Top #10 ❤️ Cách Giải Dị Ứng Thuốc Tây Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 10/2022 ❣️ Top Trend | Maiphuongus.net

Chữa Viêm Mũi Dị Ứng Bằng Thuốc Tây

8 Cách Cắt Nhanh Cơn Ngứa Dị Ứng, Mề Đay

Cách Điều Trị Dị Ứng Hải Sản Nhanh Chóng Và Đơn Giản

Phải Làm Gì Khi Bị Dị Ứng Hải Sản?

Kinh Nghiệm Chữa Dị Ứng Hải Sản Nhanh Nhất Tại Nhà

5 Mẹo Chữa Dị Ứng Hải Sản Nhanh Nhất Và Đơn Giản Nhất

Hiện nay có rất nhiều cách chữa viêm mũi dị ứng được áp dụng như đông y, bài thuốc dân gian, tây chúng tôi nhiên có thể nói chữa viêm mũi dị ứng bằng thuốc Tây y là phương pháp phổ biến nhất.

Những Nội Dung Cần Lưu Ý

Sở dĩ đông đảo người bệnh lựa chọn điều trị viêm mũi dị ứng bằng thuốc tây y do tính tiện lợi. Đặc điểm của bệnh là tái đi tái lại nhiều lần. Bệnh khởi phát trong điều kiện có thay đổi đột ngột về môi trường, thời tiết hoặc giảm miễn dịch… Do đó, người bệnh thường phải mang theo thuốc bên mình. Ưu điểm về sự gọn nhẹ của thuốc Tây phát huy tác dụng.

Bên cạnh đó việc sử dụng cũng thuận tiện nhẹ nhàng, không cần sắc thuốc hay chế biến thêm.

So với thuốc đông y hoặc các bài thuốc dân gian, thuốc Tây có thể bảo quản lâu hơn và dễ dàng hơn.

Đặc biệt, thuốc tây giúp giảm các triệu chứng của viêm mũi dị ứng một cách nhanh chóng hơn đáng kể so với các loại khác.

Việc chữa viêm mũi dị ứng phụ thuộc vào các triệu chứng và đặc điểm mắc bệnh. Bên cạnh việc dùng thuốc cũng cần kết hợp các yếu tố khác:

Các dị nguyên thường gặp trong bệnh này là: bụi, khí độc, phấn hoa, phấn cây cỏ,…

Dị nguyên là điều kiện cần dẫn tới phát bệnh viêm mũi dị ứng. Do đó, về lý thuyết, tránh được dị nguyên là việc cần thiết nhất trong điều trị bệnh. Tuy nhiên, trên thực tế điều này rất khó có thể thực hiện được.

Hiện nay Tây y cũng chưa có thuốc đặc hiệu điều trị viêm mũi dị ứng. Việc chữa bệnh chủ yếu là nhằm giảm bớt các triệu chứng bệnh gây ra và có tác dụng tạm thời. Bệnh chỉ được khống chế một khoảng thời gian ngắn trong và sau khi dùng thuốc.

Mục tiêu của việc sử dụng thuốc Tây là giảm tới mức tối thiểu các triệu chứng của bệnh. Và lựa chọn phương pháp điều trị viêm mũi dị ứng tối ưu nhất, ít có tác dụng không mong muốn.

Các thuốc sử dụng trong điều trị viêm mũi dị ứng rất đa dạng:

Thuốc uống: gồm các nhóm thuốc kháng histamin; thuốc cường giao cảm gây co mạch; nhóm corticoid; kháng sinh … Thuốc dùng tại chỗ: các loại thuốc xịt, thuốc hít hoặc thuốc nhỏ. Dạng này thường là các thuốc nhỏ có tác dụng làm co mạch; các loại corticoid dạng xịt chứa flutiason, hay là thuốc nhỏ mũi nước muối sinh lý.

Ngoại trừ nước muối sinh lý, các thuốc tác dụng tại chỗ thường có lợi điểm là tác dụng trực tiếp cho hiệu quả nhanh chóng. Tuy nhiên cũng cần chú ý nguy cơ phản ứng phụ, hoặc hiện tượng nhờn thuốc, nghiện thuốc…

Thuốc Corticosteroid là nhóm thuốc chứa lượng kháng sinh cao. Do đó, các bác sỹ thường hạn chế sử dụng hoặc dùng ở liều thấp. Nếu lạm dụng những thuốc này có thể gây ra những hậu quả với thận và xương. Thuốc thường chỉ được chỉ định với nhóm viêm mũi dị ứng nặng và mãn tính. Những bệnh nhân này được chỉ định sử dụng liều thấp nhất trong thời gian ngắn (5-7 ngày).

Kháng histamine giúp cải thiện các triệu chứng như chảy nước mũi, tắc mũi, khó thở. Trong đó, những thuốc kháng histamine thế hệ 1 có hiệu quả không triệt để, đồng thời có nguy cơ gặp các tác dụng phụ như tiểu buốt, tiểu rắt, buồn ngủ, khô miệng…Thuốc kháng histamine thế hệ 2 có thể khắc phục các nhược điểm kể trên, tuy nhiên lại có nguy cơ gây loạn nhịp tim.

Thuốc co mạch thường được sử dụng kèm với các thuốc kháng histamine kể trên. Tác dụng chính là giảm các triệu chứng như sưng, viêm vùng niêm mạc mũi. Do đó, thuốc có tác dụng ức chế tình trạng nhiễm trùng; đồng thời loại bỏ hoặc giảm nhẹ các biểu hiện khó chịu. Tuy nhiên nhóm này thường gây các tác dụng phụ như bồn chồn, chóng mặt, bủn rủn chân tay, buồn nôn…

Thuốc nhỏ, rửa mũi Nacl 0,9% (nước muối sinh lý) được khuyên dùng để rửa mũi, giúp giải tỏa dịch nhày trong mũi, thông thoáng đường thở và hạn chế bội nhiễm vi khuẩn.

