Top 3 # Soạn Bài Truyện Kiều Lớp 10 Trang 92 Ngắn Nhất Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Maiphuongus.net

Soạn Bài Truyện Kiều Trang 92 Văn 10

1. Truyện Kiều thuộc thể loại truyện Nôm bác học. Truyện Nôm là tác phẩm tự sự dài, làm bằng văn vần tiếng Việt, ghi bằng chữ Nôm. Truyện Nôm ra đời vào thế kỉ XVI, XVII và phát triển mạnh mẽ ở thế kỉ XVIII; đến cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX thì sáng tác ít dần. Truyện Nôm lúc đầu có tác phẩm viết bằng thơ Đường luật nhưng càng về sau phổ biến là viết bằng thể thơ lục bát. Có hai loại truyện Nôm: truyện Nôm bình dân viết trên cơ sở chuyện kể dân gian và truyện Nôm bác học viết trên cơ sở cốt truyện có sẵn của văn học Trung Quốc ( Truyện Kiều thuộc loại này); có tác phẩm xây dựng theo cốt truyện hư cấu.

2. Truyện Kiều của Nguyễn Du – kiệt tác số một của dân tộc Việt Nam, di sản văn học của nhân loại, là một “tập đại thành” của truyền thống nghệ thuật, văn hoá Việt Nam, tiêu biểu cho cảm hứng nhân đạo chủ nghĩa, vừa là niềm thương cảm sâu sắc, là tấm lòng “nghĩ tới muôn đời”, vừa là thái độ nâng niu, vun vén cho những giá trị nhân bản cao đẹp của con người.

II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG

1.Tìm hiểu xuất xứ

Nguyễn Du viết Truyện Kiều dựa theo Kim Vân Kiều truyện, tiểu thuyết chương hồi cỡ nhỏ (gồm 20 hồi) của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc). Thời điểm sáng tác Truyện Kiều tuy chưa xác định được nhưng nhiều nhà khoa học phỏng đoán rằng, tác phẩm được sáng tác trong quá trình dài, bắt đầu từ thời gian “mười năm gió bụi” ở Thái Bình (1789), được hoàn thiện tiếp vào thời gian về Nghi Xuân (1796) cho đến khi Nguyễn Du ra làm quan dưới triều Nguyễn (1802).

2. Nhận xét về sự sáng tạo của Nguyễn Du

Truyện Kiều được Nguyễn Du đặt tên là Đoạn trường tân thanh, gồm 3254 câu thơ lục bát. Nguyễn Du đã biến một câu chuyện tình thành một khúc ca đau lòng thương người bạc mệnh, gián tiếp phản ánh những sự thực đáng buồn trong giai đoạn lịch sử cuối Lê, đầu Nguyễn, thể hiện lòng thương cảm vô hạn đối với con người, nhất là người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

Nguyễn Du đã lược bỏ các chi tiết về mưu mẹo, về sự báo oán tàn nhẫn và một số chi tiết dung tục trong tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân, thay đổi thứ tự kể và sáng tạo thêm một số chi tiết mới để tạo ra một thế giới nhân vật sống động như thật; biến các sự kiện chính của tác phẩm thành đối tượng để bộc lộ cảm xúc, tình cảm của nhân vật và người kể; chuyển trọng tâm của truyện từ việc kể sự kiện sang biểu hiện nội tâm nhân vật, làm cho các nhân vật sống hơn, sâu sắc hơn và tác phẩm trở thành một bách khoa thư của muôn vàn tâm trạng.

3. Nhận xét về nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nguyễn Du trong Truyện Kiều.

Truyện Kiều thể hiện một nghệ thuật xây dựng nhân vật sống động, vừa có nét điển hình, vừa có nét riêng rất nổi bật, đặc biệt là tâm lí nhân vật, chỉ cần một đôi lời cô đọng là làm lộ ngay thần thái của nó.

– Nhân vật trong tác phẩm được miêu tả cả ngoại hình và nội tâm. Nghệ thuật miêu tả của Nguyễn Du xứng đáng bậc thầy nên các nhân vật hiện ra sống động, rõ nét, như đứng tr­ước mặt độc giả.

– Về nhân vật chính diện: Nguyễn Du tả bằng bút pháp ­ước lệ, chọn những hình ảnh ­ước lệ tiêu biểu nhất để nhân vật có được nét cá thể không nhầm lẫn với các nhân vật ­ước lệ khác trong văn chương trung đại Việt Nam.

– Với nhân vật phản diện: Nguyễn Du dùng bút pháp tả thực để lột tả cho đầy đủ “cái xác phàm của chúng” (Nguyễn Đăng Mạnh).

