Top #10 Soạn Bài Nguyễn Đình Chiểu Lớp 12 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 8/2022 # Top Trend | Maiphuongus.net

Soạn Bài Nguyễn Đình Chiểu

--- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài: Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm)
  • Soạn Bài Nhàn ( Nguyễn Bỉnh Khiêm )
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Nhàn
  • Soạn Văn Bài: Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm)
  • Soạn Bài Nhàn (Ngắn Gọn)
  • [Văn mẫu lớp 12] – Anh chị hãy soạn bài Nguyễn Đình Chiểu – Ngôi sao sáng văn nghệ của dân tộc của Phạm Văn Đồng

    Đề bài: Anh chị hãy soạn bài “Nguyễn Đình Chiểu – Ngôi sao sáng văn nghệ của dân tộc” của Phạm Văn Đồng

    – Phạm Văn Đồng ( 1906 – 2000), quê ở Quãng Ngãi

    – Là một nhà cách mạng lỗi lac. Tham gia các hoạt động cách mạng khi chưa đầy 20 tuổi. Bị thực dân Pháp bắt và đày ra Côn Đảo. Là 1 trong những học trò xuất sắc của chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông còn là một nhà giáo dục tâm huyết, một nhà lí luận văn hóa văn nghệ lớn.

    1) Hoàn cảnh ra đời

    – Được viết nhân kỉ niệm 75 năm ngày mất của (đồng chí, nhà văn) Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đăng trên tạp chí văn học vào tháng 7 năm 1963

    – Thời điểm này có nhiều sự kiện quan trọng: từ năm 1954 đến năm 1959 Ngô Đình Diệm và chính qyền Sài Gòn thực hiện luật 10/59 lê máy chém khắp miền Nam khủng bố cách mạng, đầu những năm 60, Mĩ bắt đầu can thiệp sâu hơn vào Việt Nam. Trước tình hình đó hàng loạt các phong trào đấu tranh chống Mĩ của nhân dân miền Nam nổi lên

    – Chủ đề: Tác giả khẳng định cuộc đời của cụ Đồ Chiểu là cuộc đời của một chiến sĩ đã phấn đấu hết mình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, trọn đời dùng ngòi bút làm vũ khí chiến đấu cho dân , cho nước.

    + “Lúc này” : 1963 – Phong trào đấu tranh chống Mỹ Ngụy của nhân dân miền Nam đang sục sôi

    – Nghệ thuật Ẩn dụ: “Trên trời có những vì sao… Nguyễn Đình Chiểu cũng vậy”

    – “Ánh sáng khác thường, nhìn chăm chú, càng nhìn càng thấy sáng”: Đó là 1 hiện tượng độc đáo và có những vẻ đẹp riêng không dễ nhận ra, phải chăm chú nhìn mới thấy tức là phải cố gắng tìm hiểu nghiên cứu thì mới cảm nhận được vẻ đẹp của nó. “Càng nhìn càng sáng”càng nghiên cứu càng tìm hiểu kĩ ta sẽ thấy được cái hay và đẹp của nó

    – Tác giả nêu ra 2 lí do khiến cho ngôi sao Nguyễn Đình Chiểu chưa sáng được:

    + Nhiều người chỉ biết Nguyễn Đình Chiểu là tác giả của truyện thơ Lục Vân Tiên và hiểu tác phẩm này khá thiên lệch về nội dung và nghệ thuật.

    + Người đọc biết rất ít về thơ văn yêu nước, một bộ phận giới trẻ trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu.

    * Con người và quan niệm sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu

    + Sinh ra trên đất Đồng Nai hào phóng

    + Triều đình nhà Mỹ cam chịu mất nước, nhân dân khắp nơi đứng lên đánh Mỹ cứu nước.

    + Vì mù nhưng Nguyễn Đình Chiểu vẫn dùng ngòi bút để phục vụ chiến đấu

    + Thơ văn của ông ghi lại 1 thời kì khổ nhục nhưng vĩ đại của dân tộc

    – Quan niệm sáng tác:

    + Thơ chiến đấu đánh thẳng vào giặc

    + Cầm bút viết văn là 1 thiên chức nên ông khinh miệt những người lợi dụng thơ văn để làm việc phi nghĩa.

    * Nội dung thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu

    – Nêu bối cảnh thời đại Nguyễn Đình Chiểu cầm bút “khổ cực nhưng vĩ đại”

    + 6 tỉnh miền Đông, Tây đều vắ cho giặc

    + Các cuộc đấu tranh nổi lên khắp nơi

    – Nêu nội dung chính trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu

    + Là tấm gương phản chiếu thời đại, cho nên sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu là ngợi ca những người nghĩa sĩ nông dân dũng cảm bỏ mình vì dân vì nước.

    + Thơ văn mang tính chiến đấu

    + So sánh “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” “Bình Ngô Đại Cáo” của Nguyễn Trãi

    + Đặt văn Nguyễn Đình Chiểu trong thời kì kháng chiến chống Pháp cùng với các tên tuổi

    – Nguyên nhân tác phẩm trở thành lớn nhất của Nguyễn Đình Chiểu

    + Ca ngợi về chính nghĩa và trung nghĩa

    – Tác phẩm cũng có nhiều hạn chế

    + Tác giả thừa nhận trong tác phẩm có chỗ “lời văn không hay lắm”

    + Khẳng định bằng những lí lẽ và dẫn chứng xác thực

    – Lối kể chuyện nôm na, dễ nhớ, dễ truyền bá trong nhân gian

    III – Tổng kết

    – Khẳng định về vẻ đẹp nhân cách và vị trí của Nguyễn Đình Chiểu trong nền văn học của dân tộc

    – Nhấn mạnh ý nghĩa và giả trị to lớn của cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Nguyễn Đình Chiểu

    , đó là bài học của mỗi con người.

    – Phạm Văn Đồng đã khẳng định Nguyễn Đình Chiểu là 1 nhà thơ yêu nước, là lá cờ đầu của thơ văn yêu nước, là người nêu cao sứ mạng của chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng

    – Biện pháp Ẩn dụ khẳng định tài năng và tấm lòng yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Nguyễn Đình Chiểu, Ngôi Sao Sáng Trong Văn Nghệ Của Dân Tộc Lớp 12
  • Soạn Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Của Nguyễn Đình Chiểu
  • Giới Thiệu Về Tác Giả Nguyễn Đình Chiểu Ngữ Văn 11
  • Giới Thiệu Về Tác Giả Nguyễn Đình Chiểu, Tác Giả Của Truyện Lục Vân Tiên
  • Giới Thiệu Về Tác Giả Nguyễn Đình Chiểu
  • Soạn Bài Nguyễn Đình Chiểu Văn Lớp 11

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
  • Soạn Bài Nguyễn Đình Chiểu Ngôi Sao Sáng Trong Văn Nghệ Dân Tộc
  • Soạn Bài Nguyễn Đình Chiểu, Ngôi Sao Sáng Trong Văn Nghệ Của Dân Tộc (Chi Tiết)
  • Soạn Bài Nguyễn Đình Chiểu Ngôi Sao Sáng Trong Văn Nghệ Của Dân Tộc
  • Soạn Bài Nguyễn Đình Chiểu, Ngôi Sao Sáng Trong Văn Nghệ Của Dân Tộc Sbt Ngữ Văn 12 Tập 1
  • Đề bài: Soạn bài Nguyễn đình chiểu văn lớp 11

    Nguyễn Đình Chiểu sinh năm 1822, mất năm 1888. Tự là Mạch trạch, hiệu là Trọng Phủ, sau này bị mù thì ông đã đổi thành Hối Trai, tức là cái phòng tối.

    Ông xuất thân trong một gia đình nhà nho, năm 1843 ông đỗ tú tài, vào năm 1846 ông ra Huế học chuẩn bị thi tiếp một kì thi nữa. Tuy nhiên, chuẩn bị thi thì ông hay tin mẹ đã qua đời. Không chịu được cảnh đau thương mất đi người thân cho nên ông đã bỏ thi và quay về chịu tang mẹ, trên đường về vì khóc nhiều cho nên đau mắt nặng, từ đó bị mù.

    Tưởng rằng bị mù mắt thì cuộc đời ông vô nghĩa nhưng ông lại mở trường dạy học, làm nghề thầy thuốc chữa bệnh cho người dân. Năm 1859, thực dân Pháp đánh chiếm Gia đinh, ông đã cùng những người yêu nước bàn mưu tính kế đánh chúng, trong thời gian này ông cũng tích cực sáng tác thơ yêu nước cùng lòng căm thù giặc.

    1. Những tác phẩm chính

    Trước khi thực dân Pháp xâm lược: ông chủ yếu viết về những tác phẩm truyền bá về đạo đức luân lí ở đời và đó chính là hai tác phẩm nổi tiếng: truyện thơ Lục Vân Tiên và Dương hà từ Mậu

    Sau khi thực dân Pháp xâm lược thì ngòi bút lại hướng về những đề tài yêu nước, ca ngợi những con người kiên trung bất khuất vì đất nước: văn tế nghĩa sĩ Cần giuộc, chạy giặc, văn tế Trương Định…

    2. Nội dung

    a. Lý tưởng đạo đức nhân nghĩa

    + Tác phẩm tiêu biểu cho nội dung này là Lục Vân Tiên.

    + Qua đây nhà thơ muốn truyền đại tới người đời về đạo lý ở đời, đó là tấm lòng kính mẹ, chung thủy trong tình yêu, là sự chính chắn, cương trực và nhân hậu của một con người.

    + Đặc điểm đạo đức luân lí của ông mang đậm tinh thần nho học “Trai thời trung hiếu làm đầu – Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình”. Người nam nhi ở trên đời phải sống có trung với vua, hiếu với cha mẹ, còn người con gái phải giữ tiết hạnh làm đầu, không có tiết hạnh thì không thể làm tròn bổn phận của người con gái được.

    b. Lòng yêu nước thương dân

    – Tác giả không ngần ngại khi viết về thực trạng đau thương trong chiến tranh cùng những tội ác mà thực dân Pháp gây ra cho nhân dân ta.

    – Không những vậy, ông còn tập trung vào ghi nhận những công lao to lớn của người dân trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Đó là những người nông dân Cần giuộc chọn cách sống thà chết vinh còn hơn sống nhục.