Ngoài ra, trong trường hợp có nhiễm khuẩn, các bác sỹ cũng xem xét chỉ định các kháng sinh phù hợp

Thuốc Tây không thể chữa khỏi bệnh mà chỉ làm giảm, mất các triệu chứng.

Chỉ có thể khỏi bệnh nếu loại trừ được dị nguyên

Nên sử dụng thuốc phòng ngừa hơn là chữa viêm mũi dị ứng khi bệnh khởi phát.

Nên gặp bác sỹ chuyên khoa để được khám và tư vấn phác đồ điều trị tốt nhất

Sử dụng thuốc theo chỉ định của bác sỹ, tuyệt đối không tự ý sử dụng các thuốc điều trị viêm mũi dị ứng.

Các biện pháp dự phòng hoặc hỗ trợ điều trị cần thực hiện như: giữ ấm khi trời lạnh, tránh các tác nhân dị ứng, làm sạch, thoáng môi trường…

(Visited 125 times, 1 visits today)

Cách Chữa Dị Ứng Nổi Mề Đay Tại Nhà Nhanh Chóng

Dị Ứng Thời Tiết, Dị Ứng Cơ Địa: Triệu Chứng, Cách Chữa Hết Nổi Mẩn Đỏ

Hướng Dẫn Cách Xử Lý Khi Bị Dị Ứng Thuốc Tại Nhà

Xử Trí Khi Bị Dị Ứng Thuốc

Cách Giải Phương Trình Bậc 3 Nhanh Chóng

Xử Trí Khi Bị Dị Ứng Thuốc

Hướng Dẫn Cách Xử Lý Khi Bị Dị Ứng Thuốc Tại Nhà

Dị Ứng Thời Tiết, Dị Ứng Cơ Địa: Triệu Chứng, Cách Chữa Hết Nổi Mẩn Đỏ

Cách Chữa Dị Ứng Nổi Mề Đay Tại Nhà Nhanh Chóng

Chữa Viêm Mũi Dị Ứng Bằng Thuốc Tây

8 Cách Cắt Nhanh Cơn Ngứa Dị Ứng, Mề Đay

Dị ứng thuốc là một biến chứng rất hay gặp trong quá trình điều trị, biểu hiện lâm sàng đa dạng, phong phú với những tổn thương ở da, niêm mạc và cả ở các cơ quan nội tạng. Mọi loại thuốc đều có thể gây ra những phản ứng dị ứng, tuy nhiên dị ứng thuốc tây hay gặp nhất như thuốc kháng sinh, thuốc chống co giật, chống viêm không steroid và các thuốc điều trị gout là những thuốc có tỷ lệ gặp cao nhất gây ra các phản ứng dị ứng.

1. Dấu hiệu và triệu chứng khi xảy ra dị ứng thuốc

Các dấu hiệu và triệu chứng dị ứng thuốc kháng sinh thường xảy ra trong vòng một giờ sau khi dùng thuốc, hoặc thậm chí có thể xảy ra vài giờ, vài ngày hoặc vài tuần sau đó.

Các dấu hiệu và triệu chứng dị ứng thuốc bao gồm:

Mề đay. Các loại thuốc đều có thể gây mày đay, hay gặp nhất là kháng sinh, huyết thanh, vắc xin, NSAID… Mày đay thường là biểu hiện hay gặp và ban đầu của phần lớn các trường hợp dị ứng thuốc. Sau khi dùng thuốc vài phút, chậm có thể hàng ngày, người bệnh có cảm giác nóng bừng, râm ran một vài chỗ trên da như côn trùng đốt, sau đó xuất hiện những sẩn phù màu hồng hoặc đỏ đường kính vài milimet đến vài centimet, ranh giới rõ, mật độ chắc, hình tròn hoặc bầu dục, xuất hiện ở nhiều nơi, có thể chỉ khu trú ở đầu, mặt cổ, tứ chi hoặc toàn thân. Ngứa là cảm giác khó chịu nhất, xuất hiện sớm, thường làm người bệnh mất ngủ, càng gãi càng làm sẩn to nhanh hoặc xuất hiện những sẩn phù khác. Đôi khi kèm theo có khó thở, đau bụng, đau khớp, chóng mặt, buồn nôn, sốt cao. Mày đay dễ tái phát trong thời gian ngắn, ban vừa mất đi đã xuất hiện trở lại.

Viêm da dị ứng tiếp xúc thường do thuốc và hoá chất gây ra chủ yếu là thuốc bôi và mỹ phẩm. Viêm da dị ứng tiếp xúc thực chất là chàm (eczema), thương tổn cơ bản là mụn nước kèm theo có ngứa và tiến triển qua nhiều giai đoạn. Bệnh thường xảy ra ít giờ sau tiếp xúc với thuốc, biểu hiện ngứa dữ dội, nổi ban đỏ, mụn nước, phù nề ở chỗ tiếp xúc với thuốc.

Đỏ toàn thân. Thường gây ra do các thuốc như penicillin, ampicillin, streptomycin, sulfamid, chloramphenicol, tetracyclin, các thuốc an thần, NSAIDs… 4 – Đỏ da toàn thân là tình trạng đỏ da diện rộng trên ≥ 90% diện tích cơ thể hoặc toàn thân như tôm luộc, gồm 2 giai đoạn: đỏ da và bong vẩy trắng. Bệnh xuất hiện 2-3 ngày, trung bình 6-7 ngày, đôi khi 2-3 tuần lễ sau khi dùng thuốc. Người bệnh ngứa khắp người, sốt cao, rối loạn tiêu hoá, nổi ban và tiến triển thành đỏ da toàn thân, trên da có vẩy trắng, kích thước không đều, các kẽ tay kẽ chân nứt chảy nước vàng, đôi khi bội nhiễm có mủ.