– Với mỗi nhân vật dù là phản diện hay chính diện, Nguyễn Du thường tìm được nét thần thái của nhân vật để miêu tả, dù chỉ đôi dòng hay vài chữ mà lột tả được cả bản chất nhân vật.

4. Tìm hiểu bút pháp miêu tả nhân vật

Trong Truyện Kiều, khi miêu tả nhân vật chính diện, tác giả dùng hình ảnh ­ước lệ, khi miêu tả nhân vật phản diện, Nguyễn Du lại tả thực.

– Khi miêu tả nhân vật chính diện, Nguyễn Du dùng ­ước lệ vì những hình ảnh đó rất đẹp, phù hợp với tình cảm trân trọng và ngợi ca mà tác giả dành cho nhân vật. Nhân vật chính diện trong tác phẩm của ông vừa đẹp người, lại đẹp nết. Ví dụ, khi miêu tả Thuý Kiều, Thuý Vân, Kim Trọng, Từ Hải,…

– Khi miêu tả nhân vật phản diện, ông dùng bút pháp tả thực vì ngôn ngữ tả thực gần ngôn ngữ đời thường hơn, để “tả thực cái xác phàm của chúng” với những nét xấu xa về bản chất, như cách dùng từ của nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Đăng Mạnh, thì ngôn ngữ tả thực là phù hợp hơn cả. Ví dụ, khi miêu tả Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh,…

5. Tìm hiểu về nghệ thuật kể chuyện trong Truyện Kiều

Truyện Kiều là mẫu mực của nghệ thuật kể chuyện và trữ tình bằng thơ lục bát, với bút pháp trần thuật và giới thiệu nhân vật độc đáo, bút pháp miêu tả tinh tế; nhất là nghệ thuật trần thuật từ điểm nhìn nhân vật, làm cho sự việc, cảnh vật thấm đẫm cảm xúc và thế giới tình cảm của nhân vật được bộc lộ một cách trực tiếp.

Thể thơ lục bát được sử dụng hết sức điêu luyện, ­ưu thế của thể loại được vận dụng một cách tối đa nên đã đủ sức diễn tả nhiều sắc thái của cuộc sống và những biểu hiện tinh tế trong đời sống tâm hồn con người. Nhờ tài năng và vốn kiến thức sẵn có, Nguyễn Du đã thành công đặc biệt trong việc xây dựng được một tiểu thuyết bằng thơ lục bát, cả một thiên tiểu thuyết không một câu nào g­ượng ép. Vì thế, tác phẩm được đông đảo nhân dân yêu thích và sử dụng trong đời sống, làm lời hát ru, làm sách bói… Có người, dù vốn kiến thức hạn chế nhưng thuộc cả Truyện Kiều, thậm chí có nhiều trang còn thuộc ngư­ợc từ dưới lên…

6. Đặc sắc về nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ trong Truyện Kiều

Ngôn ngữ Truyện Kiều rất trong sáng. Trong tác phẩm có sự kết hợp nhuần nhuyễn ngôn ngữ bác học và ngôn ngữ bình dân. Những từ ngữ Hán Việt được sử dụng đều có chọn lọc với mức độ vừa phải, sử dụng hợp lí và đúng chỗ, đúng lúc. Bên cạnh đó, phần nhiều là lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân, là ca dao, tục ngữ, thành ngữ được vận dụng một cách nhuần nhị và khéo léo. Lời văn trong Truyện Kiều viết cách đây mấy trăm năm mà bây giờ đọc vẫn có cảm giác hiện đại. Ngôn ngữ dành cho nhân vật được cá thể hóa cao độ, lời nhân vật nào phù hợp nhân vật ấy, làm rõ thần thái nhân vật ấy, không thể lẫn lộn ngôn ngữ của nhân vật này với nhân vật khác dù cùng thuộc hệ thống nhân vật chính diện hoặc phản diện. Qua tác phẩm, Nguyễn Du đã làm cho ngôn ngữ dân tộc được nâng lên thành ngôn ngữ nghệ thuật, đủ sức diễn tả những biến thái của cảnh sắc thiên nhiên và những biểu hiện tinh tế trong tâm hồn con người.

7. Truyện Kiều là bài ca tình yêu tự do và ước mơ công lí

– Chủ đề ngợi ca tình yêu tự do được thể hiện tập trung ở mối tình giữa Thuý Kiều và Kim Trọng.

– Chủ đề ước mơ công lí được thể hiện tập trung ở hình tượng Từ Hải.