    – Cỗ vũ tinh thần của nhân dân cả nước

    c. Nghệ thuật:

    – Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu mang màu sắc nam bộ

    – Văn chương trữ tình đạo đức

    Nguyễn Đình Chiểu xứng đáng là một ngôi sao sáng trên nền trời văn học Việt Nam. Thơ văn ông cho tới tận bây giờ vẫn còn nguyên giá trị và lưu giữ những đạo lý một thời của cha con.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn Tự Sự: Kể Lại Chuyện Mị Châu Trọng Thủy
  • Kể Lại Chuyện Mị Châu Trọng Thủy
  • Soạn Bài Mẹ Tôi Siêu Ngắn
  • Soạn Bài Về Ngôi Nhà Đang Xây, Tập Đọc
  • Soạn Bài: Tập Đọc Về Ngôi Nhà Đang Xây
  • Soạn Bài Lớp 11: Tác Giả Nguyễn Đình Chiểu

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Nguyễn Đình Chiểu, Ngôi Sao Sáng Trong Văn Nghệ Của Dân Tộc Siêu Ngắn
  • Soạn Văn Lớp 10 Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm
  • Soạn Văn Lớp 10 Bài Lập Dàn Ý Bài Văn Thuyết Minh Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Bài Nỗi Oán Của Người Phòng Khuê
  • Soạn Bài Nỗi Oán Của Người Phòng Khuê Của Vương Xương Linh
  • Nguyễn Đình Chiểu là một nhà nho có tấm lòng yêu nước, gắn bó tha thiết với quê hương, với nhân dân. Ông đã có những đóng góp rất lớn cho nên văn học dân tộc: văn học chữ Nôm đạt được nhiều thành tựu, hình tượng người nông dân được đưa vào văn học ở một vị trí trang trọng, tư tưởng nho gia truyền thống thống nhất với quyền lợi nhân dân lao động.

    II. RÈN KĨ NĂNG

    1. Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888) tên tự là Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ. Ông sinh tại quê mẹ, làng Tân Thới, phủ Tân Bình, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định. Thân phụ ông là Nguyễn Đình Huy, người Thừa Thiên. Mẹ là Trương Thị Thiệt.

    Năm 1833, Nguyễn Đình Chiểu được cha đưa ra Huế ăn học. Năm 1849, ra Huế thi thì được tin mẹ mất. Ông trở về chịu tang mẹ, ông vừa ốm nặng vừa thương khó mẹ nên bị mù cả hai mắt. Chi tiết này để lại dấu ấn ở nhân vật Lục Vân Tiên. Ông chuyển sang học thuốc. Năm 1859, giặc Pháp tràn vào sông Bến Nghé, Nguyễn Đình Chiểu về Cần Giuộc, rồi Bến Tre. Đó là thời gian ông viết Chạy giặc, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc. Ông luôn giữ thái độ kiên trung, không hợp tác với giặc.

    Những sự kiện lớn trong cuộc đời đều ảnh hưởng rất lớn và để lại dấu ấn đậm nét trong các tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu.

    Tác phẩm chính: Truyện Lục Vân Tiên, Dương Từ – Hà Mậu, Ngư Tiều y thuật vấn đáp, Văn tế nghĩa sĩ càn Giuộc, Văn tế Trương Định, Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh và một số bài thơ Đường luật.

    3. Hình tượng người nghĩa sĩ nông dân là hình tượng thành công nổi bật trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu ở cả hai phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật. Trước Nguyễn Đình Chiểu chưa có nhà văn nào viết riêng về người nông dân. Các nhà văn nhà thơ trung đại chỉ tập trung vào xây dựng các hình tượng các anh hùng dân tộc là các bậc quân thần với các chiến công lẫy lừng. Người nông dân xuất hiện rất mờ nhạt trong các tác phẩm của các nhà văn thời phong kiến và chưa bao giờ họ trở thành hình tượng nghệ thuật chính của tác phẩm. Nhưng đến Nguyễn Đình Chiểu, người nông dân trở thành hình tượng nghệ thuật voiư snhững phẩm chất cao đẹp của những người anh hùng.

    Tác giả xây dựng một hình tượng nghệ thuật hoàn chỉnh, từ nguồn gốc xuất thân, hình thức bề ngoài, nội tâm, lí tưởng, hành động …

    Người nghĩa sĩ xuất thân là những người nông dân hiền lành, chỉ biết chăm chỉ với công việc đồng áng, họ “cui cút làm ăn, toan lo nghèo khó”, họ sống an phận sau lũy tre làng bình yên. Chưa bao giờ họ ngó đến việc quân sự. Thê nhưng khi “súng giặc đất rền”, những người nông dân vốn hiền lành an phận ấy lại là người đầu tiên đứng lên đánh giặc. Họ đánh giặc bằng những thứ vũ khí mộc mạc, đơn giản mà họ có được. Nhưng tinh thần quả cảm, lòng yêu nước đã tạo nên sức mạnh để họ từng chiến thắng kẻ thù.

    Thế giặc mạnh, sức người có hạn, nên dù rất anh dũng, dù đã làm chi giặc khiếp sợ những họ vẫn không thể đánh đuổi được kẻ xâm lăng. Nhưng dù thất bại, những người nghĩa sĩ quả cảm ấy đã cho kẻ thù thấy tinh thần bất khuất và lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần trách nhiệm đối với đất nước của nhân dân lao động. Họ ra đi để lại niềm tiếc thương vô hạn cho gia đình, người thân và cả dân tộc song họ đã mang đến niềm tự hào dân tộc cho thế hệ sau.

    Nguyễn Đình Chiểu đã mang đến cho văn học Việt Nam một hình tượng đẹp về lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam. Đó là minh chứng hùng hồn cho tinh thần và sức mạnh Việt Nam.

    4. Giá trị thơ văn Nguyễn Đình Chiểu

    Dù là thơ Đường luật, văn tế hay truyện thơ, nghệ sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu đều có các đặc điểm nổi bật về nội dung là ca ngợi các phẩm chất đạo đức truyền thống theo quan điểm của nhà nho như trung nghĩa, thủy chung và thể hiện lòng yêu nước sâu sắc. Sáng tác của ông thể hiện trách nhiệm của một công dân đối với dân tộc. Do hoàn cảnh, ông không thể đứng lên trực tiếp cầm vũ khí đánh giặc, nhưng những trang văn của cụ đồ Chiểu có một sức chiến đấu mạnh mẽ. Tấm lòng tha thiết với nhân dân đất nước của ông đãđánh thức lòng yêu nước trong biết bao người dân Việt Nam khi họ soi mình vào trang văn của nhà nho Nguyễn Đình Chiểu.

    Về giá trị nghệ thuật: ngôn ngữ và cách diễn đạt bình dị, mộc mạc, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân; kết hợp tính cổ điển với tính dân gian, bút pháp lý tưởng hoá với tả thực; đậm đà bản sắc dân tộc, đặc biệt là bản sắc địa phương Nam Bộ.

    III. TƯ LIỆU THAM KHẢO “Con người ta nếu có giáo dục khá thì thường được hướng dẫn trong sự xử thế bởi những nguyên tắc đạo đức nhất định. Nhưng, thường hơn hết là, trong sự xử thế, ta được hướng dẫn bởi những mẫu người mà ta chọn trong tâm trí của ta. Cụ Nguyễn Đình Chiểu là một trong những mẫu người đầu tiên mà tôi chọn để trong tâm trí của tôi không biết từ hồi nào. Học giỏi, thi đỗ, không có gì đáng phục. Đáng phục là đã đui mù rồi mà không thối trí nản lòng, không cầu an tọa lạc, mà lại quyết tâm học thuốc thật giỏi, không phải để sinh sống mà để giúp đời, kiên trì viết sách, không phải để lấy tiếng mà để truyền bá nhân nghĩa và cổ động lòng ưu quốc vị dân. Chí ấy quý lắm. Đáng phục hơn nữa là, đã mang tật đui mù rồi mà còn tích cực tham gia cuộc đấu tranh chống kể xâm lăng. Chắc không ai nỡ trách móc một người mù lòa hoặc ở tại nhà, hoặc tị địa rất xa, một khi giặc Pháp giẫm chân lên thành Phụng. Nhưng Đồ Chiểu của chúng ta đã không ở lại mà cũng không lánh xa; Đồ Chiểu về với đốc binh là cầm đầu nghĩa quân Cần Giuộc và giúp sức Trương Định dựng cờ khởi nghĩa tại Tân Hòa. Cái dũng ấy của người mù là một tấm gương xử thế trong sáng, khiến mỗi người trai máu nóng không thể nào điềm nhiên tọa thị trước cảnh ngựa mình người ta cưỡi, dân tộc mình lũ quỷ giày xéo. Thua cuộc rồi, Nguyễn Đình Chiểu lưng vẫn thẳng, đầu vẫn cao, ngay kẻ thù cũng phải kính nể. Pháp định trả lại đất nhà của cụ ở Gia Định chăng? Cụ rằng: nước chung đã mất, nhà riêng còn đâu! Pháp toan kế đưa tiền cho cụ chăng, lấy danh nghĩa lạc quyên giúp nhà thơ cơn túng thiếu, hoặc lấy cớ trả tiền nhuận bút bản quyền, cụ rằng không cần thiết vì đã sống đầy đủ và vinh dự trong lòng thương của môn đệ và đồng bào! Tiết ấy, ai hơn? Suốt đời áo vải, tuy Gia Định, Ba Tri là những xứ nuôi tằm dệt lụa nhưng mỗi lúc giảng kinh truyện thì- khăn áo chỉnh tề. Trong nhà, thư sinh chen vai. Ngoài ngõ, nối nhau người đến xem mạnh bốc thuốc. Đồ Chiểu là lương y của cả thể xác và tâm hồn. Mù lòa, cụ không ngại đến tận nhà con bệnh. Nếu về sau có thầy thuốc nổi tiếng dán câu đối trước cửa “Đau tiếc thân, lành tiếc của, thói đời là thế; Mất lòng trước, được lòng sau, trả tiền mới hốt” thì trái lại, Nguyễn Đình Chiểu là người lấy âm đức làm mục đích, quên cái đau khổ riêng của mình để chữa cái đau chung của thiên hạ. Đứa ăn mày cũng trời sinh,Vì vậy, cụ xem việc chữa bệnh như một cuộc chiến đấu: Trận đồ tám quẻ còn roi dấuQuý thay lòng Đồ Chiểu! Cho nên ngày đưa linh cụ, một cánh đồng Ba Tri rợp trắng những khăn tang; môn đệ, bệnh nhân, đồng bào vĩnh biệt một con người mà cuộc đời trọn vẹn là tấm gương chí công mài sắt, phục vụ không điều kiện, phò đời cứu dân, tấm gương tiết nghĩa, dũng cảm!… Biết bao văn sĩ, ta chỉ thích họ trong văn chương, mà chưa được phục họ trong đời sống. Còn với thầy Nguyễn Đình Chiểu, văn với đời là một, chỉ là một”.