Các triệu chứng khác bao gồm:

Các dấu hiệu và triệu chứng của sốc phản vệ bao gồm:

Co thắt đường thở và cổ họng, gây khó thở

Buồn nôn hoặc quặn bụng

Nôn hoặc tiêu chảy

Bồn chồn, hoảng hốt

Mạch nhanh nhỏ khó bắt

Hạ huyết áp

Mất ý thức

2. Ai là người dễ bị dị ứng thuốc kháng sinh?

Mặc dù bất cứ ai cũng có thể có phản ứng dị ứng với thuốc kháng sinh nhưng nếu có một vài yếu tố có thể làm tăng nguy cơ hơn, bao gồm:

Tiền sử dị ứng với các chất khác, chẳng hạn như dị ứng thực phẩm hoặc sốt hoa cỏ (tên tiếng Anh là Hay fever)

Phản ứng dị ứng với một loại thuốc khác

Tiền sử gia đình bị dị ứng thuốc

Tăng tiếp xúc với chính loại thuốc kháng sinh gây dị ứng đó, vì dùng liều cao, sử dụng lặp đi lặp lại hoặc sử dụng kéo dài

3. Làm gì khi bị dị ứng thuốc?

Gọi ngay 115 khi bạn hoặc người thân sau khi sử dụng thuốc mà có các triệu chứng của dị ứng như:

Khó thở hoặc thở khò khè

Co thắt trong cổ họng hoặc cảm giác rằng đường thở đang đóng lại

Khàn giọng hoặc khó nói

Sưng môi, lưỡi hoặc cổ họng

Buồn nôn, đau bụng hoặc nôn

Nhịp tim nhanh hoặc mạch đập

Lo lắng hay chóng mặt

Mất ý thức

Phát ban và khó thở

Các triệu chứng khác của phản ứng dị ứng nghiêm trọng (sốc phản vệ)

Các bước xử lý tiếp theo bao gồm:

Ngưng sử dụng loại thuốc gây dị ứng hoặc nghi ngờ gây dị ứng

Tiêm ngay thuốc epinephrine tự động. Chích thuốc epinephrine vào bắp thịt đùi phía ngoài, chích xuyên qua quần áo nếu cần thiết

Đặt người bệnh nằm ngửa, đầu thấp, chân cao. Nếu bị buồn nôn hoặc ói, cho người bệnh nằm nghiêng một bên, người bệnh không nên ngồi dậy hoặc đứng lên.

Không nên để người bệnh một mình

Nếu các triệu chứng của người bệnh không đỡ hơn hoặc bị tệ hơn, tiêm epinephrine lần thứ 2 sau liều thứ nhất 5 phút.

Người nhà cần chắc chắn sẽ đưa được người bệnh đến bệnh viện

4. Điều trị dị ứng thuốc tại bệnh viện

Một vấn đề cần lưu ý mang tính nguyên tắc là khuyến cáo tuyệt đối không để bệnh nhân tiếp xúc với các loại thuốc điều trị và phòng bệnh đã gây nên hiện tượng dị ứng cho bản thân họ và hạn chế sử dụng các loại thuốc khác. Về điều trị, có thể sử dụng các loại thuốc chống dị ứng kháng histamin anti H1 thế hệ 2 như cetirizin, fexofenadin, astemisol, loratadin…; trường hợp dị ứng thuốc nặng hơn có thể kết hợp với thuốc corticoid như pdnisolon, methylpdnisolon tiêm truyền; đồng thời cũng phối hợp với các thuốc điều trị triệu chứng.

Trong một số trường hợp nên bù nước và chất điện giải khi có yêu cầu, kể cả thuốc lợi tiểu. Nếu có hiện tượng bội nhiễm có thể sử dụng kháng sinh, nên lựa chọn loại kháng sinh thích hợp và bảo đảm sử dụng hợp lý, an toàn. Để phòng ngừa sốc phản vệ có thể xảy ra, cần xử trí kịp thời các trường hợp bị đỏ da, hội chứng Stevens-Johnson, hội chứng Lyell; việc xử lý can thiệp thực hiện giống như các trường hợp nặng do dị ứng thuốc, chú ý đến công tác hộ lý, hỗ trợ, giúp đỡ.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY.

Bài viết tham khảo nguồn: chúng tôi Maiphuongus.net

Cách Giải Phương Trình Bậc 3 Nhanh Chóng

6 Cách Dễ Dàng Để Chèn Ký Hiệu Delta (Δ) Trong Excel

Cách Tính Delta Và Delta Phẩy Phương Trình Bậc 2

Cách Giải Dạng Toán Tìm Hai Số Khi Biết Tổng Và Tỉ Của 2 Số Đó

Phương Pháp Giải Bài Toán Tổng Tỉ

Mối Nguy Hiểm Của Dị Ứng Thuốc & Cách Phòng Tránh

Thuốc Và Cách Chữa Trị Dị Ứng Da Tốt Nhất

Bị Dị Ứng Bột Ngọt Phải Làm Sao Để Khắc Phục Tốt Nhất?

Dị Ứng Bột Ngọt Dấu Hiệu Và Cách Chữa Trị Tốt Nhất

Dấu Hiệu Dị Ứng Bột Ngọt

Dị Ứng Bột Ngọt: Triệu Chứng Và Cách Chữa Hiệu Quả

18-01-2011

Khi dùng thuốc điều trị bệnh, bao gồm tất cả các loại thuốc tây, thuốc nam, thuốc y học dân tộc, thuốc đông y… tức là ta đưa những “chất lạ” vào cơ thể. Cơ thể ta có thể chấp nhận những “chất lạ” đó với phản ứng bình thường, không ảnh hưởng đến các quá trình sinh học khác của hoạt động sống.

Nhưng đôi khi, những hóa chất trong các thuốc điều trị lại gây ra các phản ứng quá mẫn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động khác của cơ thể. Đó là tình trạng dị ứng thuốc, có khi chỉ là các triệu chứng nhẹ như ngứa ngáy, nổi mày đay…, nhưng cũng có thể nghiêm trọng như sốc phản vệ, dẫn đến tử vong.

Dị ứng thuốc được định nghĩa là phản ứng khác thường của cơ thể khi tiếp xúc lần thứ hai hay những lần sau với một loại thuốc mà thành phần của thuốc có tính chất gọi là “gây dị ứng” (dị nguyên). I. Dị ứng thuốc có những đặc điểm gì?

