Top #10 Soạn Bài Ánh Trăng Tìm Hiểu Chung Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 8/2022 # Top Trend | Maiphuongus.net

Tìm Hiểu Văn Bản: Ánh Trăng

--- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Ngữ Văn 9 Tiết 59: Văn Bản: Ánh Trăng (Nguyễn Duy)
  • Giáo Án Lớp 8 Môn Công Nghệ
  • Giải Bt Công Nghệ 8 Vnen
  • Boa Esporte Clube Team Details, Competitions And Latest Matches
  • Soạn Bài Từ Đồng Âm Siêu Ngắn
  • I. Những nét chính về tác giả – tác phẩm

    1. Tác giả

    – Nguyễn Duy, tên khai sinh Nguyễn Duy Nhuệ, sinh năm 1948, quê ở Thanh Hóa.

    – Ông thuộc thế hệ những nhà thơ trẻ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước:

    + Trước đổi mới: Nguyễn Duy tập trung viết về đề tài chiến tranh và quê hương với khuynh hướng phi sử thi, phản ánh những vẻ đẹp đơn sơ, bình dị, những mất mát, hy sinh và cuộc sống lam lũ của người nông dân.

    + Sau đổi mới: Nguyễn Duy mạnh mẽ, táo bạo, dám phơi bày những bất cập của xã hội đương thời.

    – Phong cách sáng tác: Có sự thống nhất của nhiều yếu tố đối lập: mộc mạc, dân dã mà tinh tế, sâu sắc; ngang tàng, tếu táo mà thiết tha sâu lắng, nhân tình; tự nhiên ngẫu hứng mà trau truốt công phu. Ánh trăng là một trong những bài thơ tiểu biểu cho phong cách sáng tác của ông.

    2. Tác phẩm Ánh trăng

    a. Hoàn cảnh sáng tác

    – Bài thơ “Ánh trăng” ra đời năm 1978 tại thành phố Hồ Chí Minh, ba năm sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

    – Bài thơ được in trong tập thơ cùng tên và được giải A của Hội nhà văn Việt Nam năm 1984.

    b. Ý nghĩa nhan đề Ánh trăng

    – Nhan đề “Ánh trăng” trước hết là một phần của thiên nhiên với tất cả những gì gần gũi, thân thuộc.

    – “Ánh trăng” là biểu tượng cho quá khứ nghĩa tình, thủy chung gắn với lịch sử hào hùng của dân tộc.

    – Gợi cho ta liên tưởng đến những con người giản dị mà thủy chung nghĩa tình: nhân dân, đồng đội,…

    c. Thể loại – phương thức biểu đạt

    – Thể thơ năm chữ với những chữ cái đầu khổ được viết hoa. Toàn bài chỉ có một dấu phẩy và một dấu chấm kết bài. Nó khiến cho cảm xúc liền mạch, sâu lắng.

    – Nó là sự kết hợp hài hòa giữa hai phương thức tự sự và trữ tình.

    d. Bố cục: Ba phần

    – Phần một: 2 khổ đầu: Vầng trăng trong quá khứ.

    – Phần hai: 2 khổ tiếp: Vầng trăng trong hiện tại.

    – Phần ba: 2 khổ cuối: Cảm xúc và suy ngẫm của nhân vật trữ tình.

    II. Trọng tâm kiến thức

    1. Vầng trăng trong quá khứ

    Trong hai khổ thơ đầu, tác giả gợi lại những kỉ niệm đẹp, tình cảm gắn bó giữa con người và vầng trăng trong quá khứ:

    “Hồi nhỏ sống với rừng

    với sông rồi với bể

    hồi chiến tranh ở rừng

    vầng trăng thành tri kỷ

    Trần trụi với thiên nhiên

    hồn nhiên như cây cỏ

    ngỡ không bao giờ quên

    cái vầng trăng tình nghĩa”

    – Những câu thơ ngắn với giọng tâm tình, thủ thỉ (hồi nhỏ, hồi chiến tranh) cộng với biện pháp tu từ liệt kê (đồng, sông, bể) đã gợi lại một tuổi thơ sống gắn bó, gần gũi với thiên nhiên.

    – Điệp từ “với” được lặp lại ba lần để nhấn mạnh sự gắn bó, thắm thiết giữa con người và thiên nhiên.

    – Hình ảnh “hồi chiến tranh ở rừng”:

    + Gợi liên tưởng đến sự trưởng thành của nhân vật trữ tình, từ cậu bé thiếu niên nay đã vác súng ra chiến trường.

    + Gợi về những năm tháng gian khổ, ác liệt thời chiến tranh.

    – Nghệ thuật nhân hóa “vầng trăng thành tri kỷ”:

    + Gợi liên tưởng đến những đêm hành quân hay phiên gác giữa rừng, có vầng trăng chiếu rọi.

    + Trăng như trở thành người bạn thân thiết, tri âm, tri kỷ, luôn đồng cảm cộng khổ để chia sẻ những vui buồn đời lính.

    – Hình ảnh so sánh, ẩn dụ “trần trụi với thiên nhiên”, “hồn nhiên như cây cỏ:

    + Gợi vẻ đẹp bình dị, vô tư, trong sáng của vầng trăng.

    + Đó cũng là cốt cách, vẻ đẹp hoang sơ, mộc mạc trong tâm hồn của người lính.

    – Từ “ngỡ” như báo hiệu những chuyển biến trong câu chuyện cũng như trong tình cảm của con người.

    2. Vầng trăng trong hiện tại

    – Song, trước sự xoay vần của thời gian, sự biến đổi của hoàn cảnh đã khiến cho mọi thứ trở nên thay đổi:

    “Từ hồi về thành phố

    quen ánh điện, cửa gương

    vầng trăng đi qua ngõ

    như người dưng qua đường”

    + Tác giả đã tạo ra sự đối lập trong hoàn cảnh sống của con người giữa hiện tại và quá khứ: Từ những nhà tranh, vách nứa chốn rừng sâu, nước độc, nay trở về trong những tòa nhà khang trang, hiện đại của thành phố.

    + “quen ánh điện cửa gương” là cách nói hóan dụ để tô đậm cuộc sống đầy đủ, tiện nghi, khép kín trong căn phòng hiện đại, xa rời thiên nhiên.

    + Hình ảnh nhân hóa, so sánh “vầng trăng đi qua ngõ/ như người dưng qua đường” diễn tả sự thay đổi trong tình cảm của con người: Vầng trăng thì vẫn tròn đầy, thủy chung tình, nghĩa nhưng con người thì hững hờ, thơ ơ không nhận ra.

    – Tác giả đã đặt con người vào một tình huống bất ngờ:

    “Thình lình đèn điện tắt

    phòng buyn – đinh tối om

    vội bật tung cửa sổ

    đột ngột vầng trăng tròn”

    + Hai từ “thình lình”, “đột ngột” và cách đảo trật tự cú pháp đã góp phần diễn tả thật chính xác, ấn tượng về một sự việc đột ngột, bất thường “đèn điện tắt… tối om”.

    + Ba động từ mạnh “vội”, “bật”, “tung” đã diễn tả hành động khẩn trương, vội vàng của nhân vật trữ tình.

    + Hình ảnh “vầng trăng tròn” đột ngột xuất hiện chiếu rọi vào căn phòng tối om đã tạo nên một sự đối lập: giữa ánh sáng và bóng tối. Chính khoảnh khắc bất ngờ ấy đã tạo nên bước ngoặt trong mạch cảm xúc và sự “bừng tỉnh” trong nhận thức của nhân vật trữ tình: vầng trăng kia vẫn tròn, “đồng, bể, rừng” kia đâu có mất, tất cả vẫn đồng hành cùng con người, chỉ có điều con người có nhận ra hay không.

    3. Cảm xúc và suy ngẫm của nhân vật trữ tình

    Từ tình huống bất ngờ, đã mở ra những dòng cảm xúc mãnh liệt của nhân vật trữ tình:

    “Ngửa mặt lên nhìn mặt

    có cái gì rưng rưng”

    – Tư thế “ngửa mặt lên nhìn mặt” là tư thế tập trung chú ý, mặt đối mặt.

    – Từ “mặt” ở cuối câu thơ là từ nhiều nghĩa, tạo nên sự đa dạng cho ý thơ:

    + Khuôn mặt đó là khuôn mặt của tri kỷ mà nhân vật trữ tình đã lãng quên.

    + Mặt đối mặt đó còn là quá khứ đối diện với hiện tại, tình nghĩa thủy chung đối diện với vô tình lãng quên.

    – Cuộc đối thoại không lời trong khoảnh khắc, phút chốc ấy đã khiến cho cảm xúc dâng trào. Cụm từ “rưng rưng” đã diễn tả nỗi xúc động đến nghẹn ngào, thổn thức trong cảm xúc của nhân vật trữ tình.

    Giọt nước mắt như khiến con người ta trở nên thanh thản hơn, trong sáng hơn để rửa trôi đi những ý nghĩ, lo toan thường nhật để kỷ niệm ùa về:

    “như là đồng là bể

    như là sông là rừng”

    Cấu trúc song hành (như là… là…), cộng với biện pháp tu từ so sánh (như), điệp ngữ (như là, là) và liệt kê (đồng, bể, sông, rừng) diễn tả những dòng kí ức về một thời gắn bó, chan hòa với thiên nhiên bỗng từ từ ùa về.