    “Chủ nghĩa yêu nước trong văn chương thời kỳ lịch sử cận và hiện đại bắt đầu với Nguyễn Đình Chiểu. Có người bảo: đúng Nguyễn Đình Chiểu khai sáng văn chương yêu nước; nhưng sau cụ còn biết bao nhiêu nhà văn yêu nước khác, thì chủ nghĩa yêu nước của cụ có những nét riêng biệt nào? – Ở Nguyễn Đình Chiểu, yêu nước, trước hết là thương dân. Nguyễn Đình Chiểu nói nhiều đến nhân dân, ít khi nói đến xã tắc. Ông Quán nói về thương ghét thì bao giờ cũng đối lập vua ác với dân lành: Tử Trực khen rằng chùa đất Phật vàng và hỏi ông Quán Thương dân sao chẳng lập thân? Nói một cách khác, việc lập thân của Tử Trực, Vân Tiên, Hớn Minh đều vì lẽ “thương dân” vậy. Trong tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu, “dân” chiếm một miếng đất khá lớn. Mà “dân” thì đáng chú ý nhất là dân đen, dân nghèo, dân ấp, dân lân. Ta chưa hề thấy ở đâu trong văn chương Việt Nam trước Nguyễn Đình Chiểu, nói đến người dân, người dân nghèo với một lòng yêu mến, khâm phục như trong văn chương của Nguyễn Đình Chiểu; ta chưa hề thấy ai như Nguyễn Đình Chiểu xem dân ấp, dân lân như những người tiêu biểu nhất cho tinh thần yêu nước, cho ý chí quật cường của đất nước trong cơn khói lửa. Đặc điểm nổi bật của chủ nghĩa yêu nước trong văn chương Nguyễn Đình Chiểu là ở đó. Mấy ai vượt khỏi điều kiện lịch sử? Cho nên Nguyễn ĐìnhTấm lòng yêu nước thiết tha của Nguyễn Đình Chiểu, hễ có dịp thì bộc lộ rất cảm động. Ngư Tiều vừa gặp nhau đã than thở vì nước nhà bị xâm lăng, chia cắt: U, Yên mấy quận, cắt bồi Khiết Đan. Ngư, Tiều, Đường, Chu, bốn người bạn gặp nhau vui mừng là vui mừng vì thấy cả bốn đều trong sạch, không chịu phò quân cướp nước. Câu chuyện này hẳn là không nhất thiết phải có để mở đầu cho việc trình bày y thuật, nhưng tác giả Ngư Tiều y thuật vấn đáp là người chiến sĩ yêu nước, cho nên không tách rời dầu một phút “chuyên môn” ra khỏi “chính trị”. Mà làm như thế có gượng gạo gì đâu? Trái lại hết sức tự nhiên như thuyền chài trên nước. Lục Vân Tiên là Nguyễn Đình Chiểu trước 1859. Nhân Sư là Nguyễn Đình Chiểu sau 1867. Vân Tiên mù vì khóc mẹ. Nhân Sư mù vì quyết giữ tiết tháo với non sông, để cho lòng đạo tròn gương.” Chiểu vẫn nói đến chúa, mong ở vua. Nhưng, Nguyễn Đình Chiểu dường như có đặt điều kiện cho việc trung quân: phải là vua hiền, vua kháng chiến thì mới được cụ tôn kính. Hãy nhớ những cái ghét của ông Quán. Hãy nhớ rằng, thuở ấy, hết lời ca tụng một vị tướng không nghe chiếu thiên tử mà thuận theo bụng nhân dân, là một thái độ can đảm phi thường.

    Theo chúng tôi Binh pháp năm mùi sẵn cỏ cây.

    Bệnh còn cứu đặng thuốc dành cho không.

    Trần Văn Giàu

    (Vì sao tôi thích đọc Nguyễn Đình Chiểu? Mấy vấn đề về cuộc đời và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, Sđd)

    Trần Văn Giàu

    (Vì sao tôi thích đọc Nguyễn Đình Chiểu? Sđd, tr.58- 60)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Văn 12 Ngắn Nhất Bài: Nguyễn Đình Chiểu, Ngôi Sao Sáng Trong Văn Nghệ Của Dân Tộc
  • Soạn Văn Lớp 12 Bài Nguyễn Đình Chiểu, Ngôi Sao Sáng Trong Văn Nghệ Của Dân Tộc Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Văn 12 Bài Nguyễn Đình Chiểu Ngôi Sao Sáng Trong Văn Nghệ Dân Tộc
  • Soạn Văn 10 Bài: Truyện An Dương Vương Và Mị Châu
  • Soạn Văn Lớp 10 Bài Truyện An Dương Vương Và Mị Châu Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Bài: Chạy Giặc (Nguyễn Đình Chiểu)

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Chạy Giặc Siêu Ngắn Nhất
  • Soạn Bài Chạy Giặc (Nguyễn Đình Chiểu
  • Soạn Văn 11 Ngắn Nhất Bài: Chạy Giặc
  • Soạn Bài: Phò Giá Về Kinh (Siêu Ngắn)
  • Soạn Bài Phò Giá Về Kinh (Tụng Giá Hoàn Kinh Sư)
  • CHẠY GIẶC

    NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU

    Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây,

    Một bàn cờ thế phút sa tay.

    Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy,

    Mất ổ bầy chim dáo dác bay.

    Bến Nghé của tiền tan bọt nước,

    Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây..

    Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng,

    Nỡ để dân đen mắc nạn này?

    ( Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, Sđd)

    TIỂU DẪN

    Hiện nay chưa thấy tài liệu nào nói rõ thời điểm ra đời của bài thơ Chạy giặc. Căn cứ vào hoàn cảnh lịch sử, cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu và nhất là nội dung tác phẩm, có người cho rằng bài thơ này đã được tác giả viết ngay sau khi thành Gia Định bị thực dân Pháp bắt đầu tấn công (ngày 17 – 2 – 1859).

    Bài Chạy giặc (có sách ghi là Chạy Tây) là một trong những tác phẩm đầu tiên của văn học yêu nước chống Pháp nửa cuối thế kỉ XIX.

    Hướng dẫn soạn bài – Chạy giặc (Nguyễn Đình Chiểu)

    I. Tác giả

    Nguyễn Đình Chiểu (1882 – 1888), tự Mạch Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối Trai (sau khi bị mù). Là nhà thơ lớn nhất của miền Nam Việt Nam trong nửa cuối thế kỷ 19. Ông là một người rất tài năng, nhưng do những năm 50 ông bị mù vì vậy ông đã về quê dạy học ở Gia Định.

    II. Tác phẩm

    Bài thơ Chạy giặc (có sách ghi là Chạy Tây) là một trong những tác phẩm đầu tiên của văn học yêu nước chống Pháp nửa cuối thế kỉ XIX. Bài thơ được viết vào khoảng năm 1959 khi thực dân Pháp đánh chiếm Gia Định, gây bao cảnh đau thương, mất mát cho nhân dân ta

    Bài thơ chia làm 4 đoạn:

    • 2 câu đề: Tình cảnh nhân dân chạy giặc.
    • 2 câu thực: Nỗi khổ của người dân.
    • 2 câu luận: Tội ác của giặc xâm lược.
    • 2 câu kết: Thái độ của tác giả.

    Chạy giặc phản ánh hiện thực đau thương của nhân dân Nam Bộ trong những ngày đầu thực dân Pháp xâm lược. Đồng thời nói lên nỗi đau và lòng căm hận của tác giả trước tội ác của giặc; mong ước có một bậc anh hùng ra tay dẹp loạn. Qua đó tác giả cũng thể hiện tấm lòng nhân đạo sâu sắc.Nguyễn Đình Chiểu đã miêu tả rất sống động cảnh chạy giặc để qua đó tố cáo tội ác của bọn cướp nước hại dân.

    III. Hướng dẫn soạn chi tiết bài Chạy giặc (Nguyễn Đình Chiểu)

    Giải câu 1 (Trang 49 SGK ngữ văn 11 tập 1)

    Cảnh đất nước và nhân dân khi giặc Pháp đến xâm lược được miêu tả như thế nào? Phân tích nét đặc sắc trong ngòi bút tả thực của tác giả.

    Cảnh đau thương của đất nước được hiện lên qua những hình ảnh:

    + Lũ trẻ lơ xơ chạy

    + Đàn chim dáo dác bay.

    + Bến Nghé tan bọt nước.

    + Đồng Nai nhuốm màu mây.

    Giải câu 2 (Trang 49 SGK ngữ văn 11 tập 1)

    Trong hoàn cảnh đó tâm trạng, tình cảm của tác giả như thế nào?

    Trong hoàn cảnh đó, tâm trạng và tình cảm của tác giả:

    – Tâm trạng của tác giả: Đau buồn, xót thương trước cảnh nước mất nhà tan.

    – Thái độ của tác giả: Căm thù giặc xâm lược. Mong mỏi có người hiền tài đứng lên đánh đuổi thực dân, cứu đất nước thoát khỏi nạn này.

    Giải câu 3 (Trang 49 SGK ngữ văn 11 tập 1)

    Phân tích thái độ của nhà thơ trong hai câu thơ kết.

    Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng Nỡ để dân đen mắc nạn này?

    Hai câu thơ kết đặt ra câu hỏi, không phải hỏi chung chung mà rất cụ thể. Trang dẹp loạn là hỏi người có chức trách trước tình cảnh của đất nước, của nhân dân. Nhưng sau đó, nhà thơ lại tố cáo họ: sự thờ ơ, vô trách nhiệm của họ để đất nước rơi vào tình trạng “nước mất nhà tan”, nhân dân điêu linh, khổ sở. Câu hỏi cũng thể hiện tình cảm xót xa của tác giả trước tình cảnh của nhân dân.

    → Giá trị hiện thực sâu sắc của tác phẩm.

    Câu 1. Cảnh đất nước và nhân dân khi giặc Pháp đến xâm lược được miêu tả như thế nào? Phân tích nét đặc sắc trong ngòi bút tả thực của tác giả.