Nên lưu ý một số đặc điểm của dị ứng thuốc như sau:

– Dị ứng thuốc không phụ thuộc vào liều lượng nên sẽ xảy ra dị ứng dù thuốc được dùng đúng liều hoặc thậm chí dùng rất ít. Đây là những phản ứng không đoán trước được của hệ miễn dịch. Trường hợp bị dị ứng thuốc thì hệ thống miễn dịch sẽ tạo ra mức độ nhạy thuốc cực lớn, nhất là khi dùng thuốc lần đầu nhưng cũng có trường hợp dùng thuốc lần đầu không bị dị ứng nhưng những lần tiếp theo lại có thể bị dị ứng.

– Phản ứng dị ứng chỉ xảy ra ở một số ít bệnh nhân được gọi là người dễ dị ứng hoặc người có “cơ địa dị ứng”. Cho nên, có thuốc nhiều người dùng chẳng việc gì nhưng ở người khác thì bị dị ứng, thậm chí dị ứng rất nặng.

– Trong thuốc, ngoài dược chất còn có tá dược, chất bảo quản, kể cả tạp chất và người dùng thuốc có thể bị dị ứng với bất cứ thành phần nào trong đó.

– Phản ứng dị ứng sẽ biến mất khi ngưng dùng thuốc.

– Dị ứng thuốc không phải là tác dụng phụ của thuốc. Tất cả các loại thuốc chữa bệnh đều có thể có những tác dụng phụ không mong muốn và những tác dụng phụ đó đều được ghi cụ thể bên ngoài nhãn mác, trong khi đó dị ứng thuốc lại ít xảy ra hơn, chiếm 5-10% các trường hợp điều trị.

– Dị ứng thuốc cũng không phải là trường hợp tích lũy thuốc do dùng môt số thuốc lâu dài như: thuốc có chứa thủy ngân, vàng, arsen, belladone (cà độc dược), strychnine (mã tiền).

II. Thuốc nào gây dị ứng?

– Tất cả các thuốc đều có khả năng gây ra phản ứng có hại. Trong số các loại thuốc gây dị ứng, kháng sinh là nhóm thuốc xếp “đầu bảng” chiếm tới hơn 50%. Các thuốc kháng sinh thường gây dị ứng là Penilicilin, Ampicillin, Streptomicine, Sulfonamide. Kế đến là các thuốc điều trị động kinh, thuốc giảm đau, kháng viêm, giảm sốt, vitamin, các thuốc có nguồn gốc từ chất đạm (protein, peptid) như các hormon… Một số thuốc ảnh hưởng trên hệ tim mạch như thuốc tê novocain, lidocain, vitamin C chích, vitamin B1 chích… có thể gây choáng phản vệ. Ngay cả aspirin uống cũng có thể gây choáng phản vệ. Có thuốc dùng nhiều lần trước đó không việc gì nhưng sau lại bị phản ứng.

– Đặc biệt lưu ý có hiện tượng gói là phản ứng chéo giữa thuốc gây dị ứng với thuốc khác cùng nhóm. Thí dụ, người đã bị dị ứng với kháng sinh amoxicillin thì có thể bị dị ứng với các thuốc khác nằm cùng nhóm beta-lactam (gọi là nhóm penicillin, nhóm cephalosporin). Người đã dị ứng với aspirin cũng có thể bị dị ứng với các thuốc khác nằm trong nhóm thuốc kháng viêm không steroid (NSAID).

– Dị ứng thuốc do đường uống nhiều nhất (hơn 70%), thường gây ra các hội chứng loại hình dị ứng muộn, tiếp đó là đường tiêm chích (gần 20%). Các loại thuốc nhỏ mắt, nhỏ mũi, bôi ngoài da, tẩy-nhuộm lông,tóc… cũng đều có khả năng gây ra các dị ứng tại chỗ và toàn thân như dùng đường uống, đường tiêm chích.

– Trong các trường hợp dị ứng với kháng sinh thường xảy ra, đáng lo ngại nhất là Penicillin và nhóm beta-lactam. Đây là kháng sinh đầu được tìm ra và áp dụng vào điều trị và cũng chính Penicillin gây sốc phản vệ do dùng kháng sinh.

– Sốc phản vệ là tai họa khủng khiếp, là trường hợp nặng nhất của dị ứng thuốc, có thể dẫn đến khó thở, hạ huyết áp, trụy mạch và tử vong có thể xảy ra trong vài phút nếu không cấp cứu đúng và kịp thời. Vì thế có kiến thức về tình trạng dị ứng thuốc và sốc thuốc là điều rất cần thiết cho tất cả mọi người.

– Thuốc đông y đứng thứ ba trong số các nhóm thuốc gây dị ứng. Đây thực sự là điều rất đáng báo động vì người dân vẫn thường quan niệm không những các thuốc đó lành tính, không độc mà còn mát, bổ và hợp với tạng người Việt. Vì vậy, mọi người cứ “thoải mái” sử dụng mà không cần phải đề phòng”.

– Theo các chuyên gia y tế, việc lạm dụng, chữa bệnh theo kiểu mách bảo, xem nhẹ tác dụng phụ của thuốc đông y là vấn đề hết sức nguy hiểm. Thực ra, thuốc đông y không đơn giản là lành, mát, bổ như nhiều người lầm tưởng. Thuốc tây, thuốc đông y, thuốc nam, y học dân tộc về bản chất đều như nhau, chỉ khác chăng là phương thức trích ly hoạt chất để sử dụng. Cách sử dụng thuốc đông y là đun để chiết suất ra thuốc với hàm lượng thấp, còn thuốc tây là được “hoá liệu” để tổng hợp tinh chất và hàm lượng cao hơn. Ngoài ra, việc sử dụng thuốc đông y cũng phức tạp hơn thuốc tây vì không những có dược chất chính mà còn rất nhiều chất khác nữa. Thông thường, trong mỗi thang thuốc có hàng chục vị, mà mỗi vị lại có nhiều chất khác nhau mà cho đến giờ, kể cả người bốc thuốc cũng chưa hiểu được hết tác dụng của các vị thuốc. Bên cạnh đó, người sử dụng thuốc đông y cũng có nguy cơ nhiễm độc với các loại hoá chất bảo quản như: lưu huỳnh, phosphor, thuốc chống ẩm, mốc…Tình trạng dị ứng thuốc đông y thường chậm, nhiều bệnh nhân khi đến cơ sở y tế cũng không biết mình bị dị ứng thuốc đông y.

