chung về hình tượng người vợ nhặt sau khi phân tích.

III. Kết bài

– Khái quát giá trị nghệ thuật: xây dựng tình huống truyện độc đáo, xây dựng hình tượng nhân vật thành công, ngôn ngữ giản dị, tự nhiên, …

– Tác phẩm chứa đựng giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc: người đọc hiểu và cảm thông với cảnh ngộ thương tâm, rẻ rúng của người lao động trong nạn đói, tố cáo thực dân, phát xít, ngợi ca khát vọng sống trong cảnh cơ cực.

Ngân hàng trắc nghiệm miễn phí ôn thi THPT Quốc Gia tại chúng tôi

Soạn Bài Vợ Nhặt (Chi Tiết)

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Câu 1 Câu 1 (trang 33 SGK Ngữ văn 12 tập 2) Dựa vào mạch truyện, có thể chia tác phẩm thành mấy đoạn? Ý chính của mỗi đoạn? Mạch truyện đã được dẫn dắt như thế nào? Lời giải chi tiết: * Tác phẩm có thể được chia thành bốn đoạn:

– Phần 1 (từ đầu đến tự đắc với mình) : Tràng đưa người vợ nhặt về nhà.

– Phần 2 (tiếp đến đẩy xe bò về): kể lại chuyện hai người gặp nhau và nên vợ nên chồng.

– Phần 3 (tiếp đến nước mắt chảy ròng ròng): Tình thương của người mẹ nghèo khó.

– Phần 4 (phần còn lại): niềm tin vào tương lai tươi sáng.

* Mạch truyện

Mạch truyện đã được dẫn dắt một cách tự nhiên, hợp logic, các cảnh trong truyện đều xuất phát từ tình huống anh Tràng lấy được vợ trong nạn đói khủng khiếp: giữa ngày đói kém, một anh cu Tràng “quá lứa”, “dở hơi” đưa một người đàn bà “rẻ rúng” về làm vợ. Mạch truyện bắt đầu từ đó: sự kiện khôi hài này tất yếu gây ra những lời bàn tán hài hước và xót xa; rồi màn bi – hài kịch diễn ra trong nhà cụ Tứ. Cuối cùng tác giả đã tìm được lối thoát cho truyện: giữa những âm thanh của tiếng trống thúc thuế, dồn người ta đến bước đường cùng, hình ảnh lá cờ Việt Minh và đoàn người phá kho thóc của Nhật trong câu chuyện mơ hồ và xa xôi (Nghe đâu tận Thái Nguyên, Bắc Giang) xuất hiện và ám ảnh trong đầu óc của Tràng.

Câu 2 Câu 2 (trang 33 SGK Ngữ văn 12 tập 2) Vì sao người dân xóm ngụ cư lại ngạc nhiên khi thấy Tràng đi cùng một người đàn bà lạ về nhà? Sự ngạc nhiên của các nhân vật trong truyện cho thấy nhà văn đã sáng tạo đưực tình huống truyện như thế nào? Tình huống đó có những tác dụng gì đối với nội dung, ý nghĩa của thiên truyện? Lời giải chi tiết: a. Người dân xóm ngụ cư và các nhân vật khác trong truyện như bà cụ Tứ, và cả bản thân Tràng đều đã ngạc nhiên vì Tràng có vợ giữa cảnh nạn đói đang đe dọa.

– Hoàn cảnh:

+ Tràng là một người có ngoại hình xấu, lời ăn tiếng nói cũng cộc cằn, thô kệch.

+ Gia cảnh của Tràng nghèo khổ, lại là dần xóm ngụ cư (không có ruộng đất). Nguy cơ ế vợ đã rõ. Gặp nạn đói khủng khiếp, cái chết đang đeo bám, mọi người đều nghĩ đến lấy gì mà ăn để sống qua ngày, thì đột nhiên Tràng lại lấy vợ. Trong cảnh đói, Tràng “nhặt” được vợ là “nhặt” thêm một miệng ăn, cũng đồng thời là nhặt thêm tai họa cho mình. Vì vậy, việc Tràng có vợ là một nghịch cảnh éo le, vui buồn lẫn lộn, cười ra nước mắt.