8. Truyện Kiều là tiếng khóc cho số phận con người: khóc cho tình yêu trong trắng, chân thành bị tan vỡ; khóc cho tình cốt nhục bị lìa tan; khóc cho nhân phẩm bị chà đạp; khóc cho thân xác con người bị đày đoạ.

9. Truyện Kiều là lời tố cáo mạnh mẽ, đanh thép: tố cáo thế lực đen tối trong xã hội phong kiến, phanh phui sức mạnh làm tha hoá con người của đồng tiền; bị ràng buộc bởi thế giới quan trung đại, Nguyễn Du tuy cũng lên án tạo hoá và số mệnh, nhưng bằng trực cảm nghệ sĩ, ông đã vạch ra đúng ai là kẻ chà đạp quyền sống của con người trong thực tế.

Soạn Bài: Truyện Kiều Trang 92 Sgk Ngữ Văn 10

Anh (chị) có nhận xét gì về cuộc đời Nguyễn Du? Điều đó có thể góp phần lí giải sáng tác của nhà thơ như thế nào! Trong đoạn trích Trao duyên có khái niệm “hiếu” cần hiểu khái niệm này theo quan niệm… …

Anh (chị) có nhận xét gì về cuộc đời Nguyễn Du? Điều đó có thể góp phần lí giải sáng tác của nhà thơ như thế nào!

KIẾN THỨC CƠ BẢN I. CUỘC ĐỜI

– Nguyễn Du, tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, sinh ngày 3/1/1766 (tức ngày 23/11/ năm Ất Đậu – 1765) mất ngày 18/9/1820 (tức 10/8 năm Canh Thin).

– Ảnh hưởng của gia đình và vãn hóa vùng miền đồi núi đối với sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Du:

+ Quê cha Hà Tĩnh, núi Hồng, sông Lam vùng đất địa linh nhân kiệt, nghèo khổ.

+ Quê mẹ Kinh Bắc hào hoa, cái nôi của dân ca quan họ.

+ Quê vợ đồng lúa Thái Bình, đặc trưng của Đồng bằng Bắc bộ.

+ Bản thân ông sinh ra ở Kinh thành Thăng Long nghìn năm văn hiến + Dòng dõi quan lại quý tộc, học vấn cao nổi tiếng, nhân dãn Hà Tĩnh đã có câu ca ngợi ca về dòng họ này: Bao giờ Ngàn Hống hết cây/ Sông Rum (sông Lam) hết nước, họ này hết quan.

Tất cả góp phần hun đúc nên con người, thiên tài vãn học Nsuvễn Du.

Nguyễn Du là một đại thi hào dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Cuộc đời Neuyễn Du trải qua nhiều thăm trầm trong một thời đại đầy biến động. Bi kịch cuộc đời đã hun đúc thiên tài, Nguyễn Du để lại một sự nghiệp văn chương với. giá trị hiện thực sâu sắc và giá trị nhân đạo lớn lao. Sáng tác của Nguyễn Du đạt đến trình độ nghệ thuật cổ điển, đặc biệt là Truyện Kiều.

– Cuộc đời Nguyễn Du trải qua nhiều thăng trầm, sống cuộc đời phiêu dạt, chìm nổi long đong. Hơn 10 năm gió bụi, sống gần nhân dàn, thấm thìa bao nỗi ấm lạnh kiếp người… Nguyễn Du đã khẳng định tư tưởng nhán đạo trong sáng tác của mình. Chính nỗi bất hạnh lớn đã làm nên một nhà nhân đạo chủ nghĩa vĩ đại.

– Những sáng tác của Nguyễn Du mang giá trị hiện thực với cái nhìn sâu sắc và giá trị nhân đạo và thế lực tác oai tặc quái ghê gớm của đồng tiền. Tác phẩm của Nguyễn Du thể hiện niềm quan tâm sâu sắc đến thân phận con người. Cảm hứng bao trùm là cảm hứng xót thương, đau đớn. Nguyễn Du gợi ca vẻ đẹp con người, trân trọng những khát vọng của họ, đặc biệt là khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc, tình yêu và công lí… Nguyễn Du được ca ngợi là người có “con mắt trông thấu sáu cõi” là “tấm lòng suy nghĩ nghìn đời”. Cho nên thơ của ông “như có máu thấm nơi đầu ngọn bút” Mộng Liên Đường chủ nhân.

– Sáng tác của Nguyễn Du đạt tới trình độ nghệ thuật bậc thầy của văn chương trung đại Việt Nam. Thơ chữ Hán của Nguyễn Du giản dị mà tinh luyện, tài hoa. Thơ Nôm của ông, đặc biệt là Truyện Kiều là đỉnh cao rực rỡ của vãn học tiếng Việt. Nguyễn Du đóng góp lớn cho sự phát triển giàu đẹp của ngôn ngữ văn học dân tộc.