III. Nguyên nhân dẫn đến dị ứng thuốc.

1. Tùy theo cơ địa mà người dùng thuốc có thể bị dị ứng với bất cứ thuốc nào kể cả những thuốc bổ, thuốc nam. Ở những người có cơ địa dị ứng, việc dùng thuốc gặp rất nhiều khó khăn. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy có mối liên hệ di truyền giữa cha mẹ và con cái. Nếu cha mẹ bị dị ứng thì xác suất sinh con có 50% bị dị ứng và có liên hệ với cùng một nguyên nhân dị ứng. Trường hợp cha mẹ không bị dị ứng thì tỉ lệ con mắc bệnh dị ứng chỉ là 10%. Ngoài ra, ở một số trường hợp là nhân viên y-dược bệnh viện, qua nghiên cứu người ta cũng thấy họ có nguy cơ bị dị ứng thuốc cao gấp 2,5 lần người khác.

– Có người xuất hiện các triệu chứng dị ứng thuốc ngay sau khi uống một vài giờ, nhưng cũng có khi sau một vài ngày, thậm chí hằng tuần. Đáng lưu ý là trong rất nhiều trường hợp thấy bị sốt, ngứa, nổi mày đay, bệnh nhân lại nghĩ rằng mình bị một bệnh khác và dùng thêm vài loại thuốc nữa, càng làm cho tình trạng dị ứng thuốc trầm trọng hơn.

2. Thuốc đã quá thời gian sử dụng: khi đó, chúng không chỉ hết tác dụng mà có thể biến thành chất khác, gây ngộ độc cho người sử dụng.

3. Tình trạng tự điều trị và sử dụng thuốc bừa bãi. Không ít trường hợp tự kê đơn cho mình hoặc nhờ người bán thuốc kê đơn.

– Những người bệnh trước khi uống thuốc cần phải làm thử phản ứng cơ thể với loại thuốc đó như đặt vào lưỡi, hốc mũi (thuốc uống), hoặc thử ngoài da đối với các loại thuốc tiêm, bôi thử một lượng nhỏ thuốc vào da vùng sau tai…

– Ngoài ra, có quá nhiều loại thuốc được đưa vào thị trường nhưng lại thiếu thông tin hướng dẫn sử dụng an toàn hợp lý và chúng ta chưa quản lý được các nguồn thuốc sản xuất trong nước cũng như nhập khẩu này.

IV. Vì sao cơ thể bị dị ứng thuốc?

Histamine là một chất có sẵn trong cơ thể như máu và các mô dưới dạng liên kết tĩnh điện histamine-héparine không có hoạt tính. Khi có chất lạ vào cơ thể người dễ bị dị ứng thì nối tĩnh điện này bị cắt đứt, phóng thích histamine tạo nên tác dụng dược lực tác động lên hệ tuần hoàn làm giãn mạch gây tụt huyết áp, lên tim làm tim đập nhanh, lên não gây nhức đầu do bị tăng áp lực nội sọ, lên hô hấp làm co thắt khí phế quản gây nghẹt thở, lên hệ tiêu hóa làm co thắt cơ trơn… Vì thế các thuốc chống dị ứng thường được gọi chung là nhóm kháng histamine.

Khi Histamin được phóng thích tự do trong cơ thể, hiện tượng dị ứng xảy ra được biểu hiện dưới các hình thức:

1. Dị ứng thuốc nhẹ: xuất hiện sớm ngay sau khi dùng thuốc hay trễ hơn sau đó.

– Mẩn ngứa, phát ban, nổi mề đay tại chỗ hay toàn thân, mắt ngứa, đỏ, tụt huyết áp do mao mạch bị giãn nở.

– Khó thở, hen suyễn do khí phế quản bị co thắt.

– Kích thích cơ trơn đường tiêu hóa gây co thắt, đau bụng, nôn mửa, tiêu chảy.

2. Dị ứng thuốc trầm trọng: xảy ra sau vái giờ hay vài ngày dùng thuốc: Hội chứng Lyell, hội chứng Stevens- Johnson.

3. Dị ứng thuốc nặng: “sốc” thuốc còn gọi là choáng phản vệ

– Xảy ra rất nhanh sau khi tiêm hoặc uống thuốc, bệnh nhân khó thở, tím tái, trụy tim mạch. Đây là trường hợp dễ dẫn đến tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời.

– Có nhiều triệu chứng dị ứng thuốc không có biểu hiện rõ ràng mà người bệnh không thể nào biết như sau khi uống thuốc bị rối loạn tiền đình, suy thận,mất tế bào máu…

V. Các nhóm bệnh lý dị ứng thuốc

Dị ứng thuốc thuộc nhóm bệnh lý quá mẫn, được chia thành 4 nhóm:

2. Type II: Phản ứng quá mẫn độc tế bào, xảy ra do cơ thể bị kích thích sinh quá nhiều kháng thể (IgM và IgG) dị ứng chống tế bào của chính mình, kết hợp với kháng nguyên (thuốc) tạo ra phức hợp miễn dịch kháng nguyên – kháng thể. Các bệnh phổ biến thuộc nhóm này là tan máu tự nhiên, giảm tiểu cầu tự miễn sau truyền máu, hạ bạch cầu hoặc do thuốc (hội chứng Stevens-Johnson, hội chứng Lyell).