– Dân xóm ngụ cư ngạc nhiên, cùng bàn tán, phán đoán rồi cũng nghĩ: “Biết có nuôi nổi nhau sống qua cái thì này không?” và họ cũng im lặng.

– Bà cụ Tứ, mẹ Tràng lại càng ngạc nhiên hơn. Bà lão chẳng hiểu gì, rồi “cúi đầu im lặng” với nỗi lo riêng mà rất chung: “Biết chúng có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không?”.

– Bản thân Tràng cũng bất ngờ với chính hạnh phúc của mình. “Nhìn thị ngồi ngay giữa nhà đến bây giờ hắn vẫn còn đang ngờ ngợ”. Thậm chí sáng hôm sau Tràng vẫn chưa hết bàng hoàng.

b. Sự ngạc nhiên cho thấy tác giả đã xây dựng được một tình huống truyện độc đáo. Tình huống truyện mà Kim Lân xây dựng vừa bất ngờ, vừa nghịch lí nhưng cũng vừa có lí.

– Người nông dân trong nạn đói khủng khiếp năm 1945, hơn hai triệu người chết đói, cái giá của con người thật rẻ rúng, người ta có thể “nhặt” được vợ một cách dễ dàng.

– Thế nhưng họ vẫn khát khao có được tổ ấm gia đình, vẫn hi vọng vào tương lai, ngay cả lúc đói khát, cận kề cái chết.

c. Qua tình huống đó, tác phẩm thể hiện rõ giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo và giá trị nghệ thuật.

* Giá trị hiện thực: tố cáo tội ác thực dân, phát xít qua bức tranh xám xịt về thảm cảnh chết đói.

– “Nhặt vợ” là “nhặt” được hạnh phúc, nhưng khi nó không còn là hạnh phúc nữa mà trở thành cái khốn cùng của cuộc sống.

Cái đói quay quắt dồn đuổi đến mức người đàn bà chủ động gợi ý đòi ăn. Chỉ vì đói quá mà người đàn bà tội nghiệp này ăn luôn và “ăn liền một chặp bốn bát bánh đúc”. Chỉ cần vài lời nửa đùa nửa thật chị đã chấp nhận theo không Tràng. Giá trị con người bị phủ nhận khi chỉ vì cùng đường, đói khát mà phải trở nên trơ trẽn, liều lĩnh, bất chấp cả thẹn. Cái đói đã bóp méo cả nhân cách con người.

* Giá trị nhân đạo: Tình nhân ái, cưu mang đùm bọc nhau, khát vọng hướng tới sự sống và hạnh phúc…

Điều mà Kim Lân muốn nói là trong bối cảnh bi thảm, giá trị nhân bản không mất đi, con người vẫn cứ vươn lên để tiếp tục sống, đế sinh con đẻ cái, để hướng tới tương lai. Người đàn bà đi theo Tràng đã chạy trốn cái đói, cái chết để hướng đến sự sống. Bà cụ Tứ, một bà lão luôn nói đến chuyện tương lai, chuyện sung sướng về sau, nhen lên niềm hi vọng cho con. Đặc biệt là nhân vật Tràng, giữa cảnh chết đói, anh ta vẫn lấy vợ, vẫn nghĩ đến tương lai và hạnh phúc. Đúng như tác giả đã nói, đại ý: những người nghèo khổ, ngay bên cạnh cái chết, họ vẫn không ngừng tìm đến hạnh phúc.

Câu 3 Câu 3 (trang 133 SGK Ngữ văn 12 tập 2) Dựa vào nội dung truyện, hãy giải thích nhan đề Vợ nhặt. Qua tình huống trong truyện, hiểu gì về tình cảm và thân phận của người nông dân nghèo trong nạn đói 1945? Lời giải chi tiết:

+ Vợ là người quan trọng san sẻ cả cuộc đời với người đàn ông. Để có vợ, theo phong tục người ta phải tìm hiểu và cưới xin đường hoàng, trang trọng.