II. SỰ NGHIỆP VĂN HỌC

1. Sáng tác chính a. Sáng tác bằng chữ Hán

– 249 bài, ba tập thơ: Thanh Hiên thi tập (78 bài) viết trước khi làm quan với triều đình nhà Nguyễn, Nam trung tạp ngâm (40 bài) viết thời làm quan ở Huế, Quảng Bình, Bắc hành tạp lục (131 bài) viết trong thời gian đi sứ Trung Quốc.

-Nội dung của những tập thơ chủ yếu là phê phán chế độ phong kiến chà đạp lên quyền sống của con người. Ca ngợi, đồng cảm với những người anh hùng, người nghệ sĩ tài hoa, cao thượng. Ông cũng bày tỏ sự cảm thông với những thân phận nghèo khổ, người phụ nữ tài hoa bạc mệnh.

b. Sáng tác thơ chữ Nôm.

– Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh; 3254 câu thơ lục bát). Nội dung được mô phỏng từ tiểu thuyết chương hồi chữ Hán Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân

– Văn Chiêu hồn (Văn tế thập loại chúng sinh) viết bằng thơ song thất lục bát, thể hiện tấm lòng nhân ái mênh mang của người nghệ sĩ hướng tới những linh hồn bơ vơ không nơi nương tựa, nhất là người phụ nữ và trẻ em trong ngày lễ Vu lan rằm tháng bảy hàng năm ở Việt Nam.

2. Đặc điểm nội dung và nghệ thuật thơ văn Nguyễn Du a. Đặc điểm nội dung

– Thơ ông không phải chủ yếu nói đến cái chí của người quân tử mà thể hiện tình cảm chân thành, cảm thông sâu sắc của tác giả đối với cuộc sống của con người, đặc biệt là những con người nhỏ bé, những số phận bất hạnh.

– Khái quát được bản chất tàn bạo của xã hội phong kiến, bọn vua chúa quan lại chà đạp lên quyền sống của con người.

– Là người đầu tiên trong văn học trung đại đặt vấn đề về những người phụ nữ hồng nhan bạc mệnh với cái nhìn xuất phát từ tấm lòng nhân đạo sâu sắc.

– Đề cao quyền sống cụa con người, đồng cảm và ca ngợi tình yêu lứa đôi, tự do, khát vọng và hạnh phúc của con người.

b. Đặc sắc nghệ thuật

– Học vấn uyên bác, thành công trong nhiều thể loại thơ ca: ngũ ngôn, thất ngôn, ca, hành.

– Thơ lục bát, song thất lục bát chữ Nôm đến tuyệt đỉnh thi ca trung đại.

– Tinh hoa ngôn ngữ bình dân và bác học Việt đã kết tụ nơi thiên tài Nguyễn Du – Nhà phân tích tâm lí bậc nhất của thơ lục bát, song thất lục bát.

HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI CÂU HỎI Câu 1. Anh (chị) có nhận xét gì v ề cuộc đời Nguyễn Du? Điều đó có th ể góp phần lí giải sáng tác của nhà thơ như thế nào!

– Nguyễn Du xuất thân trong một gia đình đại quý tộc có nhiều đời và nhiều người làm quan to (cha Nguyễn Du làm tới chức Tể tướng), có truyền thống học vấn uyên bác. Nguyễn Du đã thừa hưởng được ở gia đình, dòng họ trí tuệ và truyền thống ấy.

– Cuộc đời Nguyễn Du trải qua nhiều thăng trầm trong một thời đại đầy biến động. Lên 10 tuổi, Nguyễn Du mồ côi cha lẫn mẹ. Nhà Lê sụp đổ (1789), Nguyễn Du sống cuộc đời phiêu dạt, chìm nổi long đong. Hơn 10 năm gió bụi, sống gần nhân dân, thấm thìa bao nỗi ấm lạnh kiếp người. Nguyễn Du đã khẳng định tư tưởng nhân đạo trong sáng tác của mình. Chính nỗi bất hạnh lớn đã làm nên một nhà nhân đạo chủ nghĩa vĩ đại.

– Làm quan cho nhà Nguyễn (1802), được phong tới chức Học sĩ điện Cần Chánh, được cử làm chánh sứ Trung Quốc… Nhưng Nguyên Du ít nói, lúc nào cần thầm lặng, ưu tư, tư tưởng của Nguyễn Du có mâu thuản phức tạp nhưng đó là sự phức tạp của một thiên tài đứng giữa một giai đoạn lịch sử đầy bi kịch. Những phức tạp trong tư tường Nguyên Du phán nào được ông thể hiện trong những sáng tác của mình.