    Cảnh đất nước và nhân dân khi giặc Pháp đến xâm lược:

    • Trước khi bị thực dân Pháp xâm lược đất nước và nhân dân ta đang trong thời kì yên bình. Tác giả đã miêu tả chân thực sâu sắc, cảnh đất nước khi bị thực dân pháp đến nổ súng xâm lược:
    • Hình ảnh cảnh chợ hoang tàn, tan nát đã thể hiện một hiện thực khốc liệt của cuộc sống, hình ảnh đó miêu tả một nỗi niềm trong tâm hồn của tác giả trước những vấn đề của cuộc sống.
    • ” Một bàn cờ thế phút sa tay”: nói lên tình cảnh của đất nước ta hiện giờ: rất khó khăn, nguy hiểm, chỉ cần đi sai một bước hậu quả khôn lường
    • Nhân dân ta hoảng loạn, tan tác, nơi ở xác xơ tan hoang : “lũ trẻ lơ xơ chạy”, “bầy chim dáo dác bay”…
    • Sự bị động của nhân dân, của triều đình phong kiến trước sự xâm lược của kẻ thù đã dẫn đến hậu quả là mất nước. Đồng nghĩa với việc mất mát về người, về của là những vết thương không dễ gì lành lại được.
    • Tác giả đã thể hiện được tấm lòng của mình qua bài thơ này trước những đau thương do chiến tranh gây ra tác giả đã đồng cảm, và xót thương, qua đó cũng thể hiện được tấm lòng yêu nước thương dân của ông, những hình ảnh đau thương được hiện lên trong trang thơ của ông nó đạm chất hiện thực để tố cáo tội ác tày trời.

    Nghệ thuật tả thực: Tác giả đã sử dụng ngòi bút tả thực để vẽ lên bức tranh hiện thực xã hội khi giặc Pháp xâm lược, thể hiện tình cảnh tan tác, bi thương của nhân dân khi ấy. Những từ láy “lơ xơ”, “dáo dác” làm nổi bật lên trước mắt người đọc dáng vẻ xơ xác, tan tác của lũ trẻ và bầy chim nhưng cũng khắc họa được tâm trạng hoang mang và ngơ ngác của chúng. Kết hợp với nghệ thuật đảo ngữ, tác giả nhằm nhấn mạnh nỗi khốn khổ của người dân trong hoàn cảnh nước mất nhà tan, làm tăng sức mạnh tố cáo của câu gợi và gợi nỗi xót xa thương cảm.

    Câu 2. Trong hoàn cảnh đó tâm trạng, tình cảm của tác giả như thế nào?

    Chỉ qua bài thơ thất ngôn bát cú, bằng những nét vẽ điển hình và chọn lọc, mỗi câu thơ là một tiếng kêu đau đớn, xót xa xuất phát từ trái tim nồng nàn yêu quê hương, đất nước, đỏ rực ngọn lửa căm thù trước tội ác trời không dung đất không tha của giặc.

    Nỗi đau xót trước khung cảnh của thiên nhiên rộng lớn, mênh mông đó, tất cả cảnh vật đều chìm vào máu lửa, với trái tim giàu tình yêu đất nước, tác giả đang đứng trước một hiện thực xã hội khốc liệt, ở đó con người đang phải đối mặt với khổ cực của cuộc sống.

    Ông đau xót cho đất nước, đau thương cho số phận của những con người, bất bình trước cảnh của nhân dân, của cuộc sống, tất cả đều trở thành nỗi thất vọng, vây kín tâm hồn của tác giả.

    Nhà thơ không những đau xót vì cảnh quốc phá gia vong, nhân dân tan tác, đau thương, lơ xơ, dáo dác mà ông còn thất vọng và bất bình biết mấy trước tình cảnh quê hương ngập tràn bóng giặc mà quân của triều đình thì bặt tăm khuất dạng bỏ mặc nhân dân phải chịu thống khổ điêu linh. Tác giả đã có những lời kêu gọi cho những bậc anh hùng trong đât nước đứng lên để chống lại kẻ thù cho dân tộc, giúp nhân dân thoát khỏi những lầm than, những đau khổ và cả những mất mát không đáng có.

    Câu 3. Phân tích thái độ của nhà thơ trong hai câu thơ kết.

    Lời kêu gọi mang giá trị rất to lớn, hai câu kết thể hiện niềm cảm khái lẫn thái độ phê phán triều đình hèn nhát, vô trách nhiệm đã bỏ đất, bỏ dân:

    Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng

    Nỡ để dân đen mắc nạn này.

    • “Trang dẹp loạn”: là người anh hùng hảo hán, người xuát hiện trong triều đình phong kiến thời xưa.
    • “Hỏi”, “rày đâu vắng”: sự chất vấn một cách mỉa mai, chua chát. Tác giả căm phẫn, xót xa trước việc triều đình thối nát, không chăm lo cho nhân dân có một cuộc sống yên bình, hạnh phúc.

    Tất cả những điều đó đều nói lên lòng yêu nước, thương dân của Nguyễn Đình Chiểu. Chỉ với hai câu thơ nhưng tác giả đã thể hiện được thông điệp của mình, một người anh hùng có chí khí và có khí phách hiên ngang luôn luôn phụng sự cho đất nước.

    Giọng điệu của tác giả thật đau xót có chút trách móc, nhưng đây là nơi kêu gọi to lớn quần chúng trong cả nước đoàn kết một lòng để chiến thắng được kẻ thù xâm lược, những vị anh hùng của đất nước dường như bị lãng quên

    Câu hỏi ở cuối bài thơ đã làm cho người đọc day dứt và có nhiều cảm xúc nó để lại bao xót thương và cũng mang một âm hưởng hào hùng vì lời kêu gọi đứng lên xả thân vì nước của Nguyễn Đình Chiểu.

    (BAIVIET.COM)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Ngữ Văn 11Cb Tiết 19: Bài Đọc Thêm Chạy Giặc Nguyễn Đình Chiểu
  • Soạn Bài Đọc Thêm Chạy Giặc Đầy Đủ Hay Nhất Lớp 11
  • Soạn Bài Chiếc Thuyền Ngoài Xa
  • Soạn Bài Luyện Tập Thao Tác Lập Luận So Sánh
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Tôi Yêu Em
  • Soạn Bài Chạy Giặc (Nguyễn Đình Chiểu

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Văn 11 Ngắn Nhất Bài: Chạy Giặc
  • Soạn Bài: Phò Giá Về Kinh (Siêu Ngắn)
  • Soạn Bài Phò Giá Về Kinh (Tụng Giá Hoàn Kinh Sư)
  • Soạn Bài Sự Tích Hồ Gươm Hay, Chi Tiết Nhất
  • Soạn Bài Sự Tích Hồ Gươm Lớp 6
  • Soạn bài Chạy giặc (Nguyễn Đình Chiểu)

    Bố cục

    Phần 1 (6 câu thơ đầu): Khung cảnh đau thương của đất nước khi giặc đến xâm lược.

    Phần 2 (2 câu còn lại): Nỗi lòng, tâm sự của tác giả.

    Câu 1 (trang 49 SGK Ngữ văn 11 tập 1):

    – Cảnh đất nước: tiêu điều, tang thương.

    + bỏ nhà, mất tổ

    + lũ trẻ lơ xơ chạy, bầy chim dáo dác bay

    + của tiền tan bọt nước, tranh ngói nhuốm màu mây

    – Ngòi bút tả thực: Tất cả khắc họa chân thực, khung cảnh hoảng loạn của nhân dân, sự chết chóc, tang thương của đất nước trong buổi đầu có thực dân Pháp xâm lược.

    Câu 2 (trang 49 sgk Văn 11 Tập 1):

    – Tâm trạng và tình cảm của tác giả:

    + Đau buồn, xót thương trước cảnh nước mất nhà tan.

    + Căm thù giặc xâm lược

    + Mong mỏi có người hiền tài đứng lên đánh đuổi thực dân, cứu đất nước cứu dân đen thoát khỏi nạn này

    Câu 3 (trang 49 sgk Văn 11 Tập 1):

    – Rày đâu vắng nhằm chất vấn một cách mỉa mai, chua chát; nỡ để dân đen là lời cảm thán, phê phán triều đình nhà Nguyễn bỏ mặc dân chúng gánh chịu cảnh điêu linh

    – Hai câu kết thể hiện niềm cảm khái lẫn thái độ phê phán triều đình hèn nhát, vô trách nhiệm đã bỏ đất, bỏ dân.

    – Bên cạnh các chi tiết tả thực chân xác, những hình ảnh tượng trưng đầy gợi cảm, giọng thơ u hoài, đau xót góp phần thể hiện tình cảm của nhà thơ.

    – Đó là lòng yêu thương dân, căm thù giặc bạo tàn và là lời ngầm trách móc triều đình bất lực.

    Ý nghĩa

    Chạy giặc là một trong những tác phẩm đầu tiên của văn học yêu nước chống Pháp nửa cuối thế kì XIX. Bài thơ đã khắc họa khung cảnh hoang tàn, đau thương của đất nước khi giặc Pháp đến xâm lược, đồng thời bày tỏ nỗi đau của nhà thơ trước hiện thực đó.

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k4: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Chạy Giặc Siêu Ngắn Nhất
  • Soạn Bài: Chạy Giặc (Nguyễn Đình Chiểu)
  • Giáo Án Ngữ Văn 11Cb Tiết 19: Bài Đọc Thêm Chạy Giặc Nguyễn Đình Chiểu
  • Soạn Bài Đọc Thêm Chạy Giặc Đầy Đủ Hay Nhất Lớp 11
  • Soạn Bài Chiếc Thuyền Ngoài Xa
  • Soạn Bài Tác Giả Nguyễn Đình Chiểu

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Soạn Bài : Tác Giả Nguyễn Đình Chiểu
  • Soạn Bài Giới Thiệu Về Tác Giả Nguyễn Đình Chiểu
  • Giới Thiệu Về Tác Giả Nguyễn Đình Chiểu
  • Giới Thiệu Về Tác Giả Nguyễn Đình Chiểu, Tác Giả Của Truyện Lục Vân Tiên
  • Giới Thiệu Về Tác Giả Nguyễn Đình Chiểu Ngữ Văn 11
  • Soạn bài tác giả Nguyễn Đình Chiểu – Ngữ văn 11. Câu 2. Tìm hiểu giá trị thơ văn Nguyễn Đình Chiểu

    Lời giải chi tiết GỢI Ý LÀM BÀI 1. Những nét chính về cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu. Anh (chị) cảm nhận sâu sắc điều gì qua cuộc đời nhà thơ. Trả lời:

    – Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888), người làng Tân Thới, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông xuất thân trong một gia đinh nhà nho, cha người gốc Thừa Thiên – Huế.