+ “Nhặt”: người ra chỉ nhặt được những thứ nhỏ bé, đánh rơi.

Câu 4 Câu 4 (trang 33 SGK Ngữ văn 12 tập 2) Cảm nhận về niềm khát khao tổ ấm gia đình của nhân vật Tràng, Kim Lân đã có những phát hiện tinh tế và sâu sắc như thế nào khi thể hiện niềm khát khao đó của nhân vật (lúc quyết định đế người đàn bà theo về, trên đường về xóm ngụ cư, buổi sáng đầu tiên có vợ,…). Lời giải chi tiết:

Niềm khát khao tổ ấm gia đình, cũng là khát khao hạnh phúc của nhân vật Tràng là khát khao mãnh liệt dẫu rất thô sơ, chất phác, hồn nhiên. Khát vọng đó đã vượt qua cả những nỗi lo âu, sợ hãi và toan tính trước nạn đói và trước cái chết.

– Khi quyết định cho người đàn bà theo về, Tràng cũng liều lĩnh tặc lưỡi: “Chậc, kệ”, cái tặc lưỡi của Tràng vừa là sự ngộ nghĩnh đơn sơ vừa mang được một nội dung tư tưởng: đó là thái độ mạnh mẽ và dứt khoát, dẫu rất bản năng và hài hước của một người lao động khốn khổ trước hai sự lựa chọn: hạnh phúc và nạn đói.

– Trên đường về xóm ngụ cư, Tràng không cúi xuống lầm lũi như mọi ngày mà “phởn phơ”, “vênh vênh ra điều”. Trong phút chốc, Tràng quên tất cả tăm tối, “chỉ còn tình nghĩa với người đàn bà đi bên” và cảm giác êm dịu của một anh Tràng lần đầu tiên đi cạnh cô vợ mới.

– Buổi sáng đầu tiên có vợ, Tràng biến đổi hẳn “Hắn thấy bây giờ hắn mới nên người”. Tràng thấy trách nhiệm và biết gắn bó với tổ ấm gia đình.

Sự sâu sắc của Kim Lân khi thể hiện niềm khát khao hạnh phúc của người nông dân khôn khổ là ở chỗ, ông đã cho ta thấy: người dân lao động, dẫu đứng trước cái chết vẫn luôn nghĩ tới cuộc sống và họ không ngừng tìm kiếm hạnh phúc. Đó là giá trị nhân bản sâu sắc nhất của thiên truyện.

Câu 5 Câu 5 (trang 33 SGK Ngữ văn 12 tập 2) Phân tích tâm trạng buồn vui lẫn lộn của bà cụ Tứ, qua đó anh chị hiểu gì về tấm lòng của bà mẹ nông dân này? Lời giải chi tiết:

– Ban đầu, bà cụ Tứ ngạc nhiên vô cùng.

– Khi hiểu ra chuyện: mừng, vui, xót, tủi. “Vừa ai oán, xừa xót thương cho số kiếp đứa con mình”. Đối với người đàn bà thì “lòng bà đầy xót thương”. Nén vào lòng tất cả, bà dang tay đón người đàn bà xa lạ làm con dâu mình: “ừ, thôi thì các con phải duyên, phải số với nhau, u cũng mừng lòng”.

– Bữa cơm đầu tiên đón nàng dâu mới, bà cụ Tứ đã nhen nhóm cho các con niềm tin, niềm hi vọng: “Tao tính khi nào có tiền mua lấy con gà về nuôi, chả mấy mà có đàn gà cho xem”.

Câu 6 Câu 6 (trang 33 SGK Ngữ văn 12 tập 2) Anh chị hãy nhận xét về nghệ thuật viết truyện của Kim Lân (cách kể chuyện, cách dựng cảnh, đối thoại, nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật, ngôn ngữ...). Lời giải chi tiết:

– Cách kể chuyện tự nhiên, lôi cuốn, hấp dẫn.

– Dựng cảnh chân thật, gây ấn tượng: cảnh chết đói, cảnh bữa cơm ngày đói…

– Miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế, tự nhiên, chân thật.