– Cuộc đời Nguyễn Du trải qua nhiều thăng trầm trong một thời đại đầy biến động. Bi kịch cuộc đời đã hun đúc thiên tài, Nguyễn Du để lại một sự nghiệp văn chương vói giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo lớn lao.

Câu 2. Cho biết các sáng tác chính của Nguyễn Du và đặc điểm chủ yếu của chúng.

a. Những súng tác của Nguyễn Du gồm

– Ba tập thơ chữ Hán:

+ Thanh hiên thi tập (viết trong khoảng 10 năm gió bụi ở đất Bắc)

+ Nam trung tập ngâm (Viết trong khoảng thời gian làm quan nhà Nguyễn).

+ Bắc hành tạp lục (Viết trong thời gian đi sứ ở Trung Quốc)

– Thơ chữ Nôm:

+ Đoạn trường tân thanh (Truyện Kiều), một tác phẩm bằng thơ lục bát dài 3254 câu, được viết trong một thời gian dài, một kiệt tác của văn học Việt Nam.

+ Văn tế thập loại chúng sinh (Vãn chiêu hồn), một kiệt tác viết theo thể song thất lục bát dài 184 câu.

Ngoài ra còn một số sáng tác khác.

b. Giá trị tư tưởng trong sáng tác của Nguyễn Du

– Giá trị hiện thực: Phản ánh hiện thực xã hội với cái nhìn sâu sắc

Thơ chữ Hán của Nguyễn Du phản ánh thực tế đời sống, cảnh đói cơm rách áo của bản thân, sự đối lập giàu nghèo… (Sở kiến hành, Phản chiêu hồn) Truyện Kiều là một bản cáo trạng đanh thép tố cáo sự bất nhân của bọn quan lại và thế lực tác oai tác quái ghê tởm của đồng tiền. Văn tế thập loại chúng sinh phản ánh cuộc sống khốn khổ của những con người “dưới đáy” xã hội

– Giá trị nhân đạo:

+ Niềm quan tâm sâu sắc đến thân phận con người (Truyện Kiều, Độc Tiểu Thanh kí, Sở Kiến hành, Văn chiêu hồn…). Cảm hứng bao trùm là cảm hứng xót thương, đau đớn.

+ Ngợi ca vẻ đẹp con người, trân trọng những khát khao của họ, đặc biệt là khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc, tình yêu, công lí… Nguyễn Du đã vượt qua một số ràng buộc của ý thức hệ phong kiến và tôn giáo để vươn tới khẳng định giá trị tự thân của con người.

Tác phẩm của Nguyễn Du đã đạt đến tầm của tiếng nói “hiểu đời” (Cao Bá Quát). Nguyễn Du có “con mắt trông thâu sáu cõi và tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời” (Mộng Liên Đường chủ nhân).

c. Giá trị nghệ thuật trong sáng tác của Nguyễn Du

– Thơ chữ Hán của Nguyễn Du giản dị mà tinh tế, tài hoa.

– Thơ Nôm Nguyễn Du là đỉnh cao rực rỡ. Nguyễn Du sử dụng tài tình hai thể thơ dân tộc (lục bát và song thất lục bát)

Truyện Kiều của Nguyễn Du được nâng lên hàng tiểu thuyết thàrh thơ, Nguyễn Du có công đổi mới nghệ thuật truyện Nôm: nghệ thuật tự sự miêu tả tâm lí nhân vật, tả cảnh tả tình đều tài hoa.

– Nguyễn Du đóng góp lớn cho sự phát triển giàu đẹp của ngôn ngữ vãn học tiếng Việt, câu thơ tiếng Việt trang nhã, diễm lệ nhờ vần luật chinh tề, ngắt nhịp đa dạng, tiểu đối phong phú hóa, vận dụng các phép tu từ đạt hiệu quả nghệ thuật cao.

Cho thuê phòng trọ Cho thuê phòng trọ hà nội Cho thuê phòng quận 7 Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ

Soạn Bài Truyện Kiều (Ngắn Gọn)

Câu 1: Những nét chính về thời đại, gia đình, cuộc đời Nguyễn Du:

Gia đình

Nguyễn Du (1765 – 1820) tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên quê ở Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh.

Gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan và có truyền thống về văn học: cha là Nguyễn Nhiễm, đỗ tiến sĩ, từng giữ chức Tể tướng; anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản từng làm quan to dưới triều Lê – Trịnh. Nhưng sớm mồ côi cha mẹ (mồ côi cha từ năm 9 tuổi, mồ côi mẹ từ năm 12 tuổi). Hoàn cảnh gia đình cũng có tác động đến sáng tác của Nguyễn Du.