    – Năm 1843, Nguyễn Đình Chiểu đỗ tú tài tại trường thi Gia Định. Năm 1846, ông ra Huế học, chuẩn bị thi tiếp thì nhận được tin mẹ mất, ông phải bỏ thi về chịu tang mẹ. Dọc đường về, Nguyễn Đình Chiểu đau mắt nặng rồi bị mù.

    – Về quê, không khuất phục trước số phận oan nghiệt, nhà thơ mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân rồi cùng các lãnh tụ nghĩa quân bàn mưu tính kế đánh giặc và sáng tác những vần thơ đánh giặc cháy bỏng căm hờn, sôi sục ý chí chiến đấu.

    2. Tìm hiểu giá trị thơ văn Nguyễn Đình Chiểu: a. Dựa vào những đoạn trích đã học về Truyện Lục Vân Tiên, hãy cho biết lí tưởng đạo đức của Nguyễn Đình Chiểu được xây dựng chủ yếu trên cơ sở tình cảm nào? b. Nội dung trữ tình yêu nước trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu? Tác động tích cực của những sáng tác thơ văn ấy đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đương thời? c. Theo anh (chị) sắc thái Nam BỘ độc đáo của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu biểu hiện ở những điểm nào? Trả lời:

    a) Nguvễn Đình Chiếu là một nhà nho, bởi thế mà tư tưởng đạo đức, nhân nghĩa của ông mang tinh thần của Nho giáo. Mặc dù vậy, Nguyễn Đình Chiểu còn là một trí thức nhân dân, suốt đời sống nơi thôn xóm, giữa những người “dân ấp, dân lân” tâm hồn thuần hậu, chất phác nên tư tướng đạo đức của ông có những nét mang phong cách rất dân dã của những người nông dân thuần phác. Nguyễn Đình Chiểu thấm nhuần tư tưởng nhân nghĩa là tình thương yêu con người, sẵn sàng cưu mang con người trong cơn hoạn nạn; nghĩa là những quan hệ tốt đẹp giữa con ngưừi với con người trong xã hội, tình cha con, nghĩa chồng vợ, tình bạn bè, xóm giềng, tinh thần hiệp nghĩa sẵn sàng cứu khốn phò nguy,…

    Những nhân vật lí tưởng trong Truyện Lục Vân Tiên hầu hết là đều là những người dân thường, sinh trướng trong những nơi thôn ấp nghèo khó (những nho sinh như Vân Tiên, Tử Trực, Hớn Minh; những ông Ngư, ông Quán, ông Tiều, bà lão dệt vải,…). Tâm hồn của họ ngay thắng, không màng danh lợi, không tham phú quý, sẵn sàng ra tay cứu giúp người hoạn nạn. Trước Nguyễn Đinh Chiểu, nhân nghĩa vẫn được xem là phạm trù đạo đức lí tưởng, chỉ có ớ bậc thánh nhân, những người quân tử thuộc tầng lớp trên. Đến Nguyễn Trãi, nhân nghĩa cũng đã hướng đến người dân. Ông kêu gọi nhà cầm quyền nhân nghĩa với dân, thời chiến thì lấy nhân nghĩa để thắng quân bạo ngược, thời bình thì đưa nhân nghĩa vào chính sự, khoan sức cho dân. Tuy nhiên, phải đến Nguyễn Đình Chiểu thì phạm trù nhân nghĩa mới thực sự mớ rộng đến nhân dân. Điều đó giải thích tại sao nhân dân, đặc biệt là cư dân vùng dất mới Nam Kì, vốn rất xem trọng mối liên hệ gắn kết giữa con người với con người trên cơ sở chữ nghĩa truyền thống, tiếp nhận tác phẩm của Nguyễn Đình Chiếu nồng nhiệt đến thế.

    b) Nguyễn Đình Chiểu sáng tác thơ văn yêu nước ở thời kì đầu chống Pháp xâm lược để bảo vệ Tổ quốc. Đây là thời kì khổ nhục nhưng vĩ dại (Phạm Văn Đồng) của dân tộc. Đất nước mất dần vào tay giặc trước mắt nhà thơ. Các phong trào chống Pháp cũng lần lượt thất bại, người yêu nước thế hệ này nối tiếp thế hệ khác đã ngã xuống chiến trường. Nhưng “Súng giặc đất rền, lòng dân trời tỏ”. Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu đã làm sáng tỏ chân lí đó. Ông khóc than cho Tổ quốc buổi đầu gặp thương đau:

    Khốc là khóc nước nhà cơn bẩn loạn, hỏm mai vắng chúa; thua buồn nhiều nỗi khúc nhôi; Than là than bờ cõi lúc qua phân, ngày tháng trông vua, ngơ ngẩn một phường trẻ dại. (Văn tế Trương Định)

    Ông căm uất chửi mắng vào mặt kẻ thù:

    Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta; Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó. (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc)

    Ông hết lòng ngợi ca những sĩ phu như Trương Định đã một lòng vì nước, vì dân:

    Bởi lòng chúng chẳng nghe thiên tử chiếu, đón ngăn mấy dặm mã tiền; Theo bụng dân phái chịu tướng quân thù, gánh vác một vai khổ ngoại. (Văn tế Trương Định)

    Ông dựng bức tượng đài bất tử về những người dân ấp, dân lân: “Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh” (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc). Ngay cả lúc bờ cõi đã “chia đất khác”, Nguyễn Đình Chiểu vẫn nuôi giữ một niềm tin vào ngày mai: “Một trận mưa nhuần rửa núi sông” (Xúc cảnh), vẫn kiên trì một thái độ bất khuất trước kẻ thù: “Sự đời thà khuất đôi tròng thịt – Lòng đạo xin tròn một tấm gương” (Ngư Tiều y thuật vấn dáp). Với những nội dung trên, có thể nói thơ văn yêu nước Nguyễn Đình Chiểu đã đáp ứng xuất sắc những yêu cầu của cuộc sống và chiến đấu đương thời. Nó có tác dụng động viên, khích lê không nhỏ tinh thần và ý chí cứu nước của nhân dân ta.

    c. Sắc thái Nam Bộ độc đáo trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu thể hiện rõ ở từng nhân vật trong tác phẩm của ông. Mỗi người dân Nam Bộ có thể bắt gặp mình ở các nhân vật của ông từ lời ăn tiếng nói, ở sự mộc mạc, chất phác đến tấm lòng nặng tình, nặng nghĩa, yêu thương rất mực và căm ghét đến điều. Họ sống vô tư, phóng khoáng, ít bị ràng buộc bởi những phép tắc, lễ nghi và sẵn sàng xả thân vì nghĩa. Họ nóng nảy, bộc trực nhưng lại rất đằm thắm, ân tình. Đó là những nét rất riêng trong vẻ đẹp chung của con người Việt Nam.

    3. Với những kiến thức đã học về Nguyễn Trãi và Nguyễn Đình Chiểu, anh (chị) cảm nhận được điều gì gần gũi về tư tưởng nhân nghĩa giữa hai nhà thơ này? Hãy trình bày ý kiến của mình. Trả lời:

    Như đã nói ở trên, Nguyễn Đình Chiểu và Nguyễn Trãi có những điểu gần gũi về tư tướng nhân nghĩa. Nguyễn Trãi cũng lấy cái nền tảng của nhân nghĩa là quyền lợi của nhân dân nhưng đến Nguyễn Đình Chiểu thì phạm trù nhân nghĩa mới thực sự mở rộng đến nhân dân, gần gũi thực sự với nhân dân. Đó thực sự là một bước tiến dài của tư tưởng.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tác Giả Nguyễn Đình Chiểu
  • Soạn Bài Tác Giả Nguyễn Đình Chiểu Trang 56 Sgk Văn 11
  • Soạn Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc : Tác Giả Nguyễn Đình Chiểu
  • Soạn Bài Nguyễn Đình Chiểu, Ngôi Sao Sáng Trong Văn Nghệ Của Dân Tộc Sbt Ngữ Văn 12 Tập 1
  • Soạn Bài Nguyễn Đình Chiểu Ngôi Sao Sáng Trong Văn Nghệ Của Dân Tộc
  • Soạn Bài: Lẽ Ghét Thương (Nguyễn Đình Chiểu)

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Bài Tập Ngữ Văn Lớp 11: Lẽ Ghét Thương
  • Soạn Bài Lẽ Ghét Thương Trang 45 Sgk Ngữ Văn 11
  • Bài Soạn Lớp 11: Lẽ Ghét Thương
  • Soạn Bài Lẽ Ghét Thương Trích Truyện Lục Vân Tiên Của Nguyễn Đình Chiểu
  • Bài Thơ Lẽ Ghét Thương
  • Soạn bài trang 45 – 48 SGK ngữ văn lớp 11 tập 1. Để học tốt hơn danh sách các bài tập trong bài Lẽ ghét thương (Trích Truyện Lục Vân Tiên – Nguyễn Đình Chiểu), sau đây là hướng dẫn soạn bài đầy đủ, ngắn gọn và chi tiết nhất.

    LẼ GHÉT THƯƠNG

    (Trích Truyện Lục Vân Tiên) NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU TIỂU DẪN

    Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu có lẽ được sáng tác vào khoảng đầu những năm 50 của thế kỉ XIX, khi ông đã bị mù, về dạy học và chữa bệnh cho dân ở Gia Định. Cốt truyện xoay quanh cuộc xung đột giữa thiện và ác, nhằm đề cao tinh thần nhân nghĩa, thể hiện khát vọng lí tưởng của tác giả và của nhân dân đương thời về một xã hội tốt đẹp,ở đó mọi quan hệ giữa con người với con người đều thấm đượm tình cảm yêu thương, nhân ái. Tác phẩm thuộc loại truyện Nôm bác học nhưng mang nhiều tính chất dân gian, ngay từ khi mới ra đời đã được nhân dân, đặc biệt là người dân Nam Kì, đón nhận và lưu truyền rộng rãi.