– Ngôn ngữ nhân vật phù hợp với tính cách và thực tế đời sống.

Luyện tập Câu 1 (trang 33 SGK Ngữ văn 12 tập 2) Đoạn văn nào, chi tiết nào của tác phẩm gây xúc động và để lại ấn tượng sâu sắc nhất cho anh chị? Vì sao?

+ Ví dụ: chi tiết nồi “chè khoán” → Một chi tiết nhỏ xuất hiện trong bữa cơm sáng đón nàng dâu mới ở cuối truyện nhưng có sức gợi, sức biểu đạt lớn:

* Thể hiện niềm vui tội nghiệp và tình yêu thương giản dị của bà mẹ lao động nghèo muốn chăm chút cho bữa ăn của gia đình.

* Thể hiện niềm lạc quan của người phụ nữ đã trải qua nhiều cay cực ở đời: “khối nhà còn chả có cám mà ăn đấy”.

* Vị đắng chát, nghẹn bứ của cháo cám là minh chứng cho hiện thực khốn cùng, đói khát của dân ta trong nạn đói 1945.

Câu 2 (trang 33 SGK Ngữ văn 12 tập 2) Phân tích ý nghĩa của đoạn kết thiên truyện.

– Đoạn kết là diễn biến tất yếu của mâu thuẫn nội tại của câu chuyện: người dân đang bị lâm vào cảnh chết đói còn nghe tiếng thống thúc thu thuế của chính quyền. Vì vậy, nhân vật như Tràng đã nghĩ đến lá cờ Việt Minh.

– Đoạn kết còn thể hiện tư tưởng nhân đạo mới – nhân đạo cộng sản chủ nghĩa. Tư tưởng này không chỉ có thương xót, cảm thông với nạn nhân của chế độ xã hội, mà còn hướng tới việc để cho nạn nhân đấu tranh tự giải phóng mình. Đó cũng là quan điểm của phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa (truyện được hoàn thành từ năm 1955, phân biệt với các tác phẩm hiện thực phê phán), theo đó các nhân vật, tính cách, hoàn cảnh… đều trong xu thế vận động đi lên, một sự vận động hướng tới tương lai tươi sáng hơn.

– Kết thúc mở, gợi ra cho người đọc nhiều liên tưởng, suy nghĩ.

chúng tôi Tóm tắt

Tràng là một người đàn ông nghèo khổ, cơ cực ở xóm ngụ cư. Một ngày kia, trong buổi chiều, trong không khí thê thảm, ảm đạm vì đói, Tràng dẫn về một người phụ nữ. Đó là vợ anh – người vợ nhặt. Tràng đã bắt gặp vợ tương lai của mình đang cảnh đói rách, mời ăn bốn bát bánh đúc kèm theo lời nói đùa vui. Bà mẹ già của Tràng đón nhận người đàn bà khốn khổ ấy làm con dâu trong mối đau đớn và thương cảm. Tràng cảm thấy con người mình đổi khác. Từ chút đùa đến thoáng lo, bây giờ Tràng thấy niềm vui thành người có trách nhiệm, dù đêm đầu tiên của đôi vợ chồng qua đi trong không khí khét lẹt mùi chết chóc và tiếng hờ khóc ai oán.

Bà mẹ nghèo đãi hai con ít cháo và nồi chè đặc biệt. Miếng cám chát bứ, nghẹn cổ nhưng Tràng vẫn cùng vợ hướng về một cuộc sống đổi khác. Trong óc anh hiện ra đám người đói phá kho thóc và lá cờ đỏ bay phất phới.

ND chính

Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân không chỉ miêu tả tình cảnh thê thảm của người nông dân nước ta trong nạn đói khủng khiếp năm 1945 mà còn thể hiện đưuọc bản chất tốt đẹp và sức sống kì diệu của họ: ngay trên bờ vực của chết, họ vẫn hướng về sự sống, khát khao tổ ấm gia đình và thương yêu, đùm bọc lẫn nhau

chúng tôi