Thời đại:

Cuộc đời Nguyễn Du gắn bó sâu sắc với những biến cố lịch sử của giai đoạn cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX. Các tập đoàn phong kiến Lê – Trịnh – Nguyễn tranh giành quyền lực

Chế độ phong kiến Việt Nam khủng hoảng trầm trọng, xã hội rối ren, cuộc sống của nhân dân cơ cực, lầm tham.

Phong trào khởi nghĩa diễn ra khắp nơi, tiêu biểu nhất chính là khởi nghĩa Tây Sơn do Quang Trung Nguyễn Huệ lãnh đạo.

Nghĩa quân Tây Sơn đã đánh đổ tập đoàn phong kiến Trịnh, Lê, Nguyễn, quét sạch hai mươi vạn quân xâm lược nhà Thanh sang xâm lược.

Cuộc đời:

Nguyễn Du đã phải sống phiêu bạt nhiều năm ở đất Bắc (1786-1796) rồi sau đó về ở ẩn ở Hà Tĩnh (1796-1802).

Nguyễn Ánh lên ngôi mời ông ra làm quan, bất đắc dĩ ông phải nhận lời (1802). Ông từng được cử làm chánh sứ sang Trung Quốc, chuẩn bị đi lần thứ hai thì bị bệnh mất ở Huế.

Cuộc đời phiêu bạt: sống phiêu bạt nhiều nơi trên đất Bắc, ở ẩn ở Hà Tĩnh, làm quan dưới triều Nguyễn, đi sứ Trung Quốc… Vốn hiểu biết sâu rộng, phong phú về cuộc sống của Nguyễn Du có phần do chính cuộc đời phiêu bạt, trải nghiệm nhiều tạo thành.

Sự nghiệp văn học:

Nguyễn Du sáng tác bằng chữ Hán và chữ Nôm.

Thơ chữ Hán gồm 3 tập: Thanh Hiên thi tập, Bắc Hành tạp lục, Nam trung tạp ngâm 243 bài.

Sáng tác chữ Nôm xuất sắc nhất là Đoạn trường tân thanh (Truyện Kiều).

Câu 2: Tóm tắt “Truyện Kiều” của Nguyễn Du theo ba phần

Thúy Kiều, nhân vật chính trong Truyện Kiều, một cô gái tài sắc vẹn toàn, có tâm hồn cao thượng. Nhận dịp du xuân, nàng gặp Kim Trọng, một thanh niên hào hoa phong nhã. Hai người yêu nhau và cùng nhau thề nguyền thủy chung. Nhưng tai họa bất ngờ ập đến với Kiều. Gia đình bị nạn. Kiều tự nguyện bán mình chuộc cha.

Bị bọn Mã Giám Sinh và Tú Bà đưa vào lầu xanh. Kiều định tự tử để thoát khỏi cảnh ô nhục nhưng không được. Sau lần mắc mưu Sở Khanh đi trốn bị bắt lại, bị đánh đập tàn nhẫn, nàng đành chịu tiếp khách. Ít lâu sau, Kiều được Thúc Sinh – một kẻ giàu có say mê nàng, chuộc nàng về làm vợ lẽ. Nhưng chưa được một năm Kiều lại bị Hoạn Thư, vợ cả của Thúc Sinh, bày mưu bắt về hành hạ. Nàng bị bắt làm con ở hầu rượu gãy đàn mua vui cho vợ chồng ả. Khổ nhục quá, Kiều bỏ trốn khỏi nhà Hoạn Thư nhưng lại lọt vào một lầu xanh khác. Ở đây, nàng gặp Từ Hải và trở thành vợ người anh hùng này. Phất cờ khởi nghĩa, hùng cứ một phương, Từ Hải giúp Kiều báo ân báo oán. Nhưng cũng chẳng bao lâu, Kiều bị mắc lừa Hồ Tôn Hiến, nàng khuyên Từ Hải ra hàng phục triều đình, Từ Hải bị phản bội và chết đứng. Kiều bị làm nhục và bị ép gả cho một viên thổ quan. Đau xót và tủi nhục, nàng đã tự tử ở sông Tiền Đường nhưng lại được sư Giác Duyên cứu sống.