    Ông Quán chỉ là một nhân vật phụ trong truyện nhưng lại rất được yêu thích, bởi lẽ đó là biểu tượng của tình cảm yêu ghét phân minh, trong sáng của quần chúng. Lẽ ghét thương là đoạn thơ trích từ câu 473 đến câu 504 của Truyện Lục Vân Tiên, kể lại cuộc đối thoại giữa ông Quán và bốn chàng nho sinh (Vân Tiên, Tử Trực, Trịnh Hâm, Bùi Kiệm) khi họ cùng uống rượu, làm thơ trong quán của ông trước lúc vào trường thi.

    VĂN BẢN

    Quán rằng: “Kinh sử đã từng,

    Coi rồi lại khiến lòng hằng xót xa.

    Hỏi thời ta phải nói ra,

    Vì chưng hay ghét cũng là hay thương”

    Tiên rằng: “Trong đục chưa tường

    Chẳng hay thương ghét, ghét thương lẽ nào

    Quán rằng: “Ghét việc tầm phào,

    Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm.

    Ghét đời Kiệt, Trụ mê dâm,

    Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hang.

    Ghét đời U, Lệ đa đoan,

    Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần.

    Ghét đời Ngũ bá phân vân,

    Chuộng bề dối trá làm dân nhọc nhằn.

    Ghét đời thúc quý phân băng,

    Sớm đầu tối đánh lằng nhằng rối dân.

    Thương là thương đức thánh nhân,

    Khi nơi Tống, Vệ lúc Trần, lúc Khuông.

    Thương thầy Nhan Tử dở dang,

    Ba mươi mốt tuổi tách đàng công danh.

    Thương ông Gia Cát tài lành,

    Gặp cơn Hán mạt đã đành phui pha.

    Thương thầy Đồng Tử cao xa,

    Chí thời có chí, ngôi mà không ngôi.

    Thương người Nguyên Lượng ngùi ngùi,

    Lỡ bề giúp nước lại lui về cày.

    Thương ông Hàn Dũ chẳng may,

    Sớm dâng lời biểu, tối đày đi xa.

    Thương thầy Liêm, Lạc đã ra,

    Bị lời xua đuổi về nhà giáo dân.

    Xem qua kinh sử mấy lần,

    Nửa phần lại ghét, nửa phần lại thương”.

    (Theo Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu,

    NXB Văn học, Hà Nội, 1971)

    Hướng dẫn soạn bài – Lẽ ghét thương (Nguyễn Đình Chiểu)

    I. Tác giả

    Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888) sinh tại làng Tân Thới, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định, mất tại Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu khá lận đận.

    Lớn lên và theo đuổi nghiệp khoa cử vào lúc xã hội loạn lạc, đất nước rơi vào hoạ xâm lăng, bản thân lại mù lòa từ năm 25 tuổi. Bỏ dở nghiệp thi cử, ông chuyển sang học thuốc, làm nghề bốc thuốc chữa bệnh và mở trường dạy học.

    II. Tác phẩm

    Truyện Lục Vân Tiên là Truyện thơ Nôm bác học nhưng mang nhiều tính dân gian, được viết dưới hình thức thơ lục bát. Truyện Nôm là thể loại văn học khá phát triển trong lịch sử văn học Việt Nam thế kỉ XVIII – XIX. Đó là những thành tựu đáng tự hào của nền văn học dân tộc.

    – Hoàn cảnh sáng tác: Khoảng đầu những năm 50 của thế kỉ XIX.

    – Nội dung: Cốt truyện xoay quanh cuộc xung đột giữa thiện và ác, nhằm đề cao tinh thần nhân nghĩa, thể hiện khát vọng lí tưởng của tác giả và nhân dân đương thời về một xã hội tốt đẹp, ở đó mối quan hệ giữa con người với con người đều thấm đượm tình cảm yêu thương, nhân ái.

    Đoạn trích Ghét lẽ thương là đoạn thơ trích từ câu 473 đến câu 504 của truyện Lục Vân Tiên, kể lại cuộc đối thoại giữa ông Quán và bốn chàng nho sinh (Vân Tiên, Từ Trực, Trịnh Hâm, Bùi Kiệm) khi họ cùng uống rượu, làm thơ trong quán của ông trước lúc vào trường thi.

    III. Hướng dẫn soạn chi tiết bài Lẽ ghét thương (Nguyễn Đình Chiểu)

    Giải câu 1 (Trang 48 SGK ngữ văn 11 tập 1)

    Anh (chị) hãy đọc chú thích, tìm điểm chung giữa những đời vua mà ông Quán ghét và giữa những con người mà ông Quán thương. Từ đó hãy nhận xét về cơ sở của lẽ ghét thương theo quan điểm đạo đức của Nguyễn Đình Chiểu.

    – Những đời vua mà ông Quán ghét: đời Kiệt, Trụ, đời U, Lệ, đời Ngũ bá thời Xuân Thu, đời thúc quý.

    → Tất cả các triều đại được nhắc đến trong lời ông Quán đều có một điểm chung, đó là sự suy tàn. Những người đứng đầu nhà nước thì say đắm trong tửu sắc, không chăm lo đến đời sống nhân dân.

    – Những lẽ thương mà ông Quán hướng đến: đức thánh nhân, thầy Nhan Tử, ông Gia Cát, thầy Đồng Tử, người Nguyên Lượng, ông Hàn Dũ, thầy Liêm, Lạc.

    → Đây đều là những người có tài, có đức, có chí muốn hành đạo giúp đời, giúp dân nhưng không đạt được sở nguyện của mình. Những con người này đều có những nét đồng cảnh với Nguyễn Đình Chiểu, bởi thế tình thương ở đây chính niềm cảm thông sâu sắc từ tấm lòng của nhà thơ.

    Giải câu 2 (Trang 48 SGK ngữ văn 11 tập 1)

    Anh (chị) có nhận xét gì về cách dùng phép đối và phép điệp ở cặp từ ghét, thương trong đoạn thơ này? Nêu rõ giá trị nghệ thuật của biện pháp tu từ đó.

    Đoạn trích khá thành công trong việc sử dụng cặp đối nghĩa ghét – thương. Từ ghét và thương đều được lặp lại 12 lần, sắp đặt sóng đôi, đăng đối khá linh hoạt (hay ghét – hay thương; thương ghét – ghét thương…) để qua đó giúp biểu hiện nổi bật và phân minh hai tình cảm trong tâm hồn tác giả. Với nhà thơ, ghét và thương rành rọt, không lẫn lộn và đều sâu nặng, không nhạt nhòa, chung chung. Việc lặp lại hai từ này cũng giúp tăng thêm cường độ cảm xúc trong: yêu thương và căm ghét đều đạt đến sự tột cùng, mãnh liệt.

    Giải câu 3 (Trang 48 SGK ngữ văn 11 tập 1)

    Dựa vào cảm xúc của tác giả, hãy giải thích câu thơ ở phần đầu đoạn trích: Vì chưng hay ghét cũng là hay thương.

    Vì chưng hay ghét cũng là hay thương

    Câu thơ mang tính chất triết lí đạo đức mà giàu chất trữ tình và dạt dào cảm xúc. Thương và ghét là hai tình cảm có mối quan hệ khăng khít với nhau trong tâm hồn nhà thơ. Tình cảm thương, ghét cứ đan xen nối tiếp nhau, hòa cùng một nhịp với cuộc đời, với nhân dân.

    Soạn phần luyện tập bài Lẽ ghét thương (Nguyễn Đình Chiểu)

    Giải câu hỏi – Luyện tập (Trang 48 SGK ngữ văn 11 tập 1)

    Theo anh (chị), câu thơ nào trong đoạn trích có thể thâu tóm toàn bộ ý nghĩa tư tưởng và tình cảm của cả đoạn? Hãy viết đoạn văn trình bày cảm nhận của mình về câu thơ đó.

    Câu thơ thâu tóm toàn bộ ý nghĩa tư tưởng và tình cảm của đoạn trích là câu:

    Vì chưng hay ghét cũng là hay thương

    Yêu và ghét là hai tình cám có mối quan hệ khăng khít không thể tách rời trong tâm hồn của nhà thơ. Bới thương đến xót xa trước cảnh nhân dân phải chịu lầm than, khổ cực, thương những con người tài đức mà bị vùi dập, phải mai một tài năng, chí nguyện nên Nguyễn Đình Chiểu càng căm ghét sâu sắc những kẻ làm hại dân, hại đời, đẩy con người vào những cảnh ngộ éo le, oan nghiệt. Trong trái tim yêu thương mênh mông của nhà thơ, hai tình cảm yêu, ghét cứ đan cài, nối tiếp nhau hoà cùng nhịp đập với cuộc đời, với nhân dân, bởi “Vì chưng hay ghét cũng là hay thương”. Đó chính là đỉnh cao tư tưởng và tình cảm của Nguyền Đình Chiểu vậy.

    Đoạn thơ mang tính chất triết lí đạo đức mà không hề khô khan, cứng nhắc, trái lại vẫn giàu chất trữ tình và dạt dào cảm xúc. Những cảm xúc sâu sắc và nồng đượm đó xuất phát từ cõi tâm trong sáng, cao cả của nhà thơ, từ một trái tim nặng trĩu tình đời, tình người tha thiết.

    Câu 1. Anh (chị) hãy đọc chú thích, tìm điểm chung giữa những đời vua mà ông Quán ghét và giữa những con người mà ông Quán thương. Từ đó hãy nhận xét về cơ sở của lẽ ghét thương theo quan điểm đạo đức của Nguyễn Đình Chiểu.

    Những điều ông Quán ghét: 10 câu thơ trong đoạn trích nói về lẽ ghét. Ghét việc tầm phào, ghét vua Trụ mê dâm, U Vương, Lệ Vương gây ra nhiều mối rắc rối, Ngũ Bá chia rẽ, đổ nát, sớm đầu tối đánh …

    ⇒ Điểm chung của các vua chúa được nhắc đến: ăn chơi, hoang dâm vô độ, tranh quyền, đoạt lợi, không quan tâm đến chính sự đang rối ren, không nghĩ đến đời sống lầm than cực nhọc của dân. Căn nguyên của cái ghét ở đây là do lòng thương dân, vì dân, ghét những kẻ hại dân, làm cho nhân dân sa hầm sẩy hang, chịu lầm than, nhọc nhằn…

    Với cái ghét là lẽ thương, 16 câu thơ kế tiếp như lời tự bạch của ông Quán về tình thương: thương những người có tài cao chí cả, muốn cứu đời, giúp dân nhưng lại gặp rủi ro, bất hạnh nên không thực hiện được chí hướng.