3. Type III: Nhóm quá mẫn do phức hợp miễn dịch kháng nguyên – kháng thể lắng đọng ở thành mạch máu nhỏ gây viêm mao mạch, kết dính tiểu cầu gây tắc nghẽn, thiếu máu, hoại tử các mô. Kháng thể là IgG, IgM. Bệnh thường xảy ra 5-7 ngày sau khi dùng thuốc, gặp trong bệnh huyết thanh, viêm mao mạch do thuốc với các biểu hiện viêm mao mạch, mề đay, viêm khớp, viêm thận, thiếu máu tán huyết, mất bạch cầu hạt, viêm cơ tim, viêm đa dây thần kinh.

4. Type IV: Nhóm quá mẫn chậm qua trung gian tế bào do phản ứng quá mức của tế bào Lympho T đối với đáp ứng miễn dịch. Thường gặp trong viêm da tiếp xúc dị ứng, hồng ban cố định nhiễm sắc và bệnh chàm do thuốc.

VI. Làm thế nào để phòng ngừa dị ứng thuốc?

– Chỉ nên dùng thuốc điều trị bệnh theo đúng toa chỉ định của bác sĩ, không tự ý mua thuốc để tự điều trị cũng như giới thiệu thuốc điều trị cho người khác vì đơn giản nghĩ rằng họ có bệnh lý giống mình. Việc sử dụng thuốc đúng hướng dẫn của bác sỹ điều trị và được theo dõi, chăm sóc là điều cần thiết nhằm giảm thiểu các phản ứng có hại của thuốc.

Dùng thuốc theo đúng chỉ định của bác sĩ & ngưng sử dụng thuốc, gặp bác sĩ ngay khi có phản ứng bất thường xảy ra – Khi đã bị dị ứng loại thuốc nào thì tuyệt đối không được dùng loại thuốc đó nữa.

– Dị ứng thuốc là tình trạng xảy ra ngoài ý muốn của bác sĩ điều trị cũng như của bệnh nhân. Khi đang dùng thuốc, nếu xảy ra các phản ứng bất thường như ngứa, nổi mề đay, khó thở, hoặc cảm thấy khó chịu thì lập tức ngưng sử dụng thuốc đó, đến khám ngay ở cơ sở y tế gần nhất để có thể được cấp cứu hay được hướng dẫn xử trí thích hợp. Sau đó, ta nên đến tái khám ở bác sĩ đã chỉ định thuốc để bác sĩ có thể thay đổi thuốc điều trị nếu cần. Các biện pháp dân gian như uống nước đậu xanh để giã thuốc, uống nước chanh, lòng trắng trứng… đều chưa có cơ sở khoa học để chứng minh.

Việc dùng thuốc chống dị ứng chỉ mang tính chất tạm thời để giải trừ tác động của Histamin trong cơ thể chứ không giải quyết được căn nguyên dị ứng.

Nên nhớ rằng tình trạng dị ứng đối với một loại thuốc xảy ra ở những lần sau đều trầm trọng hơn lần trước!

– Khi đi khám bệnh ở bác sĩ hoặc đến nhà thuốc mua thuốc thì phải thông báo cho bác sĩ hoặc dược sĩ biết những loại thuốc mà mình đã bị dị ứng trước đây và những loại thuốc hiện đang dùng để được hướng dẫn sử dụng thuốc hợp lý, an toàn.

VII. Các dạng biểu hiện bệnh lý hay gặp trong dị ứng thuốc:

1. Ban đỏ (Exanthems):là dạng ban sẩn hoặc ban dạng sởi, nhỏ như đầu đinh ghim ở thân mình và có thể liên kết lại với nhau tạo thành mảng, người bệnh thường ngứa, thời gian xuất hiện sau dùng thuốc thường khoảng 1 tuần và tồn tại đến một vài tuần. Những thuốc hay gây dị ứng dạng này là: ampicillin, amoxycillin, cotrimoxazole, carbamazepine, cefaclor, những thuốc bôi ngoài da, những thuốc có khả năng khuếch tán trong môi trường (các mỡ kháng sinh, chống viêm, bảo vệ da, tiếp xúc trực tiếp với thuốc trong công nghệ sản xuất thuốc, khí dung kháng sinh…).

2. Viêm da bong vảy (Exfoliative dermatitis): là dạng ít gặp với biểu hiện đỏ da bong vảy và ngứa toàn thân. Bệnh có thể tiến triển nặng nề và có thể đe doạ đến tính mạng người bệnh. Dạng này thường xuất hiện sau dùng thuốc khoảng 1 tuần và tồn tại trong 3 – 4 tuần. Các thuốc hay gây dị ứng dạng này là: allopurinol, thuốc chống sốt rét, giảm đau, hạ nhiệt, carbamazepine, penicillin, streptomycin, chloramphenicol, tetracyclin và sulfonamide.

3. Mày đay (Urticaria):Thường là biểu hiện lâm sàng nhẹ và ban đầu của phần lớn các trường hợp dị ứng thuốc. Các loại thuốc đều có thể gây mày đay, hay gặp hơn là kháng sinh, văcxin, huyết thanh, thuốc chống viêm giảm đau, hạ sốt… Sau khi dùng thuốc (nhanh từ 5-10 phút, chậm có thể vài ngày), người bệnh cảm thấy nóng bừng, ngứa, trên da nổi ban cùng sẩn phù, có thể kết hợp với phù mạch, phù nề mi mắt, môi. Trường hợp nặng có thể có khó thở, đau bụng, đau khớp, chóng mặt, buồn nôn, đau đầu, mệt mỏi, sốt cao…

Mày đay cấp thường biểu hiện tăng sẩn phù, mất đi nhanh và xuất hiện lại cũng nhanh, diễn biến trong thời gian dưới 3 tuần. Mày đay diễn biến hằng ngày, kéo dài hơn 3 tuần là đã chuyển thành mạn tính.

Những thuốc hay gây dị ứng dạng này là: kháng sinh, đặc biệt là penicillin, thuốc khác: captopril và các thuốc ức chế men chuyển khác, thuốc chống viêm giảm đau không – steroid (NSAIDs) bao gồm cả aspirin, và các thuốc quinine.