Kim Trọng và gia đình Thúy Kiều đi tìm. Sau mười lăm năm trời lưu lạc, Kiều trở lại sum họp với gia đình. Nàng từ chối không chắp nối mối duyên xưa cùng Kim Trọng mà họ trở thành bạn bè để giữ tình cảm cho được trong sáng và đẹp đẽ.

chúng tôi

Soạn Bài Mã Giám Sinh Mua Kiều (Trích Truyện Kiều) Ngắn Nhất

Tài liệu soạn bài Mã Giám Sinh mua Kiều được Đọc Tài Liệu biên soạn sẽ giúp các bạn nắm vững lại các kiến thức quan trọng và hướng dẫn chi tiết trả lời các câu hỏi tại trang 99 sách giáo khoa Ngữ văn 9 tập 1.

Cùng tham khảo… Hướng dẫn trả lời 3 câu hỏi phần Đọc – Hiểu văn bản trang 99 sách giáo khoa Ngữ văn 9 tập 1. 1 – Trang 99 SGK

I. Hướng dẫn soạn bài Mã Giám Sinh mua Kiều chi tiết

Trả lời

Phân tích những nét về ngoại hình và tính cách để làm nổi bật bản chất xấu xa của Mã Giám Sinh.

Mã Giám Sinh là điển hình của loại con buôn lưu manh với tính chất giả dối, bất nhân và vì tiền.

– Giả dối từ lai lịch xuất thân mù mờ: Giới thiệu là khách phương xa (viễn khách) mà lại xưng quê cũng gần. Đến tướng mạo, tính danh cũng giả dối, tuổi tác đã nhiều nhưng lại cố tô vẽ cho trẻ (mày râu nhẵn nhụi), ra vẻ thư sinh phong lưu lịch sự (áo quần bảnh bao) mà trước thầy, sau tớ lao xao, láo nháo, ô hợp.

– Từ bộ mặt đến cách ăn mặc thiếu tự nhiên, trơ trẽn, trai lơ, phong tình.

+ Ghế trên ngồi tót sỗ sàng. + Đắn đo cân sắc cân tài. + Ép cung cầm nguyệt thử bài quạt thơ.

– Cử chỉ, hành động cộc cằn, thô lỗ, cách nói năng nhát gừng, cộc lốc, vô học

– Bản chất bất nhân, vì tiền của Mã Giám Sinh bộc lộ qua cảnh mua bán Thúy Kiều. Bất nhân trong hành động, trong thái độ đối xử với Kiều: xem nàng như một đồ vật đem bán, cân đong, đo đếm cả nhan sắc và tài năng: ” Đắn đo cân sắc, cân tài“. Bất nhân trong tâm lí lạnh lùng, vô cảm trước gia cảnh của Kiều và tâm lý mãn nguyện, hợm hĩnh: ” Tiền lưng đã sắn việc gì chẳng xong “.

Bản chất vì tiền trong hành động mặc cả keo kiệt, đê tiện: ” Cò kè bớt một thêm hai“. Nếu trước đó, khi giành ” ghế trên“, Mã vội vàng ” ngồi tót” thì lúc mua Kiều, hắn lại hết sức chậm rãi, tính toán chi li, hết ” đắn đo“, hết ” thử tài” lại ” cò kè“, ” thêm“, ” bớt“. Câu thơ: ” Cò kè bớt một thêm hai ” gợi cảnh kẻ mua người bán đưa đẩy món hàng, túi tiền được cởi ra, thắt vào, nâng lên, đặt xuống.

2 – Trang 99 SGK

Tham khảo thêm một số bài văn Phân tích nhân vật Mã Giám Sinh

Trả lời

Cảm nhận của em về hình ảnh Thuý Kiều ?

Kiều thật đáng thương vì đã âm thầm tự nguyện hi sinh chữ tình cho chữ hiếu: ” liều đem tấc cỏ quyết đền ba xuân “. Nàng gạt bao nước mắt khi đã cắt đứt với Kim Trọng, rồi rời bỏ gia đình ấm êm, chịu những cảnh thương tâm.

Thúy Kiều tội nghiệp vì nàng là một món hàng đem bán và càng tội nghiệp hơn khi nàng ý thức được nhân phẩm. Là một món hàng, Kiều buồn rầu, tủi hổ, sượng sùng trong bước đi ” ngại ngùng“, ê chề trong cảm giác ” thẹn” trước hoa và ” mặt dày” trước gương.

Là một người ý thức được nhân phẩm, Kiều đau uất trước cảnh đời ngang trái, đau đớn khi nghĩ tới ” nỗi mình” tình duyên dang dở, uất ức bởi ” nỗi nhà” bị vu oan giá họa. Bao trùm tâm trạng Kiều là sự đau đớn, tái tê: ” Thềm hoa một bước, lệ hoa mấy hàng “.

Trả lời

Tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du thể hiện qua đoạn trích.