    Khổ thơ cuối thể hiện những suy ngẫm và triết lí sâu sắc của nhà thơ:

    “Trăng cứ tròn vành vạnh

    kể chi người vô tình

    ánh trăng im phăng phắc

    đủ cho ta giật mình”

    – Hình ảnh “trăng cứ tròn vành vạnh”:

    + Diễn tả vầng trăng tròn đầy, tỏa sáng giữa thiên nhiên bao la.

    + Bên cạnh đó, còn tượng trưng cho vẻ đẹp của quá khứ nghĩa tình, vẫn tròn đầy, trọn vẹn mặc cho con người thay đổi, vô tình.

    Nghệ thuật nhân hóa “ánh trăng im phăng phắc” gợi đến một cái nhìn nghiêm khắc song cũng đầy bao dung độ lượng. Sự im lặng ấy khiến cho nhân vật trữ tình “giật mình” thức tỉnh.

    Từ “giật mình” chính là một sự sáng tạo của Nguyễn Duy trong ý thơ:

    + Giật mình là cảm giác tâm lí của một người biết suy nghĩ chợt nhận ra sự vô tình, bạc bẽo, nông nổi trong cách sống của mình.

    + Giật mình là để nhớ lại quá khứ, để ăn năn tự trách, tự thấy cần phải thay đổi cách sống.

    + Giật mình cũng là để tự nhắc nhở bản thân phải trân trọng những gì đã qua để làm bước đệm cho ngày hôm nay.

    III. Tổng kết

    1. Nội dung

    Với giọng điệu tâm tình, “Ánh trăng” như là một lời tâm sự của tác giả về những năm tháng gian khổ đã đi qua với những tình cảm bình dị và hiền hậu. Đồng thời, bài thơ còn gửi gắm đến chúng ta về một thái độ sống tích cực: “uống nước nhớ nguồn”.

    2. Nghệ thuật

    – Ánh trăng với giọng điệu tâm tình, tự nhiên, kết hợp với yếu tố trữ tình, tự sự khiến bài thơ như một lời tự bạch chân thành, sâu sắc.

    – Hình ảnh giàu tính biểu cảm và biểu tượng.

    IV. Một số dạng đề tham khảo

    Câu 1. Đọc đoạn trích thơ sau và trả lời các câu hỏi:

    “Trăng cứ tròn vành vạnh

    kể chi người vô tình

    ánh trăng im phăng phắc

    đủ cho ta giật mình.”

    (Trích Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2022) 

    1. Đoạn thơ trên trích trong tác phẩm nào? Tác giả là ai? 

    2. Xác định các từ láy được sử dụng trong đoạn thơ.

    3. Nêu nội dung chính của đoạn thơ?

    Câu 2. Cảm nhận của em về sự chuyển biến tâm tư của người lính qua bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy. Bài thơ đã gợi cho em bài học gì về cách sống của cá nhân?

    Câu 3.

    Trăng cứ tròn vành vạnh

    kể chi người vô tình

    ánh trăng im phăng phắc

    đủ cho ta giật mình.

    (Nguyễn Duy, Ánh trăng Theo Ngữ văn 9, tập 1, NXB Giáo dục, 2005, trang 156)

    Bằng sự hiểu biết về bài thơ Ánh trăng, hãy phân tích đoạn thơ trên và qua đó, em có suy nghĩ gì?

    Làm chủ kiến thức ngữ văn 9 – Luyện thi vào 10

    Tác giả: Phạm Trung Tình

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài: Ánh Trăng – Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Bài 9: Thứ Tự Kể Trong Văn Tự Sự (Trang 57 Sgk Ngữ Văn 6 Tập 1 Vnen)
  • Tổng Hợp Các Bài Tập Vật Lý 10 Nâng Cao
  • Bài 6 – Tiết 2. Kinh Tế Hoa Kì (Địa Lý 11)
  • Giáo Án Môn Tin Học 11
  • Soạn Bài Tìm Hiểu Chung Về Văn Biểu Cảm

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Lớp 7: Tìm Hiểu Chung Về Văn Biểu Cảm
  • Soạn Văn Lớp 7 Bài Từ Đồng Nghĩa Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Bài Từ Đồng Nghĩa
  • Soạn Bài Lớp 7: Từ Đồng Nghĩa
  • Soạn Bài : Từ Đồng Nghĩa
  • Soạn bài Tìm hiểu chung về văn biểu cảm

    I. Nhu cầu biểu cảm và văn biểu cảm

    – Hai câu ca dao đầu tiên thể hiện nỗi thương cảm với những thân phận người nhỏ bé, kêu vô vọng nhưng không ai thấu, không ai thương xót

    – Bốn câu ca dao tiếp theo: Niềm vui phơi phới của người con gái trước cánh đồng và tuổi xuân thì của mình. Cũng như sự lo lắng về thân phận của mình trước muôn nẻo đường đời.

    → Con người khi có nhu cầu bộc lộ tình cảm, cảm xúc sẽ làm văn biểu cảm.

    Thư gửi bạn bè sẽ bộc lộ tình cảm nhiều nhất, bởi vì thư thể hiện nhu cầu tình cảm của con người.

    2. Đặc điểm chung của văn biểu cảm

    Đoạn văn số (1) trực tiếp biểu hiện nỗi nhớ thông qua nhắc lại một số kỉ niệm

    → Cách biểu cảm thường thấy trong từ ngữ, thu từ, nhật kí

    – Đoạn văn (2) thể hiện tình cảm thiết tha gắn bó với quê hương, đất nước

    ⇒ Cả hai đoạn văn đều chưa có nội dung hoàn chỉnh nhưng thể hiện được tình cảm và tâm trạng của người viết

    b, Hai đoạn văn cho thấy: tình cảm, cảm xúc trong văn biểu cảm là tình cảm đậm chất tư tưởng nhân văn

    – Khi con người nảy nở tình cảm chân thành, nhân văn thì sự biểu cảm trở nên đặc sắc, cuốn hút

    c, Phương thức biểu đạt tình cảm, cảm xúc ở hai đoạn văn trên có những đặc điểm:

    – Đoạn (1) thuộc dạng biểu cảm trực tiếp (nói về kỉ niệm thương nhớ đối với bạn)

    – Đoạn (2) thuộc dạng biểu cảm gián tiếp (tác giả thông qua miêu tả tiếng hát của cô gái)

    ⇒ Như vậy, cách biểu cảm có thể thực hiện hai cách: bộc bạch trực tiếp tình cảm, hoặc biểu cảm thông qua những kỉ niệm, hình ảnh gợi liên tưởng.

    II. Luyện tập

    Bài 1 (trang 73 sgk ngữ văn 7 tập 1)

    Cả hai đoạn văn đều nói về hoa hải đường nhưng:

    – Đoạn văn 1: chủ yếu tả chính xác về đặc điểm của loài hoa hải đường

    – Đoạn văn b sử dụng yếu tố tưởng tượng và biểu cảm để khơi gợi vẻ đẹp và cảm nhận tinh tế, lưu lại dấu ấn của tác giả.

    → Đoạn văn về hoa hải đường cho thấy tác giả sử dụng linh hoạt yếu tố tự sự, miêu tả để tạo nên bức tranh biểu cảm về hoa hải đường.

    Bài 2 (Trang 74 sgk ngữ văn 7 tập 1)

    Cả hai bài thơ: Sông núi nước Nam và Phò giá về kinh đều là văn biểu cảm trực tiếp. Bởi:

    Cả hai tác phẩm đều nói về lòng tự tôn dân tộc, tình yêu nước sâu sắc, trực tiếp

    – Sông núi nước Nam thể hiện quyết tâm và ý chí bảo vệ chủ quyền trước mọi thế lực xâm lược.

    – Phò giá về kinh thể hiện tình cảm trực tiếp của tác giả trước chiến thắng vang dội của nước Đại Việt cũng như khát vọng thái bình của dân tộc ta thời đại nhà Trần. Qua đó bộc lộ hào khí Đông A

    Bài 3 (trang 74 sgk ngữ văn 7 tập 1)

    Một số bài văn, bài thơ biểu cảm: Khăn thương nhớ ai (ca dao), Cảm hoài, Thu điếu, Đây mùa thu tới, Khóc Dương Khuê, Bánh trôi nước…

    Bài 4 (trang 74 sgk ngữ văn 7 tập 1)

    Đoạn văn biểu cảm:

    Trước mặt cô giáo, con đã thiếu lễ độ với mẹ. Việc như thế không bao giờ con được tái phạm nữa. En ri cô của bố ạ! Sự hỗn láo của con như một nhát dao nhát dao đâm vào tim bố vậy! Bố nhớ, cách mấy năm, mẹ đã phải thức suốt đêm, cúi mình trên chiếc nôi trông chừng hơi thở hổn hển của con, quằn quại vì nỗi lo sợ, khóc nức nở khi nghĩ rằng có thể mất con!… Nhớ lại điều ấy, bố không thể nén được cơn tức giận đối với con.