    ⇒ Lòng thương của ông Quán thật rộng lớn: thương Nhan Tử mất sớm, dở dang công danh; thương Gia Cát Lượng có tài thao lược không cứu vãn được thời Hán mạt; thương Đồng Trọng Thư tài đức hơn người mà bị dồn vào thế bí; thương Đào Tiềm khí tiết thanh cao lại lui về ở ẩn; thương Hàn Dũ can vua bị đày… Tác giả kể về các nho gia đáng kính, đồng thời cũng nói về người đời đáng kính. Đoạn thơ kết thúc:

    Xem qua kinh sử mấy lần

    Nửa phần lại ghét, nửa phần lại thương

    Cho thấy vì thương nên ghét. Đây là hai mặt tình cảm đối lập nhưng xuất phát từ lòng thương dân sâu sắc. Nguyễn Đình Chiều tìm thấy bóng dáng mình trong đó: mơ ước lập thân để giúp đời nhưng lại gặp nhiều bất hạnh.

    Câu 2. Anh (chị) có nhận xét gì về cách dùng phép đối và phép điệp ở cặp từ ghét, thương trong đoạn thơ này? Nêu rõ giá trị nghệ thuật của biện pháp tu từ đó.

    Ghét và thương là hai tâm trạng đối lập. Từ ghét là thể hiện một trạng thái không thích, một hành động, một con người hay một điều gì đó, nhưng thương lại là một trạng thái hoàn toàn khác, nếu ghét là căm thù người khác, thì thương lại là nỗi niềm thương xót cho con người số phận hay con người nào đó.

    – Phép đối: Từ ghét và thương đều được lặp lại 12 lần, sắp đặt sóng đôi, đăng đối khá linh hoạt. (hay ghét – hay thương; thương ghét – ghét thương; ghét ghét – thương thương; lại ghét – lại thương).Ở đây cách đặt như thế để biểu hiện sự đắn đó trong cách hành động của tác giả trước cuộc sống.

    – Phép điệp cũng như sự vận dụng linh hoạt hai từ ghét – thương đã giúp biểu hiện nổi bật và phân minh hai tình cảm trong tâm hồn tác giả. Trong trái tim tác giả, ghét và thương rành rọt, không mập mờ, lẫn lộn và đều sâu nặng, không nhạt nhòa, chung chung. Việc lặp lại hai từ này cũng làm tăng cường độ của cảm xúc: yêu thương và căm ghét đều đạt đến độ tột cùng, đều hết sức nồng nhiệt.

    Câu 3. Dựa vào cảm xúc của tác giả, hãy giải thích câu thơ ở phần đầu đoạn trích: Vì chưng hay ghét cũng là hay thương.

    Tác giả đã thể hiện hai trạng thái tình cảm yêu ghét khác nhau, biểu hiện một cái gì đó riêng biệt, lạ lẫm và mang lại cho người đọc một cái nhìn quang minh về con người cũng như tính chất của sự vật và hiện tượng.

    Con người luôn có những cũng bậc cảm xúc riêng, và những luân lý luân thường đó là nỗi ghét và niềm thương xót, một vị anh hùng có tài đức và có tấm lòng yêu thương dân chúng cao cả do có tấm lòng thương dân nên tác giả đã căm ghét những người hại dân, đó là những điều rất bình thường trong một con người có chí khí và khí phách luôn bảo vệ cho lợi ích của nhân dân.

    Trong trái tim yêu thương mênh mông của nhà thơ, hai tình cảm yêu – ghét cứ đan cài, nối tiếp nhau hòa cùng nhịp đập với cuộc đời, với nhân dân, bởi “Vì chưng hay ghét cũng là hay thương”. Đó chính là đỉnh cao tư tưởng và tình cảm của Nguyễn Đình Chiểu.

    Soạn phần luyện tập bài Lẽ ghét thương (Nguyễn Đình Chiểu) trang 48 SGK ngữ văn 11 tập 1

    Câu hỏi: Theo anh (chị), câu thơ nào trong đoạn trích có thể thâu tóm toàn bộ ý nghĩa tư tưởng và tình cảm của cả đoạn? Hãy viết đoạn văn trình bày cảm nhận của mình về câu thơ đó. Trả lời:

    Câu thơ có thể thâu tóm toàn bộ tư tưởng và tình cảm trong đoạn trích là “Vì chưng hay ghét cũng là hay thương”

    Đoạn văn cảm nhận về câu thơ:

    Tác giả đã đặt hai trạng thái tình cảm, cảm xúc hoàn toàn trái ngược trong một câu thơ giúp con người ta có thể nhìn nhận rõ hơn về lẽ yêu, lẽ ghét của ông quán. Chứng kiến cảnh tượng dân lầm than, đói khổ trong khi vua chúa, quan lại ăn chơi tráng tác, sa hoa lãng phí thì phàm là những người yêu nước thương dân không ai có thể ngồi yên được. Càng thương dân bao nhiêu thì nỗi căm ghét với xã hội và tầng lớp quan lại quý tộc bấy nhiêu. Cũng như thế, những con người đức hạnh, thương dân càng được nể trọng, yêu quý bao nhiêu thì những kẻ tầm phào, dốt nát, sĩ diện lại càng bị ghét bỏ, ruồng rẫy bấy nhiêu. Trái tim con người có những cung bậc cảm xúc rất đa dạng, phức tạp cho nên hai tình cảm yêu – ghét cứ đan cài, nối tiếp nhau hòa cùng nhịp đập với cuộc đời, với nhân dân, bởi “Vì chưng hay ghét cũng là hay thương”. Đó chính là đỉnh cao tư tưởng và tình cảm của Nguyễn Đình Chiểu.

    (BAIVIET.COM)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Lẽ Ghét Thương Sbt Ngữ Văn 11 Tập 1
  • Soạn Bài Lẽ Ghét Thương (Trích Truyện Lục Vân Tiên) Trang 48 Sgk Ngữ V
  • Soạn Bài Lẽ Ghét Thương (Chi Tiết)
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Lẽ Ghét Thương
  • Soạn Bài Lẽ Ghét Thương Lớp 11
  • Soạn Bài Lẽ Ghét Thương (Nguyễn Đình Chiểu

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Văn 11 Ngắn Nhất Bài: Lẽ Ghét Thương (Trích Truyện Lục Vân Tiên)
  • Soạn Văn 11 Bài: Lẽ Ghét Thương
  • Soạn Văn Lớp 11: Lẽ Ghét Thương
  • Soạn Văn 9 Bài Lặng Lẽ Sa Pa Vnen
  • Soạn Văn 9 Vnen Bài 14: Lặng Lẽ Sa Pa
  • Soạn bài Lẽ ghét thương (Nguyễn Đình Chiểu)

    Bố cục

    Phần 1 (từ câu 1 đến câu 6): Lời đối đáp giữa ông Quán với Tử Trực và Vân Tiên.

    Phần 2 (từ câu 7 đến câu 16): Lẽ ghét.

    Phần 3 (các câu còn lại): Lẽ thương.

    Câu 1 (trang 48 SGK Ngữ văn 11 tập 1):

    – Những đời vua mà ông Quán ghét: đều là những đời vua không anh minh, không hiền minh, khiến đời sống của nhân dân trăm bề khốn khổ.

    – Những người mà ông Quán thương: Khổng Tử, Nhan Tử, Gia Cát, Đổng Tử, Nguyên Lượng, Hàn Dũ, thầy Liêm, Lạc → đều là những người học rộng, có lòng nhân, thương người, thương đời.

    ⇒ Cơ sở lẽ ghét thương: ghét những kẻ bất nhân, ích kỉ, bạo tàn; thương những người tài giỏi mà phận bạc, phải chịu khổ ải.

    Câu 2 (trang 48 SGK Ngữ văn 11 tập 1):

    – Ghét và thương được dùng trong phạm trù đối lập với nhau.

    – Ghét và thương được lặp đi lặp lại nhiều lần, mỗi lần gắn với một nhân vật cụ thể trong lịch sử.

    ⇒ Thể hiện, làm rõ quan điểm ghét, thương của Nguyễn Đình Chiểu.

    Câu 3 (trang 48 SGK Ngữ văn 11 tập 1):

    Vì chưng hay ghét cũng là hay thương: chính vì lòng thương những điều tốt đẹp, những người học rộng tài cao mà bất hạnh nên mới sinh ra sự thù ghét đối với những bạo ngược, bất công khiến người tài không có chỗ dụng tài, khiến nhân dân muôn bề lao khổ.

    Luyện tập

    Câu thơ thâu tóm toàn bộ ý nghĩa, tư tưởng của đoạn trích: Vì chưng hay ghét cũng là hay thương.

    ⇒Câu thơ như một lời giãi bày, giải thích về lẽ ghét thương. Câu thơ mang tư tưởng nhân đạo rất sâu sắc. Ghét không phải vì muốn ghét, vì căm tức mà lẽ ghét sinh ra từ lẽ thương. Càng thương cái tốt đẹp, nhân nghĩa bao nhiêu thì càng ghét cái bạo lực, hung tàn, ích kỷ bấy nhiêu.

    Ý nghĩa

    Đoạn trích đã nói lên những tình cảm yêu, ghét rất phân minh, mãnh liệt và tấm lòng thương dân sâu sắc của Nguyễn Đình Chiểu. Lời thơ mộc mạc, chân chất nhưng đậm đà cảm xúc.

    Bài giảng: Lẽ ghét thương – Cô Thúy Nhàn (Giáo viên VietJack)

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k4: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Văn Lớp 9 Bài Lục Vân Tiên Cứu Kiều Nguyệt Nga Ngắn Gọn
  • Soạn Văn Bài: Lục Vân Tiên Gặp Nạn (Trích Truyện Lục Vân Tiên)
  • Bài 3 Trang 121 Sgk Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Soạn Bài Lục Vân Tiên Gặp Nạn Trang 118 Sgk Văn 9
  • Soạn Bài: Lục Vân Tiên Gặp Nạn (Siêu Ngắn Gọn)
  • Soạn Bài Chạy Giặc Của Nguyễn Đình Chiểu

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiếng Việt Lớp 5 Tập Đọc: Ê
  • Unit 1. Family Life. Lesson 2. Language
  • Ngữ Pháp Tiếng Anh Lớp 10 Chương Trình Mới Unit 1: Family Life
  • Soạn Bài : Phò Giá Về Kinh
  • Soạn Bài Phò Giá Về Kinh Trang 65 Sgk Ngữ Văn 7 Tập 1
  • 1. Tóm tắt bài học

    2. Soạn bài Chạy giặc chương trình chuẩn

    2.1. Soạn bài tóm tắt

    Câu 1: Cảnh đất nước và nhân dân khi giặc Pháp đến xâm lược được miêu tả như thế nào? Phân tích nét đặc sắc trong ngòi bút tả thực của tác giả.