– Tác giả tỏ thái độ khinh bỉ và căm phẫn sâu sắc bọn buôn người của Nguyễn Du thể hiện qua cách tác giả miêu tả Mã Giám Sinh với cái nhìn mỉa mai, châm biếm.

+ Áo quần bảnh bao là áo quần trưng diện, cũng thiếu tự nhiên. ” Hai chữ “bảnh bao” thường dùng để khen áo quần trẻ em chứ ít dùng cho người lớn” – (Trần Đình Sử), Sự đả kích ngầm càng sâu cay hơn khi một người đã ” trạc ngoại tứ tuần” lại tỉa tót công phu, cố tô vẽ cho mình ra dáng trẻ. Hành động của Mã Giám Sinh khi gật gù tán thưởng món hàng: ” Mặn nồng một vẻ một ưa” chẳng khác gì cử chỉ đê tiện ” lẩm nhẩm gật đầu ” của Sở Khanh sau này.

Thái độ của Nguyễn Du tố cáo thế lực đồng tiền chà đạp lên con người thể hiện qua lời nhận xét: ” Tiền lưng đã sẵn việc gì chẳng xong “. Lời nhận xét có vẻ khách quan nhưng chứa đựng trong đó cả sự chua xót, căm phẫn. Đồng tiền biến nhan sắc thành món hàng, tủi nhục, biến kẻ táng tận lương tâm thành kẻ mãn nguyện, tự đắc. Thế lực đồng tiền cùng với thế lực lưu manh, thế lực quan lại đã vào hùa với nhau tàn phá gia đình Kiều, tàn phá cuộc đời Kiều.

II.Soạn bài Mã Giám Sinh mua Kiều ngắn nhất

Bản chất xấu xa của Mã Giám Sinh :

– Ngoại hình: Lai lịch mập mờ, không rõ ràng. Diện mạo chải chuốt, thái quá đến lố bịch Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao không phù hợp với độ tuổi ngoài 40.

– Hành động : nói năng cộc lốc, nhát gừng ; hành động thô lỗ ngồi tót sỗ sàng, đắn đo trả giá, vô học, coi con người như món hàng, cò kè trả giá.

– Tính cách : bản chất con buôn, bất nhân, keo kiệt, lọc lõi lão luyện, giả dối.

Hình ảnh Thúy Kiều :

– Tình cảnh tội nghiệp : gia đình bị vu oan, Kiều hi sinh mối tình đầu, nàng phải bán mình cứu cha.

– Nỗi đau đớn, tái tê : Thềm hoa một bước lệ hoa mấy hàng / Nét buồn như cúc điệu gầy như mai → nỗi đau đến tột cùng ; Trong lòng ngổn ngang, tình duyên đứt đoạn, chưa yên lòng với gia đình, lo lắng về số phận sắp tới.

Tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du :

– Cảm thương, xót xa trước những thân phận nhỏ nhoi, giá trị con người bị chà đạp.

– Vạch trần và lên án xã hội đen tối, thế lực và đồng tiền lộng hành đẩy con người vào dòng đời đau khổ. Căm phẫn, khinh bỉ trước bọn buôn người giả dối, bất nhân.

III. Kiến thức cơ bản

– Gia đình Kiều bị vu oan, Vương Ông và Vương Quan bị bọn sai nha bắt bớ, đánh đập tàn nhẫn. Thúy Kiều vì hiếu phải phụ tình, quyết định bán mình chuộc cha. Mã Giám Sinh đánh tiếng cưới Thúy Kiều về làm thiếp, kì thực là mua nàng về thanh lâu. Đoạn thơ này tả cảnh Mã Giám Sinh đến mua Kiều, gồm 34 câu thơ.

– Đoạn trích này thuộc phần hai của Truyện Kiều, là đoạn mở đầu cho kiếp đoạn trường của người con gái tài sắc Thúy Kiều.

Bằng việc miêu tả ngoại hình, cử chỉ và ngôn ngữ đối thoại để khắc hoạ tính cách nhân vật, tác giả đã bóc trần bản chất xấu xa, đê tiện của Mã Giám Sinh, qua đó l ên án những thế lực tàn bạo chà đạp lên sắc tài và nhân phẩm của người phụ nữ.

[ĐỪNG SAO CHÉP] – Bài viết này chúng tôi chia sẻ với mong muốn giúp các bạn tham khảo, góp phần giúp cho bạn có thể để tự soạn bài Mã Giám Sinh mua Kiều một cách tốt nhất. “Trong cách học, phải lấy tự học làm cố” – Chỉ khi bạn TỰ LÀM mới giúp bạn HIỂU HƠN VỀ BÀI HỌC và LUÔN ĐẠT ĐƯỢC KẾT QUẢ CAO.