    ( Những tấm lòng cao cả- Et- môn- đô A- mi-xi)

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k8: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài : Tìm Hiểu Chung Về Văn Biểu Cảm
  • Soạn Văn Lớp 7 Bài Tìm Hiểu Chung Về Văn Biểu Cảm Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Bài Cổng Trường Mở Ra Ngắn Gọn
  • Hướng Dẫn Soạn Văn Bài Ca Côn Sơn
  • Soạn Bài Lớp 7: Bài Ca Côn Sơn
  • Soạn Bài Tìm Hiểu Chung Về Văn Tự Sự

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Văn Lớp 6 Bài Tìm Hiểu Chung Về Văn Tự Sự Ngắn Gọn Hay & Đúng Nhất
  • Soạn Bài Tìm Hiểu Chung Về Văn Tự Sự Trang 27 Sgk Ngữ Văn 6 Tập 1
  • Soạn Văn Lớp 6 Bài Tìm Hiểu Đề Và Cách Làm Bài Văn Tự Sự Ngắn Gọn Hay & Đúng Nhất
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Tìm Hiểu Đề Và Cách Làm Bài Văn Tự Sự
  • Soạn Bài Tìm Hiểu Đề Và Cách Làm Bài Văn Tự Sự Lớp 6 Đầy Đủ Hay Nhất
  • Soạn bài Tìm hiểu chung về văn tự sự

    I. Ý nghĩa và đặc điểm chung của phương thức tự sự

    Câu 1 (trang 27 sgk ngữ văn 6 tập 1)

    a, Gặp những trường hợp trên người nghe muốn được người kể:

    – Kể nội dung truyện cổ tích

    – Lý do An thôi học,

    – Thông tin về hình dáng, sở thích, thành tích học tập…

    – Một câu chuyện hay

    b, Nếu muốn cho bạn biết Lan là người bạn tốt, bạn phải kể về Lan:

    + Học tập chăm chỉ, đạt thành tích tốt

    + Thường xuyên giúp đỡ bạn bè trong học tập, lao động, sinh hoạt hằng ngày

    – Vì: những điều này chứng tỏ Lan là người bạn tốt

    Câu 2 (trang 27 sgk ngữ văn 6 tập 1)

    Truyện Thánh Gióng là một văn bản tự sự, vì:

    – Truyện kể về cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm của Gióng

    – Thời gian: thời Hùng Vương thứ sáu

    – Diễn biến: cậu bé Gióng 3 tuổi biết nói, lớn nhanh,cưỡi ngựa sắt, mặc áo giáp sắt, cầm roi đánh giặc → Gióng nhổ tre đánh giặc → giặc tan, Gióng bay về trời.

    – Ý nghĩa: tinh thần yêu nước, quả cảm chống giặc của Gióng

    – Sở dĩ nói truyện Thánh Gióng ca ngợi công đức của vị anh hùng làng Gióng:

    + Câu chuyện kể về sự ra đời, trưởng thành, chiến công chống giặc của vị anh hùng đầu tiên ở nước ta.

    – Có thể sắp xếp thứ tự sự việc:

    + Gióng ra đời

    + Gióng biết nói và nhận lời sứ giả

    + Gióng lớn bổng, cưỡi ngựa đi đánh giặc

    + Giặc tan, Gióng cưỡi ngựa về trời

    + Vua lập đền thờ Gióng

    II. Luyện tập

    Bài 1 (trang 28 sgk ngữ văn 6 tập 1)

    – Câu chuyện Ông già và Thần Chết, trình bày theo phương thức tự sự:

    + Nhân vật: Ông già, Thần Chết

    + Sự kiện: Ông già vác củi nặng nhọc than thở, Thần Chết xuất hiện thì ông già nhanh trí nói sang vấn đề khác

    – Ý nghĩa: Ca ngợi sự dũng cảm, nhanh trí của con người

    Bài 2 (trang 28 sgk ngữ văn 6 tập 1)

    Bài thơ Sa bẫy được diễn đạt theo phương thức tự sự, vì có nhân vật, nội dung truyện.

    – Kể lại: Bé Mây rủ mèo con đánh bẫy chuột nhắt bằng cá rán thơm. Cả hai cùng háo hức chờ đợi và nghĩ đến cảnh lũ chuột sa bẫy, nhưng kết cục chuột chưa kịp tới thì mèo đã sa bẫy.

    Bài 3 (trang 27 sgk ngữ văn 6 tập 1)

    Hai văn bản Huế: Khai mạc trại điêu khắc quốc tế lần thứ ba và Người Âu Lạc đánh tan quân Tần xâm lược là văn bản tự sự vì:

    + Đều có nhân vật, sự kiện, nội dung câu chuyện trình bày theo chuỗi sự việc.

    – Tự sự đóng vai trò kể lại sự việc một cách mạch lạc, hấp dẫn

    Bài 4 (Trang 28 sgk ngữ văn 6 tập 1)

    Người Việt tự xưng là Con Rồng cháu Tiên vì:

    – Lạc Long Quân nòi rồng kết hôn với Âu Cơ dòng dõi tiên sinh ra bọc trăm trứng, nở ra một trăm người con. Những người con của Âu Cơ và Lạc Long Quân trở thành các vị vua Hùng trị vì đất nước.

    Bài 5 (trang 28 sgk ngữ văn 6 tập 1)

    Để thuyết phục các bạn trong lớp cần:

    – Làm lớp trưởng, bạn Minh chăm học, học giỏi thường giúp đỡ bạn bè

    – Kể vắn tắt một vài thành tích học tập thì sẽ càng có ý nghĩa thuyết phục các bạn trong lớp.

    Bài giảng: Tìm hiểu chung về văn tự sự – Cô Nguyễn Ngọc Anh (Giáo viên VietJack)

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k9: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Lớp 6: Thạch Sanh
  • Soạn Bài So Sánh, Ngữ Văn Lớp 6
  • Soạn Bài So Sánh (Tiếp Theo)
  • Soạn Bài: So Sánh (Tiếp Theo)
  • Soạn Bài So Sánh (Tiếp Theo), Ngữ Văn Lớp 6
  • Soạn Bài Lớp 9: Ánh Trăng

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Ánh Trăng Trang 155 Sgk Văn 9
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Ánh Trăng
  • Soạn Văn 9 Bài Ánh Trăng Vnen
  • Soạn Văn 9 Vnen Bài 12: Ánh Trăng
  • Soạn Bài Vợ Chồng A Phủ Của Tô Hoài, Ngữ Văn Lớp 12
  • Soạn bài lớp 9: Ánh trăng

    Soạn bài: Ánh trăng

    Nguyễn Duy

    I. KIẾN THỨC CƠ BẢN

    1. Ánh trăng của Nguyễn Duy mang sức sáng nối liền quá khứ – hiện tại, là tấm gương trăng để soi lòng. Con người của gốc lúa bờ tre, của nắng nỏ trời xanh, của lời ru trọn kiếp người không đi hết, của “Nước chè tươi rót vàng mơ” ấy thường hay giật mình giữa chốn đô hội ồn ào:

    tôi giật mình cái âm thanh của rừng lạc về thành phố Chợt hiện về thăm thẳm núi non kia” (Nghe tắc kè kêu trong thành phố)

    2. Những năm tháng “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” đã trở thành nguồn mạch hồi ức thường trực trong tâm hồn nhà thơ. Cho nên chỉ một tiếng tắc kè kêu cũng đủ khơi cho nguồn mạch ấy dào dạt chảy. Thì ra, người vốn thiết tha với đồng quê bình dị, say sưa với ca dao hò vè cũng là người ân tình với quá khứ gian lao, nặng lòng với núi rừng một thủa. Với Ánh trăng, Nguyễn Duy lại thêm một cái “giật mình”.

    Trăng cứ tròn vành vạnh kể chi người vô tình ánh trăng im phăng phắc đủ cho ta giật mình.

    Mạch cảm xúc đi từ quá khứ đến hiện tại và lắng kết trong cái “giật mình” cuối bài thơ. Trăng hiện diện trong quá khứ, đột ngột sáng trong hiện tại và mặc nhiên vằng vặc trong suy ngẫm nhân tình.