4. Phù Quincke (Quincke’s oedema): Là tình trạng phù cục bộ, có thể do kháng sinh, văcxin, huyết thanh, các thuốc chống viêm không steroid… Phù thường xuất hiện nhanh sau khi dùng thuốc ở những vùng da mỏng, môi, cổ, quanh mắt, bụng, các chi, bộ phận sinh dục… Kích thước phù Quincke thường to, có khi bằng bàn tay, nếu ở gần mắt làm cho mắt híp lại, ở môi làm môi sưng to, biến dạng. Màu da vùng phù bình thường hoặc hơi hồng nhạt, đôi khi phối hợp với mày đay. Trường hợp phù Quincke ở họng, thanh quản, người bệnh có thể bị nghẹt thở; ở ruột, dạ dày gây đau bụng; ở não gây đau đầu…

5. Da nhạy cảm ánh sáng (Photosensitivity): bình thường da không nhạy cảm với ánh sáng. Khi dùng một số loại thuốc thường là các loại như: ức chế men chuyển, NSAIDs, quinolone, nalidixic acid, phenothiazine, tetracycline, griseofulvin, amiodarone, sulfonamide và thiazide thì da trở nên tăng nhạy cảm với ánh sáng và bị tổn thương như: đỏ da giống bị phỏng, sạm da, đen da hoặc mất sắc tố da vv… Vị trí ở các vùng da hở như: mặt, cổ, mu bàn tay, mu bàn chân. Mức độ tổn thương phụ thuộc vào liều thuốc sử dụng và thời gian tiếp xúc với ánh nắng.

6. Hồng ban đa dạng (Erythema multiforme): Bệnh bắt đầu sau một vài ngày dùng thuốc với những biểu hiện: sốt nhẹ, mệt mỏi, đau khớp, sưng hạch, có cảm giác nóng bỏng toàn thân. Tổn thương là các hồng ban hình bia bắn điển hình có ba vòng tròn đồng tâm: ngoài cùng là vòng ban đỏ, tiếp trong là sẩn đỏ phù nề , ở giữa là mụn nước nhỏ hoặc vỡ, trợt, hoại tử. Bệnh có thể kèm theo tổn thương niêm mạc các hốc tự nhiên, tổn thương nội tạng (tim, gan, thận…), tái phát nhiều đợt; trường hợp nặng có thể gây tử vong.

Nguyên nhân do thuốc gây hồng ban đa dạng chỉ chiếm khoảng 10%, các thuốc thường gây hồng ban đa dạng là: ức chế men chuyển, allopurinol, carbamazepine, phenytoin, NSAIDs, penicillins, sulfonamide và tetracyclin

7. Viêm mao mạch (Cutaneous vasculitis necrolysis): là tình trạng viêm hoại tử các mao mạch ngoài da do các thuốc như: Ức chế men chuyển, NSAIDs, allopurinol, penicillins, sulfonamides và thiazides lợi tiểu. Biểu hiện ngoài da là các ban xuất huyết sờ thấy được trên mặt da. Ngoài ra thuốc còn có thể gây viêm mạch nội tạng và gây nguy hiểm hơn cho người bệnh.

8. Ban dạng lichen (Lichenoid eruptions): gọi tên này bởi vì tổn thương ngoài da giống lichen phẳng: là các sẩn màu hơi tím, phẳng, trên đó có các rãnh, khía…tổn thương có thể liên kết thành mảng lớn. Các thuốc hay gây dị ứng dạng này là: thuốc chẹn beta, thuốc ức chế men chuyển, thuốc chống sốt rét, furosemide, thiazides, chlorpropamide, methyldopa, phenothiazine và quinidine.

9. Hồng ban cố định nhiễm sắc (Fixed drug eruptions): là dạng dị ứng thuốc biểu hiện ở vị trí cố định trên da, thường là các vị trí liên kết da – niêm mạc. Tổn thương là các dát sẫm màu ranh giới rất rõ với da lành, số lượng thường chỉ 1 hoặc vài tổn thương. Xuất hiện lại tại đúng vị trí lần trước, sau khi uống thuốc khoảng 30 phút đến 8 giờ kèm theo cảm giác nóng rát hoặc châm chích tại vị trí tổn thương. Các thuốc thường gây dị ứng loại này là: tetracycline, sulfonamide, NSAIDs, paracetamol, phenolphthalein và barbiturat.

10. Chứng mất bạch cầu hạt (Agranulocytosis): Có thể xuất hiện sau khi người bệnh dùng các thuốc như: sulfamid, penicillin liều cao, streptomycin, pyramidon, chloramphenicol, analgin… Bệnh cảnh lâm sàng điển hình: sốt cao đột ngột, mệt mỏi, sức khỏe giảm sút nhanh, nổi ban dạng sởi, dạng xuất huyết, loét hoại tử niêm mạc miệng, mũi họng, cơ quan sinh dục, viêm phổi, viêm tắc tĩnh mạch, nhiễm xuất huyết, dễ dẫn tới tử vong.

11. Bệnh huyết thanh (Serum sickness): Là một tai biến dị ứng thuốc hay gặp, chủ yếu là do kháng sinh như penicillin, ampicillin, streptomycin… và một số thuốc khác. Bệnh thường xuất hiện vào ngày thứ hai đến ngày thứ 14 sau khi dùng thuốc với biểu hiện mệt mỏi, chán ăn, mất ngủ, buồn nôn, đau khớp, sưng nhiều hạch, sốt cao 38-39 độ C, gan to, nổi ban mày đay khắp người. Nếu phát hiện kịp thời và ngừng ngay việc dùng thuốc, các triệu chứng trên sẽ dần hết.

12. Sốc phản vệ (Anaphylactic shock): Là tai biến dị ứng nghiêm trọng, dễ gây tử vong. Khá nhiều loại thuốc có thể gây sốc phản vệ như kháng sinh (thường gặp khi tiêm chích Penicillin, Streptomycin), văcxin, huyết thanh, các thuốc chống viêm không steroid, tinh chất gan, một số loại viamin, thuốc gây tê, thuốc cản quang có iode…

– Bệnh cảnh lâm sàng sốc phản vệ khá đa dạng, thông thường có thể xảy ra ngay sau khi dùng thuốc vài giây cho đến 20-30 phút, khởi đầu bằng cảm giác lạ thường (tê môi, lưỡi, bồn chồn, sợ hãi…). Tiếp đó là sự xuất hiện nhanh các triệu chứng như khó thở, mạch nhanh nhỏ, huyết áp tụt (có khi không đo được), ngứa ran khắp người, đau quặn bụng, tiểu tiện, đại tiện không tự chủ. Trong thể cấp tính người bệnh có thể hôn mê, nghẹt thở, rối loạn nhịp tim, ngừng tim và tử vong sau ít phút.