    • Cảnh đất nước và nhân dân khi giặc Pháp đến xâm lược được miêu tả:
      • Lũ trẻ lơ xơ chạy
      • Bầy chim dáo dát bay.
      • Bến Nghé tan bọt nước
      • Đồng Nai nhuốm màu mây.
    • Nét đặc sắc trong ngòi bút tả thực của tác giả đã gợi lên một khung cảnh hoảng loạn, chết chóc, đau thương trong buổi đầu có thực Dân Pháp xâm lược.

    Câu 2: Trong hoàn cảnh đó, tâm trạng, tình cảm của tác giả như thế nào?

      Trong hoàn cảnh lúc đó, tâm trạng của nhà thơ đau xót trước cảnh nước nhà bị thiêu trụi.

    Câu 3: Phân tích thái độ của nhà thơ trong hai câu kết?

      Tác giả thể hiện thái độ xót xa, tâm trạng phẫn uất, thất vọng. Đồng thời đó còn là lời kêu gọi tha thiết, da diết xen lẫn xót xa của tác giả đến mọi người.

    2.2. Soạn bài chi tiết

    3. Soạn bài Chạy giặc chương trình Nâng cao

    • Chủ đề của bài thơ thể hiệ tấm lòng yêu nước thương dân, tinh thần trách nhiệm đối với dân tộc của Nguyễn Đình Chiểu.
    • Các chi tiết, hình ảnh rong bài thơ đều góp phần tái hiện cảnh đau thương của đất nước trong những ngày đầu bị thực dân Pháp đánh chiếm.

    Câu 2: Cảnh chạy giặc đã được miêu tả cụ thể và xúc động như thế nào trong hai câu 3 – 4?

      Xem đáp án ở phần Hướng dẫn soạn bài chương trình chuẩn, mục câu hỏi số 1.

    Câu 3: Phân tích những cung bậc, sắc thái khác nhau của nỗi đau mà tác giả biểu lộ trong bài thơ.

      Những cung bậc, sắc thái khác nhau được biểu lộ:

      • Bốn câu thơ đầu là nỗi lo lắng, chua xót, bàng hoàng khi đất nước rơi vào cảnh nguy khốn.
      • Hai câu thơ tiếp theo: thể hiện nỗi đau, niềm thương của tác giả trước cảnh tan tác của Bến Nghé, Đồng Nai.
      • Hai câu thơ cuối: nỗi trăn trở, sự trách móc của nhà thơ hướng tới những người có trách nhiệm, là vua tôi nhà Nguyễn, những người có tài, có khả năng đánh giặc.

    Câu 4: Giọng điệu ở hai câu thơ cuối của bài thơ thể hiện tình cảm gì? (Chú ý nghệ thuật sử dụng từ Trang, từ nỡ của tác giả)

    • Giọng điệu ở hai câu thơ cuối vùa đau xót, vừa trách móc, vừa day dứt.
    • Tác giả sử dụng từ “trang” để chỉ những người có trách nhiệm trong việc đánh giặc giữu nước.
    • Còn từ “nỡ” ở câu kết đã thể hiện sự nghi ngờ, sự trách móc chua xót, niềm mong mỏi dành cho những người có đủ sức, đủ quyền và có trách nhiệm trước vận mệnh của dân tộc.

    Câu 5: Nêu suy nghĩ về tìn cảm yêu nước của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu được bộc lộ trong bài tác phẩm.

      Bài thơ thể hiện tình cảm yêu nước tha thiết của nhà thơ. Đó là những giây phút đau thương trước cảnh nước mất nhà tan. Ông lên tiếng kêu gọi những người có trách nhiệm đứng lên đánh giặc cứu nước, và thức tỉnh lòng yêu nước thương nòi trong mỗi người dân Việt.

    4. Một số bài văn mẫu về bài thơ Chạy giặc

    5. Hỏi đáp về bài thơ Chạy giặc

    Nếu có thắc mắc cần giải đáp các em có thể để lại câu hỏi trong phần Hỏi đáp, cộng đồng Ngữ văn HỌC247 sẽ sớm trả lời cho các em.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Chạy Giặc (Nguyễn Đình Chiểu) Ngắn Nhất, Hay Nhất
  • Soạn Bài Chiếc Lược Ngà (Chi Tiết)
  • Soạn Bài Chiếc Lược Ngà (Trích)
  • Soạn Bài: Chiếc Lược Ngà (Trích)
  • Soạn Bài Chiếc Lược Ngà (Siêu Ngắn)
  • Soạn Bài Nguyễn Đình Chiểu, Ngôi Sao Sáng Trong Văn Nghệ Của Dân Tộc Lớp 12

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Nguyễn Đình Chiểu
  • Soạn Bài: Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm)
  • Soạn Bài Nhàn ( Nguyễn Bỉnh Khiêm )
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Nhàn
  • Soạn Văn Bài: Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm)
  • Hướng dẫn soạn bài Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc lớp 12 hay đầy đủ nhất để các bạn tham khảo cho việc soạn bài ở nhà

    Các bài soạn trước đó:

    SOẠN BÀI NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU, NGÔI SAO SÁNG TRONG VĂN NGHỆ CỦA DÂN TỘC

    Câu 1 trang 53 SGK văn 12 tập 1:

    Những luận điểm chính của bài viết:

    • Ngôi sao Nguyễn Đình Chiểu một nhà thơ lớn của nước ta đáng lẽ phải sáng tỏ hơn nữa trong bầu trời văn nghệ dân tộc nhất là trong lúc này.
    • Nguyễn Đình Chiểu là một nhà thơ yêu nước… đất nước chúng ta
    • Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu… suốt hai mươi năm trời
    • “Lục Vân Tiên” là tác phẩm lớn của Nguyễn Đình Chiểu, rất phổ biến trong dân gian nhất là ở miền Nam
    • Đời sống và sự nghiệp Nguyễn Đình Chiểu… mặt trận văn hóa tư tưởng

    Câu 2 trang 53 SGK văn 12 tập 1:

    Tác giả cho rằng văn thơ của Nguyễn Đình Chiểu cũng giống như “những vì sao có ánh sáng khác thường”, “con mắt chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy” vì văn thơ của Nguyễn Đình Chiểu có vẻ đẹp riêng, độc đáo, đòi hỏi người đọc phải chú ý, tìm tòi

    Câu 3 trang 53 SGK văn 12 tập 1:

    Tác giả đã giúp chúng ta nhận ra những “ánh sáng khác thường” của ngôi sao sáng Nguyễn Đình Chiểu:

    • Cuộc sống và quan niệm sáng tác: cuộc đời ông trải qua nhiều bất hạnh nhưng vẫn giàu ý chí, nghị lực, sống có phẩm giá và khí tiết, là một tấm gương anh dũng. Nguyễn Đình Chiểu trọng chức trách của một người cầm bút, thơ văn chiến đấu.
    • Thơ văn mà ông sáng tác để phục vụ cuộc chiến đấu chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc: phản ánh phong tròa kháng Pháp oanh liệt và bền bỉ của dân tộc, diễn tả sinh động và não nùng , cảm tinh của dân tộc đối với người chiến sĩ của nghĩa quân, vốn là người nông dân
    • Truyện Lục Vân Tiên: bản trường ca ca ngợi chính nghĩa, những đạo đức đáng quý trọng ở đời, ca ngợi những người trung nghĩa

    Câu 4 trang 53 SGK văn 12 tập 1:

    Tác giả cho rằng ngôi sao Nguyễn Đình Chiểu đáng phải sáng tỏ hơn nữa không chỉ thời ấy, mà còn cả trong thời đại hiện nay vì:

    • Cho đến nay, vẫn còn nhiều người chưa hiểu hết giá trị thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, chưa có cái nhìn toàn diện về thơ văn của ông
    • “Phải sáng tỏ hơn nữa trong thời đại ngày nay” để làm sống dậy những giá trị đích thực từng có ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng nhân dân

    Câu 5 trang 54 SGK văn 12 tập 1:

    Bài nghị luận không hề khô khan mà vô cùng hấp dẫn, lôi cuốn vì:

    • Tác giả kết hợp giữa lí lẽ và tình cảm, văn học và đời sống
    • Ngôn ngữ đặc sắc, sử dụng nhiều hình ảnh giàu sức biểu cảm
    • Tình cảm trân trọng của Phạm Văn Đồng đối với những đóng góp và cống hiến của Nguyễn Đình Chiểu, cũng là tấm lòng đối với nhân dân, đất nước

    Luyện tập Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trên bầu trời văn nghệ của dân tộc

    Văn thơ Nguyễn Đình Chiểu vẫn không xa lạ với giới trẻ ngày nay và việc học những tác phẩm như “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của ông ở nhà trường vẫn rất bổ ích. Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu nói chung và Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc nói riêng luôn đậm đà tinh thần yêu nước. Qua việc tái hiện lại lịch sử đấu tranh của nhân dân Nam Bộ, tác giả đã truyền vào lòng người đọc một lòng căm thù giặc sâu sắc, đồng thời làm dậy lên niềm xót thương, cảm phục trước tinh thần quả cảm và lòng anh dũng của những người nghĩa sĩ Cần Giuộc. Không chỉ thế, những tác phẩm lớn của Nguyễn Đình Chiểu như Lục Vân Tiên còn là bài học đạo đức, lời khuyên về cách đối nhân xử thế ở đời, giúp con người sống đẹp và biết yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau. Vì những lẽ đó, các tác phẩm của ông vẫn có giá trị dù là hôm nay hay mai sau, sống mãi cùng với dòng chảy của văn học dân tộc.

    Các bài soạn tiếp theo:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Của Nguyễn Đình Chiểu
  • Giới Thiệu Về Tác Giả Nguyễn Đình Chiểu Ngữ Văn 11
  • Giới Thiệu Về Tác Giả Nguyễn Đình Chiểu, Tác Giả Của Truyện Lục Vân Tiên
  • Giới Thiệu Về Tác Giả Nguyễn Đình Chiểu
  • Soạn Bài Giới Thiệu Về Tác Giả Nguyễn Đình Chiểu
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100