    Vầng trăng tình nghĩa sáng trong không gian và thời gian kí ức:

    Hồi nhỏ sống với đồng với sông rồi với bể hồi chiến tranh ở rừng vầng trăng thành tri kỉ Trần trụi với thiên nhiên hồn nhiên như cây cỏ ngỡ không bao giờ quên cái vầng trăng tình nghĩa

    Con người và thiên nhiên hài hoà trong mối kết giao tri kỉ, thuỷ chung. Từ những năm tháng tuổi thơ bươn trải nhọc nhằn gắn bó với đồng, với sông rồi với bể cho đến những năm tháng chiến tranh gian khổ sống với rừng, bao giờ trăng cũng gần gũi, thân thiết. Giữa con người với thiên nhiên, với trăng là mối quan hệ chung sống, quan hệ thâm tình khăng khít. Trăng là người bạn đồng hành trên mỗi bước đường gian lao nên trăng hiện diện như là hình ảnh của quá khứ, là hiện thân của kí ức chan hoà tình nghĩa. Người ta cứ đinh ninh về sự bền chặt của mối giao tình ấy, nhưng:

    Từ hồi về thành phố quen ánh điện, cửa gương vầng trăng đi qua ngõ như người dưng qua đường

    Cuộc sống hiện đại với ánh sáng chói loà của ánh điện, cửa gương đã làm lu mờ ánh sáng của vầng trăng. Tác giả đã tạo ra sự đối lập giữa hình ảnh vầng trăng tri kỉ, tình nghĩa trong quá khứ và vầng trăng “như người dưng qua đường” trong hiện tại. Sự đối lập này diễn tả những đổi thay trong tình cảm của con người. Thủa trước, ta hồn nhiên sống với đồng, với sông, với bể, với gian lao “ở rừng”, khi ấy trăng chan hoà tình nghĩa, thiên nhiên và con người gần gũi, hoà hợp. Bây giờ, thói quen cuộc sống phương tiện đủ đầy khiến ta không còn thấy trăng là tri kỉ, nghĩa tình nữa. Nhà thơ nói về trăng là để nói thế thái, nhân tình.

    Tuy nhiên, cuộc sống hiện đại luôn có những bất trắc. Và chính trong những bất trắc ấy, ánh sáng của quá khứ, của ân tình lại bừng tỏ, là lúc người ta nhận thấy giá trị của quá khứ gian lao mà tình nghĩa, thiếu thốn mà đủ đầy:

    3. Không chỉ là sự thay thế đúng lúc của ánh trăng cho ánh điện, ở đây còn là sự thức tỉnh, bừng ngộ về ý nghĩa của những ngày tháng đã qua, của những cái bình dị của cuộc sống, của tự nhiên, là sức sống vượt ra ngoài không gian, thời gian của tri kỉ, nghĩa tình. Các từ “bật tung”, “đột ngột” diễn tả trạng thái cảm xúc mạnh mẽ, bất ngờ. Có cái gì như thảng thốt, lo âu trong hình ảnh “vội bật tung cửa sổ”. Vầng trăng tròn đâu phải khi “đèn điện tắt” mới có? Cũng như những tháng năm quá khứ, vẻ đẹp của đồng, sông, bể, rừng không hề mất đi. Chỉ có điều con người có nhận ra hay không mà thôi. Và thế là trong cái khoảnh khắc “thình lình” đối diện với trăng ấy, ân tình xưa “rưng rưng” sống dậy, thổn thức lòng người:

    Ngửa mặt lên nhìn mặt có cái gì rưng rưng như là đồng là bể như là sông là rừng

    Đối diện với trăng là đối diện với chính mình, với con người hiện tại và cả với con người trong quá khứ. Sự đồng hiện thời gian – không gian/trăng – người được thể hiện bằng ngôn ngữ lập thể. Vầng trăng mang ý nghĩa biểu tượng. Mặt trăng đối diện với mặt người, mặt trăng cũng là mặt người, là quá khứ đang sáng trong thực tại, trăng là tri kỉ, ân tình xưa,…

    4. Từ khổ thơ đầu là vầng trăng (4 lần) đến khổ thơ cuối bài là ánh trăng. Ánh trăng bất chợt soi chiếu, thản nhiên và độ lượng, sự im lặng của ánh trăng là sự im lặng của chân lí. Bình dị, mộc mạc nhưng đủ khiến “ta giật mình”. Cái chân lí giản đơn đã thành đạo lí: “Uống nước nhớ nguồn”.

    II. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG

    1. Hình ảnh thơ trong bài có tính biểu tượng. Hiểu được ý nghĩa của hình ảnh ánh trăng, mới hiểu được cảm xúc ân tình với quá khứ gian lao, tình nghĩa của tác giả và từ đó rút ra bài học về cách sống cho bản thân.

    2. Khi đọc, cần chú ý sự kết hợp hài hoà giữa yếu tố trữ tình và yếu tố tự sự trong bố cục, giữa ý nghĩa cụ thể và ý nghĩa khái quát của hình tượng thể hiện trong bài thơ.

    Theo chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài: Ánh Trăng (Ngắn Nhất)
  • Soạn Bài Ánh Trăng Ngữ Văn 9 Trang 155 (Ngắn Gọn): Em Có Nhận Xét Gì Về Bố Cục Của Bài Thơ?
  • Các Đề Văn Về Bài Ánh Trăng Của Nguyễn Duy
  • Hoàn Cảnh Sáng Tác Bài Thơ Ánh Trăng
  • Đóng Vai Người Lính Trong Bài Thơ Ánh Trăng Kể Lại Câu Chuyện
  • Soạn Bài Ánh Trăng Siêu Ngắn

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Ánh Trăng Lớp 9
  • Soạn Bài Ánh Trăng Môn Văn Lớp 9 Chi Tiết
  • Soạn Bài Thơ Ánh Trăng Của Nguyễn Duy
  • Soạn Bài Thơ Ánh Trăng Ngắn Nhất
  • Soạn Bài Ánh Trăng Tác Giả Nguyễn Duy Ngữ Văn 9
  • Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

    Câu 1 Trả lời câu 1 (trang 157 SGK Ngữ văn 9, tập 1):

    – Bố cục (3 phần)

    + Phần 1 ( hai khổ thơ đầu): Cảm nghĩ về vầng trăng trong quá khứ.

    + Phần 2 (hai khổ tiếp): Cảm nghĩ về vầng trăng trong hiện tại.

    + Phần 3 (hai khổ cuối): Suy ngẫm của tác giả về trăng.

    – Nhận xét: bố cục bài thơ diễn ra theo trình tự thời gian, sự việc nào diễn ra trước kể trước, sự việc nào diễn ra sau kể sau.

    – Hình ảnh vầng trăng trong bài thơ mang nhiều tầng lớp ý nghĩa:

    + Vầng trăng của thiên nhiên.

    + Biểu tượng cho quá khứ đẹp đẽ.

    Câu 3 Trả lời câu 3 (trang 157 SGK Ngữ văn 9, tập 1):

    + Trăng là biểu tượng cho tình nghĩa, cho tình cảm gắn bó.

    – Khổ thơ cuối thể hiện tập trung nhất ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh vầng trăng, chiều sâu tư tưởng của tác phẩm. Con người có thể vô tình, có thể lãng quên nhưng vầng trăng nghĩa tình, quá khứ thì luôn tròn đầy, nguyên vẹn và bất diệt. Ánh trăng như muốn nhắc nhở con người về quá khứ thiêng liêng, về sự bội bạc.

    – Hai khổ thơ đầu: hình ảnh vầng trăng trong quá khứ.

    Câu 4 Trả lời câu 4 (trang 157 SGK Ngữ văn 9, tập 1):

    – Hai khổ thơ sau: suy ngẫm của tác giả như một sự hối hận, tự vấn.

    – Giọng điệu tâm tình, nhịp thơ khi tuôn chảy tự nhiên, nhịp nhàng theo nhịp kể, khi ngân nga, khi trầm lắng suy tư.

    ND chính

    – Bài thơ được viết năm 1978, sau hòa bình ba năm.

    chúng tôi

    – Chủ đề: bài thơ không chỉ là chuyện của riêng nhà thơ mà có ý nghĩa đối với cả một thế hệ bởi vì nó đặt ra vấn đề về thái độ với quá khứ, với người đã khuất, với cả chính mình.

    Với tôi trăng như người bạn tri kỉ cùng tôi đi qua những năm tháng cuả tuổi thơ. Ngày ấy, tôi và trăng rất gần gũi, hồn nhiên, vô tư với nhau. Khi lớn lên, tôi tham gia chiến tranh, trăng cũng theo tôi vào ở rừng. Trong những ngày tháng gian lao ấy, trăng đã trở thành người bạn đồng hành cùng tôi qua những thăng trầm cuộc đời. Rồi hòa bình lập lại, tôi trở về thành phố với cuộc sống hiện đại, tiên nghi. Đắm chìm trong cuộc sống ấy, tôi vô tình đã lãng quên vầng trăng và quên đi cả lời hứa năm xưa của mình. Tôi đã quay lưng lại với vầng trăng, quay lưng lại với quá khứ, với thiên nhiên và chính mình. Trong một lần mất điện, tôi đã gặp lại vầng trăng. Trăng vẫn thế, vẫn tròn đầy, thủy chung và không trách cứ tôi nhưng tôi thấy thật ăn năn và hối hận vì sự vô tâm, bạc bẽo của mình.

    Bài thơ là sự nhắc nhở về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước rất bình dị, hiền hậu. Qua đó nhắc nhở người đọc phải có một thái độ sống ” Uống nước nhớ nguồn”, thủy chung ân tình với quá khứ, nhớ quên là lẽ thường tình, quan trọng là biết thức tỉnh lương.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luyện Từ Và Câu Lớp 5 Tuần 3: Luyện Tập Về Từ Đồng Nghĩa
  • Luyện Từ Và Câu: Luyện Tập Về Từ Đồng Nghĩa Trang 32
  • Soạn Bài Từ Đồng Nghĩa Lớp 7 Môn Văn Chi Tiết
  • Giải Vbt Sinh Học 8 Bài 6: Phản Xạ
  • Soạn Văn 6 Vnen Bài 9: Thứ Tự Kể Trong Văn Tự Sự
  • Soạn Bài : Tìm Hiểu Chung Về Văn Biểu Cảm

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Tìm Hiểu Chung Về Văn Biểu Cảm
  • Soạn Bài Lớp 7: Tìm Hiểu Chung Về Văn Biểu Cảm
  • Soạn Văn Lớp 7 Bài Từ Đồng Nghĩa Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Bài Từ Đồng Nghĩa
  • Soạn Bài Lớp 7: Từ Đồng Nghĩa
  • Hướng dẫn soạn văn, soạn bài, học tốt bài

    TÌM HIỂU CHUNG VỀ VĂN BIỂU CẢM

    1. Nhu cầu biểu cảm của con người

    b) Người ta đã thổ lộ tình cảm, cảm xúc gì trong các câu ca dao trên? Thổ lộ như vậy để làm gì?

    c) Khi viết thư cho bạn bè, em có bộc lộ tình cảm không? Bộc lộ như vậy để làm gì?

    2. Đặc điểm chung của văn biểu cảm

    a) Đọc hai đoạn văn sau đây và cho biết chúng biểu đạt những gì? Hãy so sánh nội dung biểu đạt của hai đoạn văn này với nội dung biểu đạt của văn tự sự và miêu tả.

    b) Theo em, tình cảm, cảm xúc trong văn biểu cảm cần phải như thế nào? Nó hướng con người ta tới cái gì? Mang ý nghĩa ra sao với cuộc sống?

    c) Ở hai đoạn văn trên, người viết đã thể hiện tình cảm của mình bằng cách nào?

    : Muốn biểu cảm được thì người viết phải biết sử dụng những cách thức cụ thể. Đó là lối bộc bạch trực tiếp tình cảm như trong đoạn văn (1); thông qua miêu tả như trong đoạn văn (2). Như vậy, bên cạnh các từ ngữ trực tiếp bộc lộ tình cảm như thương nhớ ơi, mới ngày nào … thế mà, xiết bao mong nhớ,… còn là những kỉ niệm, các hình ảnh gợi liên tưởng như giọng hát dân ca trong đêm, cánh cò, con đường làng,… cũng thể hiện sâu sắc những cung bậc cảm xúc, lay động lòng người,…

    1. Trong hai đoạn văn sau, đoạn nào là văn biểu cảm? Dựa vào đâu mà em cho là như vậy? Hãy chỉ ra nội dung biểu cảm của đoạn văn ấy.

    – Lưu ý sự việc mở đầu và kết thúc đoạn văn (2) có tác dụng phác ra không gian cụ thể, gợi những liên tưởng chân thực cho dòng cảm xúc. Vẻ đẹp của hoa hải đường được tái hiện qua một sự cảm nhận tinh tế, in đậm dấu ấn cảm xúc của tác giả. Trên thực tế, sự phân biệt rạch ròi giữa biểu cảm với tự sự, miêu tả chi mang tính tương đối. Đoạn văn về hoa hải đường cho ta thấy sự hoà trộn đến thuần thục giữa miêu tả và biểu cảm để đem lại một bức tranh về cảm xúc trước vẻ đẹp của hoa.

    2. Hãy chỉ ra nội dung biểu cảm trong bài thơ Sông núi nước NamPhò giá về kinh.

    : Bài Sông núi nước Namcó hình thức biểu cảm trực tiếp hơn bài Phò giá về kinh. Sắc thái khẳng định đanh thép chủ quyền lãnh thổ của đất nước và ý chí quyết tâm bảo vệ lí tưởng về chủ quyền ấy trước mọi kẻ thù xâm lược được bộc lộ trực tiếp, không thông qua yếu tố trung gian nào. Trong Phò giá về kinh, hai câu đầu có yếu tố tự sự, tất nhiên sự kiện ở Chương Dương và Hàm Tử là phương tiện để tác giả thể hiện hào khí chiến thắng và khát vọng thái bình thịnh trị. Xem lại phần đọc hiểu bản để nắm được phương thức biểu cảm, nội dung tình cảm ở hai bài thơ một cách cụ thể.

    3.* Một số bài văn biểu cảm hay: Cuộc chia tay của những con búp bê (Khánh Hoài), Một thứ quà của núi non: Cốm (Thạch Lam), Lao xao (Duy Khán), Cây tre Việt Nam (Thép Mới), Cô Tô(Nguyễn Tuân),…

    4. Sưu tầm và chép ra một số đoạn văn xuôi biểu cảm.

    Trước mặt cô giáo, con đã thiếu lễ độ với mẹ. Việc như thế không bao giờ con được tái phạm nữa. En-ri-cô của bố ạ! Sự hỗn láo của con như một nhát dao đâm vào tim bố vậy! Bố nhớ, cách đây mấy năm, mẹ đã phải thức suốt đêm, cúi nhìn trên chiếc nôi trông chừng hơi thở hổn hển của con, quằn quại vì nỗi lo sợ, khóc nức nở khi nghĩ rằng có thể mất con!… Nhớ lại điều ấy, bố không thể nén cơn tức giận đối với con. Hãy nghĩ xem, En-ri-cô à! Con mà lại xúc phạm đến mẹ con ư? Người mẹ sẵn sàng bỏ hết một năm hạnh phúc để tránh cho con một giờ đau đớn, người mẹ có thể đi ăn xin để nuôi con, có thể hi sinh tính mạng để cứu sống con!

    Làng tôi chẳng giống một làng nào bởi nó được ấp iu riêng trong kỉ niệm. Làng gần gụi, thiêng liêng và gợi nhớ như nỗi nôn nao của mỗi mùa thu nghe tiếng trống tựu trường, như cái giỏ tre bên hông bà ngoại trên đồng, như hương vị miếng trầu bà nội bỏm bẻm chiều nào trên chiếc võng.

    (Nguyễn Trọng Hoàn, Quê hương thời thơ ấu, báo Giáo dục thời đại, tháng 8 – 1985)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Văn Lớp 7 Bài Tìm Hiểu Chung Về Văn Biểu Cảm Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Bài Cổng Trường Mở Ra Ngắn Gọn
  • Hướng Dẫn Soạn Văn Bài Ca Côn Sơn
  • Soạn Bài Lớp 7: Bài Ca Côn Sơn
  • Soạn Bài Bài Ca Côn Sơn
  • Soạn Bài Ánh Trăng Lớp 9

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Ánh Trăng Môn Văn Lớp 9 Chi Tiết
  • Soạn Bài Thơ Ánh Trăng Của Nguyễn Duy
  • Soạn Bài Thơ Ánh Trăng Ngắn Nhất
  • Soạn Bài Ánh Trăng Tác Giả Nguyễn Duy Ngữ Văn 9
  • Soạn Bài: Ánh Trăng Trong Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 9
  • SOẠN BÀI ÁNH TRĂNG LỚP 9.

    I. Tìm hiểu chung

    1. Tác giả

    Nguyễn Duy sinh năm 1948 tên khai sinh là Nguyễn Duy Nhuệ. Quê ở Đông Vệ, Thanh Hóa.

    Năm 1966, ông gia nhập quân đội, vào binh chủng Thông tin, tham gia chiến đấu ở nhiều chiến trường. SAu 1975, ông chuyển về làm báo Văn nghệ giải phóng. Từ 1977, Nguyễn Duy là đại diện thường trú báo Văn nghệ tại Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 2007, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

    Ông được trao giải Nhất cuộc thi của báo Văn nghệ năm 1972 – 1973. Trở thành gương mặt tiêu bieru trong lớp nhà thơ trẻ tuổi thời chống Mĩ cứu nước và tiếp tục bền bỉ sáng tác

    2. Tác phẩm

    Tập thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy được tặng giải A của Hội nhà văn Việt Nam năm 1984. Bài thơ “Ánh trăng” trích từ tập ầy và được sáng tác năm 1978 ở Thành phố Hồ Chí Minh.

    II. Hướng dẫn soạn bài Ánh trăng đọc hiểu chi tiết

    Câu 1 trang 157 SGK ngữ văn 9 tập 1:

    Nhận xét bố cục: Bố cục bài thơ đi theo trình tự từ quá khứ đến hiện tại như một câu chuyện bao gồm 3 phần:

    • Phần 1 (2 khổ đầu): thời quá khứ trăng cùng người gắn bó
    • Phần 2 (2 khổ giữa): thời hiện tại con người bội bạc với vầng trăng
    • Phần 3 (2 khổ cuối): sự ăn năn của con người khi gặp lại vầng trăng tình nghĩa

    Câu 2 trang 157 SGK ngữ văn 9 tập 1:

    Hình ảnh vầng trăng trong bài thơ mang những tầng nghĩa sau:

    • Là thiên nhiên tươi đẹp: trăng vừa là trăng nhưng đồng thời trăng cũng là sông, là bể, là đồng, là thiên nhiên bao dung gần gũi, gắn bó với cuộc sống con người như một phần không thể thiếu
    • Là tuổi thơ ngọt ngào: trăng là biểu tượng cho quá khứ, cái thời còn được ngụp lặn trong dòng sông tuổi thơ, được “trần trụi với thiên nhiên, hồn nhiên như cây cỏ”
    • Là quá khứ của thời chiến đấu: đó là thời ” hồi chiến tranh ở rừng” trăng và người gắn bó thân thiết, quan hệ thân tình khăng khít, mấy ai có thể quên
    • Là tình nghĩa thủy chung: đây là điều được tập trung thể hiện ở khổ thơ cuối bài, nó làm cho bài thơ có chiều sâu về triết lí và tư tưởng

    “Trăng cứ tròn vành vạnh

    Kể chi người vô tình

    Ánh trăng im phăng phắc

    Đủ cho ta giật mình”

    Câu 3 trang 157 SGK ngữ văn 9 tập 1:

    Tác phẩm có kết cấu độc đáo. Bài thơ như một chuyện nhỏ, phát triển theo thời gian. Quá khứ hồn nhiên, trần trụi với thiên nhiên, thân thiết với vầng trăng. Hiện tại, về thành phố sống với các tiện nghi, cửa gương, điện sáng. Vầng trăng bị lu mờ coi như người dưng qua đường. Nhờ mất điện mà gặp lại vầng tẳng, giật mình về thái độ sống vô tình của mình. Chính sự giật mình là một yếu tố quan trọng. nó là sự bừng thức để soi lại bản thân, xét lại cách sống vô tình, dửng dưng quay lưng với quá khứ tốt đẹp, tình nghĩa.

    Giọng điệu tâm tình bằng thể thơ năm chữ, nhịp thơ khi tuôn chảy tự nhiên, nhịp nhàng theo nhịp kể, khi ngân nga, khi trầm lắng suy tư. Tất cả những điều đó góp phần quan trọng trong việc bộc lộ những cảm xúc sâu sa của một người lính khi nghĩ về chiến tranh về quá khứ.

    Câu 4 trang 157 SGK ngữ văn 9 tập 1:

    • Thời điểm ra đời của bài thơ: căn cứ nội dung bài thơ ta có thể xác định được thời điểm bài thơ ra đời là khoảng thời gian gần sau đại thắng 1975

    III. Luyện tập bài Ánh trăng

    Câu 1 trang 157 SGK ngữ văn 9 tập 1:

    Đọc diễn cảm bài thơ

    Câu 2 trang 157 SGK ngữ văn 9 tập 1:

    Gợi ý: sử dụng ngôi kể hợp lí và diễn cảm bằng cảm xúc chân thật và logic với mạch trong bài.

    Nguồn Internet

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Ánh Trăng Siêu Ngắn
  • Luyện Từ Và Câu Lớp 5 Tuần 3: Luyện Tập Về Từ Đồng Nghĩa
  • Luyện Từ Và Câu: Luyện Tập Về Từ Đồng Nghĩa Trang 32
  • Soạn Bài Từ Đồng Nghĩa Lớp 7 Môn Văn Chi Tiết
  • Giải Vbt Sinh Học 8 Bài 6: Phản Xạ
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Ánh Trăng

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Văn 9 Bài Ánh Trăng Vnen
  • Soạn Văn 9 Vnen Bài 12: Ánh Trăng
  • Soạn Bài Vợ Chồng A Phủ Của Tô Hoài, Ngữ Văn Lớp 12
  • Soạn Bài Vợ Chồng A Phủ Ngắn Gọn Nhất
  • Soạn Văn 12 Bài Vợ Chồng A Phủ
  • ÁNH TRĂNG

    Nguyễn Duy

    1.Tác giả :

    – Nguyễn Duy sinh năm 1948, tên khai sinh là Nguyễn Duy Nhuệ, quê ở thành phố Thanh Hóa.

    – 1966, ông gia nhập quân đội, vào binh chủng Thông tin,tham gia chiến đấu ở nhiều chiến trường.

    – Sau năm 1975, ông chuyển về làm báo Văn nghệ giải phóng. Từ năm 1977, Nguyễn Duy là đại diện thường trú báo Văn nghệ tại Thành phố Hồ Chí Minh.

    – Nguyễn Duy thuộc thế hệ các nhà thơ quân đội trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc và trở thành một trong những gương mặt tiêu biểu.

    – Thơ ông gần gũi với văn hóa dân gian, nhưng sâu sắc mà rất đỗi tài hoa, đi sâu vào cái nghĩa, cái tình muôn đời của con người Việt Nam.

    ” Thơ Nguyễn Duy sâu lắng, thắm thiết cái hồn cái vía của ca dao, dân ca Việt Nam.Những bài thơ của ông không cố gắng tìm kiếm những hình thức mới mà đi sâu vào cái nghĩa cái tình muôn đời của con người Việt Nam. Ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy cũng không bóng bẩy mà gần gũi, dân dã, đôi khi hơi “bụi”, phù hợp với ngôn ngữ thường nhật”. ( Theo “Văn lớp 9 không khó như bạn nghĩ”).

    – Năm 2007, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

    – Tác phẩm tiêu biểu: Cát trắng (1973), Mẹ và em ( 1987), Đường xa (1990), Về (1994)…

    2.Tác phẩm :

    -Nguyễn Duy viết bài thơ “Ánh trăng” vào năm 1978 ,tại thành phố Hồ Chí Minh -nơi đô thị của cuộc sống tiện nghi hiện đại, nơi những người từ trận đánh trở về đã để lại sau lưng cuộc chiến gian khổ mà nghĩa tình.

    – In trong tập thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy -tập thơ đạt giải A của Hội nhà Văn Việt Nam năm 1984.

    II. HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU BÀI

    1. Ánh trăng của Nguyễn Duy mang sức sáng nối liền quá khứ – hiện tại, là tấm gương trăng để soi lòng. Con người của gốc lúa bờ tre, của nắng nỏ trời xanh, của lời ru trọn kiếp người không đi hết, của “Nước chè tươi rót vàng mơ” ấy thường hay giật mình giữa chốn đô hội ồn ào:

    Tắc kè…

    tắc kè…

    tôi giật mình

    Chợt hiện về thăm thẳm núi non kia”

    (Nghe tắc kè kêu trong thành phố)

    2. Những năm tháng “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” đã trở thành nguồn mạch hồi ức thường trực trong tâm hồn nhà thơ. Cho nên chỉ một tiếng tắc kè kêu cũng đủ khơi cho nguồn mạch ấy dào dạt chảy. Thì ra, người vốn thiết tha với đồng quê bình dị, say sưa với ca dao hò vè cũng là người ân tình với quá khứ gian lao, nặng lòng với núi rừng một thủa. Với Ánh trăng, Nguyễn Duy lại thêm một cái “giật mình”.

    Trăng cứ tròn vành vạnh

    kể chi người vô tình

    ánh trăng im phăng phắc

    đủ cho ta giật mình.

    Mạch cảm xúc đi từ quá khứ đến hiện tại và lắng kết trong cái “giật mình” cuối bài thơ. Trăng hiện diện trong quá khứ, đột ngột sáng trong hiện tại và mặc nhiên vằng vặc trong suy ngẫm nhân tình.

    Vầng trăng tình nghĩa sáng trong không gian và thời gian kí ức:

    Hồi nhỏ sống với đồng

    với sông rồi với bể

    hồi chiến tranh ở rừng

    vầng trăng thành tri kỉ

    Trần trụi với thiên nhiên

    hồn nhiên như cây cỏ

    ngỡ không bao giờ quên

    cái vầng trăng tình nghĩa

    Con người và thiên nhiên hài hoà trong mối kết giao tri kỉ, thuỷ chung. Từ những năm tháng tuổi thơ bươn trải nhọc nhằn gắn bó với đồng, với sông rồi với bể cho đến những năm tháng chiến tranh gian khổ sống với rừng, bao giờ trăng cũng gần gũi, thân thiết. Giữa con người với thiên nhiên, với trăng là mối quan hệ chung sống, quan hệ thâm tình khăng khít. Trăng là người bạn đồng hành trên mỗi bước đường gian lao nên trăng hiện diện như là hình ảnh của quá khứ, là hiện thân của kí ức chan hoà tình nghĩa. Người ta cứ đinh ninh về sự bền chặt của mối giao tình ấy, nhưng:

    Từ hồi về thành phố

    quen ánh điện, cửa gương

    vầng trăng đi qua ngõ

    như người dưng qua đường

    Cuộc sống hiện đại với ánh sáng chói loà của ánh điện, cửa gương đã làm lu mờ ánh sáng của vầng trăng. Tác giả đã tạo ra sự đối lập giữa hình ảnh vầng trăng tri kỉ, tình nghĩa trong quá khứ và vầng trăng “như người dưng qua đường” trong hiện tại. Sự đối lập này diễn tả những đổi thay trong tình cảm của con người. Thủa trước, ta hồn nhiên sống với đồng, với sông, với bể, với gian lao “ở rừng”, khi ấy trăng chan hoà tình nghĩa, thiên nhiên và con người gần gũi, hoà hợp. Bây giờ, thói quen cuộc sống phương tiện đủ đầy khiến ta không còn thấy trăng là tri kỉ, nghĩa tình nữa. Nhà thơ nói về trăng là để nói thế thái, nhân tình.

    Tuy nhiên, cuộc sống hiện đại luôn có những bất trắc. Và chính trong những bất trắc ấy, ánh sáng của quá khứ, của ân tình lại bừng tỏ, là lúc người ta nhận thấy giá trị của quá khứ gian lao mà tình nghĩa, thiếu thốn mà đủ đầy:

    Thình lình đèn điện tắt

    phòng buyn-đinh tối om

    vội bật tung cửa sổ

    đột ngột vầng trăng tròn

    3. Không chỉ là sự thay thế đúng lúc của ánh trăng cho ánh điện, ở đây còn là sự thức tỉnh, bừng ngộ về ý nghĩa của những ngày tháng đã qua, của những cái bình dị của cuộc sống, của tự nhiên, là sức sống vượt ra ngoài không gian, thời gian của tri kỉ, nghĩa tình. Các từ “bật tung”, “đột ngột” diễn tả trạng thái cảm xúc mạnh mẽ, bất ngờ. Có cái gì như thảng thốt, lo âu trong hình ảnh “vội bật tung cửa sổ”. Vầng trăng tròn đâu phải khi “đèn điện tắt” mới có?! Cũng như những tháng năm quá khứ, vẻ đẹp của đồng, sông, bể, rừng không hề mất đi. Chỉ có điều con người có nhận ra hay không mà thôi. Và thế là trong cái khoảnh khắc “thình lình” đối diện với trăng ấy, ân tình xưa “rưng rưng” sống dậy, thổn thức lòng người:

    Ngửa mặt lên nhìn mặt

    có cái gì rưng rưng

    như là đồng là bể

    như là sông là rừng

    Đối diện với trăng là đối diện với chính mình, với con người hiện tại và cả với con người trong quá khứ. Sự đồng hiện thời gian – không gian / trăng – người được thể hiện bằng ngôn ngữ lập thể. Vầng trăng mang ý nghĩa biểu tượng. Mặt trăng đối diện với mặt người, mặt trăng cũng là mặt người, là quá khứ đang sáng trong thực tại, trăng là tri kỉ, ân tình xưa,…

    4. Từ khổ thơ đầu là vầng trăng (4 lần) đến khổ thơ cuối bài là ánh trăng. Ánh trăng bất chợt soi chiếu, thản nhiên và độ lượng, sự im lặng của ánh trăng là sự im lặng của chân lí. Bình dị, mộc mạc nhưng đủ khiến “ta giật mình”. Cái chân lí giản đơn đã thành đạo lí: “Uống nước nhớ nguồn”.

    là mong mỏi con sẽ chắp ước mơ được thấy Bác Hồ của mẹ, khao khát Tự do cho đất nước, Tự do của mẹ, Tự do cho con.

    Câu hát mỗi lúc một bay cao hơn, ước mơ của người mẹ mỗi lúc một lớn hơn, vư­ơn tới những điều đẹp đẽ, cao cả hơn, và niềm tin vững chắc, hi vọng vào t­ương lai cũng theo đó mà bay bổng, mang dáng vóc của anh hùng ca :

    – Mai sau con lớn vung chày lún sân

    – Mai sau con lớn phát mười Ka-lư­i

    – Mai sau con lớn làm người tự do.

    3. Trong sức mạnh “xẻ dọc Trường Sơn” năm xư­a, bư­ớc chân nào là bư­ớc chân của người mẹ Tà-ôi ?! Sức mạnh thần kì ấy bắt nguồn từ những nhọc nhằn, gian khó, từ những ước mơ của các mẹ đấy thôi ! Đất n­ước hài hoà nồng thắm, các mẹ lại hát ru muôn đời.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Ánh Trăng Trang 155 Sgk Văn 9
  • Soạn Bài Lớp 9: Ánh Trăng
  • Soạn Bài: Ánh Trăng (Ngắn Nhất)
  • Soạn Bài Ánh Trăng Ngữ Văn 9 Trang 155 (Ngắn Gọn): Em Có Nhận Xét Gì Về Bố Cục Của Bài Thơ?
  • Các Đề Văn Về Bài Ánh Trăng Của Nguyễn Duy
  • Soạn Bài: Ánh Trăng (Ngắn Nhất)

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Lớp 9: Ánh Trăng
  • Soạn Bài Ánh Trăng Trang 155 Sgk Văn 9
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Ánh Trăng
  • Soạn Văn 9 Bài Ánh Trăng Vnen
  • Soạn Văn 9 Vnen Bài 12: Ánh Trăng
  • – Nguyễn Duy tên khai sinh là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh năm 1948, quê ở làng Quảng Xá, nay thuộc phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa.

    – Năm 1965, từng làm tiểu đội trưởng tiểu đội dân quân trực chiến tại khu vực cầu Hàm Rồng, một trọng điểm đánh phá ác liệt của không quân Mỹ trong những năm chiến tranh Việt Nam.

    2. Sự nghiệp văn học

    – Nguyễn Duy làm thơ rất sớm, khi đang còn là học sinh trường cấp 3 Lam Sơn, Thanh Hóa.

    Khái quát tác phẩm Ánh trăng

    – Phần 1: 2 khổ đầu: Hình ảnh ánh trăng gắn bó với tuổi thơ, với những năm tháng gian khổ.

    – Phần 2: 2 khổ tiếp theo: sự xa lạ giữa người và trăng khi tác giả sống ở thành phố

    – Phần 3: 2 khổ cuối: Những cảm xúc của tác giả khi bắt gặp lại trăng và cùng những suy ngẫm của tác giả

    Soạn bài: Ánh trăng (ngắn nhất)

    Câu 1 (trang 157 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1)

    Nhận xét

    Bố cục của bài thơ được sắp xếp theo trình tự thời gian, từ quá khứ đến hiện tại, từng khổ thơ ghi lại dòng thời gian chuyển tiếp từ quá khứ đến hiện tại cuộc sống của tác giả ở thành phố.

    Nhận thấy, khổ thơ làm nên bước ngoặt để tác giả bộc lộ cảm xúc là khổ thơ thứ. Đó khi đối mặt trực tiếp với ánh trăng, ngẩng mặt nhìn lên thấy bao nhiêu là hình ảnh đã từng rất gắn bó với tác giả hiện ra.

    Câu 2 (trang 157 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1)

    Vầng trăng có nhiều tầng ý nghĩa

    – Vầng trăng: vầng trăng của thiên nhiên, vũ trụ

    – Vầng trăng: là người bạn tri kỷ của con người

    – Vầng trăng: soi chiếu, chứng minh tình cảm trong sáng của con người

    Chiều sâu tư tưởng của bài thơ được thể hiện rõ nhất ở khổ thơ cuối. Hình ảnh ánh trăng cứ soi sáng, tròn vành vạnh bao lâu nay, sống, con người lại vô tình đánh mất những giá trị xưa cũ mà thay đổi theo bước đi của thời gian, của cuộc sống. Vì những sự đổi thay và tác động của nhiều yếu tố, mà con người dường như quên mất đi hình ảnh ánh trăng bao lâu nay vẫn như thế. Câu thơ, “đủ cho ta giật mình”, đó là sự nhìn lại của tác giả, như một lời gợi nhắc, ánh trăng gợi ra những liên tưởng và nhắc nhở tác giả về tình nghĩa, về quá khứ đẹp mà tác giả dường như lãng quên. Không chỉ riêng tác giả, mà hình ảnh ánh trăng mang ý nghĩa sâu sắc tình nghĩa con người, nhắc nhở con người đừng bao giờ quên đi những gì mình đã từng có về quá quá khứ tốt đẹp.

    Câu 3 (trang 157 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1)

    Bài thơ triển khai theo trình tự thời gian, từ quá khứ đến hiện tại. Ánh trăng và tác giả cùng xuất hiện trong thời gian quá khứ, và đến hiện tại, sự vật, sự việc nhiều thay đổi, nhưng chỉ con người thay đổi, còn Ánh trăng vẫn giữ trọn hình ảnh soi sáng, tròn vành vạnh như ngày nào

    Âm hưởng bài thơ biến đổi linh hoạt theo cảm xúc, trạng thái của tác giả, khi nhẹ nhàng, khi trầm tư, khi lại thức tỉnh tác giả.

    Câu 4 (trang 157 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1)

    Bài thơ được viết vào năm 1975, tức là sau cuộc kháng chiến chống Mĩ, đất nước ta giành được hòa bình. Bấy giờ, những người chiến sĩ cách mạng nơi rừng núi trở về thành phố. Thành phố, một nơi đầy đủ tiện nghi, đèn điện, con người dường như lãng quên đi những ngày tháng tối tăm gian khó khi chiến đấu ở rừng.

    Bài thơ là lời nhắc nhở, gửi gắm sâu sắc đến tất cả mọi người, đó là không bao giờ được lãng quên đi những ngày tháng vất vả gian lao để chúng ta có được ngày hôm nay. Hơn thế nữa, phải biết nhớ ơn những người đi trước, đã chiến đấu, hi sinh để cho chúng ta một cuộc sống hòa bình, tự do, đây cũng chính là biểu hiện của đạo lí sống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta

    Một thời gian khổ, vất vả trong những ngày tháng chiến đấu, ánh tráng là người bạn gắn bó, là người bạn tri kỷ tâm tình của tôi. Nhưng, kể từ ngày hòa bình đất nước, tôi trở về với phố thị đông vui, với ánh đèn điện khắp ngõ phố, dường như hình ảnh ánh trăng trở nên xa lạ với tôi. Trăng vẫn thế, vẫn ngang qua ngõ mỗi tối, vẫn soi sáng mọi nẻo đường, vẫn tròn vành vạnh và trong sáng,… Hóa ra, tôi đã quá vô tình, cuộc sống nơi thành thị đã thay đổi con người, tôi đã lãng quên đi những ngày đầu gắn bó với trăng, với rừng với núi, với những năm tháng vất vả có nhau của tôi và trăng. Ngẩng mặt nhìn trăng, tôi bỗng giật mình, tôi nhìn thấy quá khứ hiện gần, nhìn thấy tuổi thơ gần gũi, và thấy mình thật vô tình với trăng.

    Kiến thức mở rộng bài Ánh Trăng

    1. Vầng trăng trong quá khứ

    – “Hồi chiến tranh ở rừng” – những năm tháng gian khổ, ác liệt thời chiến tranh,”vầng trăng thành tri kỉ” – trăng là người bạn thân thiết, tri âm tri kỉ, là đồng chí cùng chia sẻ những vui buồn trong chiến trận với người lính – nhà thơ.

    2. Vầng trăng trong hiện tại

    – Hoàn cảnh sống: đất nước hòa bình.

    – “Vầng trăng đi qua ngõ – như người dưng qua đường”:

    + Vầng trăng bây giờ đối với người lính năm xưa giờ chỉ là dĩ vãng, dĩ vãng nhạt nhòa của quãng thời gian xa xôi nào đó.

    – Con người gặp lại vầng trăng trong một tình huống bất ngờ:

    + Tình huống: mất điện, phòng tối om.

    3. Cảm xúc và suy ngẫm của tác giả trước vầng trăng

    – Từ “mặt” được dùng với nghĩa gốc và nghĩa chuyển – mặt trăng, mặt người – trăng và người cùng đối diện đàm tâm.

    – Với tư thế “ngửa mặt lên nhìn mặt” người đọc cảm nhận sự lặng im, thành kính và trong phút chốc cảm xúc dâng trào khi gặp lại vầng trăng: “có cái gì rưng rưng”. Rưng rưng của những niềm thương nỗi nhớ, của những lãng quên lạnh nhạt với người bạn cố tri; của một lương tri đang thức tỉnh sau những ngày đắm chìm trong cõi u mê mộng mị; rưng rưng của nỗi ân hận ăn năn về thái độ của chính mình trong suốt thời gian qua. Một chút áy náy, một chút tiếc nuối, một chút xót xa đau lòng, tất cả đã làm nên cái “rưng rưng”,cái thổn thức trong sâu thẳm trái tim người lính.

    – Và trong phút giây nhân vật trữ tình nhìn thẳng vào trăng – biểu tượng đẹp đẽ của một thời xa vắng, nhìn thẳng vào tâm hồn của mình, bao kỉ niệm chợt ùa về chiếm trọn tâm tư. Kí ức về quãng đời ấu thơ trong sáng, về lúc chiến tranh máu lửa, về cái ngày xưa hồn hậu hiện lên rõ dần theo dòng cảm nhận trào dâng, “như là đồng là bể, như là sông là rừng”. Đồng, bể, sông, rừng,những hình ảnh gắn bó nơi khoảng trời kỉ niệm.

    – Hình ảnh “trăng cứ tròn vành vạnh” là tượng trưng cho quá khứ nghĩa tình, thủy chung, đầy đặn, bao dung, nhân hậu.

    – Hình ảnh “ánh trăng im phăng phắc” mang ý nghĩa nghiêm khắc nhắc nhở, là sự trách móc trong lặng im. Chính cái im phăng phắc của vầng trăng đã đánh thức con người, làm xáo động tâm hồn người lính năm xưa. Con người “giật mình” trước ánh trăng là sự bừng tỉnh của nhân cách, là sự trở về với lương tâm trong sạch, tốt đẹp. Đó là lời ân hận, ăn năn day dứt, làm đẹp con người.

    4. Giá trị nội dung

    – Ánh trăng của Nguyễn Duy như một lời tự nhắc nhở về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước bình dị, hiền hậu.

    – Bài thơ có ý nghĩa gợi nhắc, củng cố ở người đọc thái độ sống “uống nước nhớ nguồn”, ân nghĩa thủy chung cùng quá khứ.

    5. Giá trị nghệ thuật

    – Thể thơ 5 chữ, phương thức biểu đạt tự sự kết hợp với trữ tình.

    – Giọng thơ mang tính tự bạch, chân thành sâu sắc.

    – Hình ảnh vầng trăng – “ánh trăng” mang nhiều tầng ý nghĩa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Ánh Trăng Ngữ Văn 9 Trang 155 (Ngắn Gọn): Em Có Nhận Xét Gì Về Bố Cục Của Bài Thơ?
  • Các Đề Văn Về Bài Ánh Trăng Của Nguyễn Duy
  • Hoàn Cảnh Sáng Tác Bài Thơ Ánh Trăng
  • Đóng Vai Người Lính Trong Bài Thơ Ánh Trăng Kể Lại Câu Chuyện
  • Soạn Bài Ánh Trăng (Ngắn Gọn)
  • Soạn Bài Tìm Hiểu Chung Về Văn Bản Thuyết Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Thuyết Minh Về Một Danh Lam Thắng Cảnh
  • Giáo Án Văn 8 Bài Nhớ Rừng (Tiết 1)
  • Giải Vbt Ngữ Văn 8 Trợ Từ, Thán Từ
  • Top 3 Soạn Bài Trợ Từ, Thán Từ Ngắn Nhất.
  • Giáo Án Bài Xa Ngắm Thác Núi Lư
  • Soạn bài Tìm hiểu chung về văn bản thuyết minh

    Vai trò và đặc điểm của văn bản thuyết minh

    1. Văn bản thuyết minh trong đời sống con người

    – Nội dung các văn bản :

    + VB (a) : trình bày lợi ích của cây dừa Bình Định.

    + VB (b) : giải thích nguyên nhân lá cây màu xanh.

    + VB (c) : giới thiệu đặc trưng của thành phố Huế.

    – Có thể bắt gặp các loại văn bản đó trong đời sống khi có nhu cầu hiểu biết khách quan về mọi lĩnh vực có thể tìm ở sách khoa học,…

    – Một vài văn bản cùng loại : Động Phong Nha, Thông tin về ngày Trái Đất năm 2000, Cầu Long Biên – chứng nhân lịch sử,…

    2. Đặc điểm chung của văn bản thuyết minh

    a. Các văn bản trên không giống những văn bản tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận. Vì chúng không nhằm mục đích kể, tả, bộc lộ cảm xúc hay nghị luận.

    b. Các văn bản trên cung cấp tri thức về các sự vật, hiện tượng một cách khách quan, chân thực, có ích.

    c. Phương pháp thuyết minh : trình bày, giới thiệu, giải thích.

    d. Ngôn ngữ : khách quan, chính xác, rõ ràng, chặt chẽ, hấp dẫn

    Luyện tập

    Câu 1 (trang 117 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

    Cả hai văn bản được dẫn đều là văn bản thuyết minh. Vì chúng cung cấp tri thức hữu ích cho người đọc.

    Câu 2 (trang 118 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

    Văn bản Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000 thuộc loại văn bản thuyết minh. Nội dung giải thích tác hại của việc dùng bao bì ni lông, góp phần tạo nên sức thuyết phục cho lời kêu gọi “Một ngày không dùng bao bì ni lông”.

    Câu 3 (trang 118 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

    Thuyết minh là yếu tố cần có cho tất cả các loại văn bản. Vì yếu tố thuyết minh góp phần làm sáng rõ nội dung văn bản, giúp cho nội dung trình bày mang tính chính xác, khoa học cao.

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k7: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Mĩ Thuật Lớp 8 Bài 14:ttmt Một Số Tác Giả, Tác Phẩm Tiêu Biểu Của Mĩ Thuật Việt Nam Giai Đoạn 1954
  • Soạn Mĩ Thuật Lớp 8 Bài 29: Ttmt Một Số Tác Giả, Tác Phẩm Tiêu Biểu Của Trường Phái Hội Họa Ấn Tượng
  • Giải Vbt Ngữ Văn 8 Tôi Đi Học
  • Giáo Án Văn 8 Bài Tôi Đi Học (Tiết 1)
  • Giải Vbt Công Nghệ 8 Bài 31. Thực Hành : Truyền Và Biến Đổi Chuyển Động
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100