13. Hội chứng Stevens-Johnson (Stevens-Johnson syndrome): Thường do các thuốc kháng sinh penicillin, ampicillin, streptomycin, tetracylin, allopurinol, zyloric, các sulfamid chậm, an thần, chống viêm không steroid. Sau khi dùng thuốc từ vài giờ đến 10-15 ngày, người bệnh mệt mỏi, ngứa khắp người, có cảm giác nóng ran, sốt cao, nổi ban đỏ, nổi bọng nước trên da, viêm loét hoại tử niêm mạc các hốc tự nhiên (miệng, mắt, mũi, tai, hậu môn, sinh dục, tiết niệu) và có thể kèm theo tổn thương gan thận, nếu nặng có thể gây tử vong.

BS. LÊ ĐỨC THỌ

Trưởng khoa Da Liễu – BV Hoàn Mỹ Sài Gòn

14. Hội chứng Lyell (Toxic epidermal necrolysis): Là tình trạng nhiễm độc hoại tử thượng bì nghiêm trọng nhất do dị ứng các thuốc như sulfamid chậm, allopurinol, zyloric, carbamazepin, phenytoin, nevirapine, barbiturate, penicillin, ampicillin, streptomycin, tetracylin, cephalosporin, analgin, phenacetin… Bệnh diễn biến từ vài giờ đến vài tuần sau khi dùng thuốc. Người bệnh mệt mỏi, choáng váng, mất ngủ, sốt cao, ngứa khắp người, trên da xuất hiện các mảng đỏ, đôi khi có những chấm xuất huyết; vài ngày sau, có khi sớm hơn, lớp thượng bì tách khỏi tổ chức da, khẽ động đến là tuột từng mảng, tương tự hội chứng bỏng toàn thân. Bệnh nhân có thể bị viêm loét các hốc tự nhiên, viêm phổi, màng phổi, viêm gan, thận, rối loạn nước điện giải, rối loạn chuyển hóa, nhiễm độc, nhiễm trùng. Tình trạng người bệnh thường rất nặng, nhanh dẫn đến tử vong.

Dị Ứng Hải Sản Cần Kiêng Gì Và Nên Làm Gì?

Bí Quyết Hay Trị Ngay Dị Ứng Hải Sản

Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Cách Xử Lý Khi Bị Dị Ứng Hải Sản

Khi Bị Dị Ứng Hải Sản Cần Biết Điều Này

Cách Chữa Dị Ứng Tôm

Giúp Bệnh Nhân Gút Đối Phó Với Dị Ứng Thuốc

Xử Trí Dị Ứng Thuốc Allopurinol Trong Điều Trị Bệnh Gút

Tác Dụng Phụ Của Thuốc Chữa Bệnh Gout Allopurinol Bạn Nên Biết

Cách Chữa Bệnh Gout Bằng Lá Tía Tô Đơn Giản

Ngâm Chân Giải Cảm Bằng Lá Tía Tô Như Thế Nào Tốt?

Cách Trị Cảm Cúm Bằng Lá Tía Tô Hiệu Quả Nhất Cho Mọi Người

Allopurinol là hoạt chất được coi như “vũ khí lợi hại”, biện pháp chính để làm giảm axit uric máu, yếu tố nguy cơ quan trọng nhất của bệnh gout (gút), có thể dùng cho mọi bệnh nhân gút. Dị ứng với allpourinol tuy chỉ gặp ở khoảng 5% số người sử dụng thuốc này nhưng đây lại là một điều rất không may cho bệnh nhân gút, vì họ sẽ phải chật vật thực hiện biện pháp khác thay thế để làm giảm bớt tiến triển xấu của bệnh gút.

Axit uric là một sản phẩm của quá trình chuyển hoá protid trong cơ thể, khi được tăng tổng hợp hoặc giảm đào thải ra khỏi cơ thể, nồng độ trong máu sẽ tăng lên và khi bị bão hòa sẽ tạo thành các tinh thể. Sự lắng đọng các tinh thể axit uric ở khớp hoặc tổ chức liên kết gây ra triệu chứng của bệnh gút như: khớp bị viêm tấy, sưng nóng đỏ, đau nhức và hạn chế vận động. Nồng độ axit uric trong máu càng cao thì nguy cơ xuất hiện viêm khớp cấp do gút càng lớn.

Tổn thương do bệnh gút ở bàn chân.

Các biện pháp điều trị giảm nồng độ axit uric máu có vai trò quan trọng phòng ngừa những đợt cấp của bệnh gút và hạn chế các biến chứng mạn tính của bệnh như sỏi thận, suy thận mạn, tiêu xương… Đáp ứng mục tiêu này, thuốc allopurinol đã được bác sĩ cho người bệnh gút sử dụng rộng rãi và có hiệu quả trong nhiều năm qua nhờ tác dụng giảm tổng hợp và tăng đào thải axit uric qua nước tiểu. Allopurinol không phải là thuốc kháng viêm giảm đau nên không dùng lúc bệnh nhân đang có cơn viêm khớp gút cấp. Thuốc được sử dụng đều đặn, dài hạn (suốt đời) nhằm giữ cho lượng acid uric máu của người bệnh luôn ở mức bình thường, ngăn ngừa tái phát các đợt viêm khớp gút cấp, ngăn ngừa các biến chứng thận của bệnh gút, nên được coi là thuốc chữa bệnh gút.

Tuy nhiên, cũng như mọi thuốc, bên cạnh tác dụng điều trị, allopurinol có thể gây nên những phản ứng không mong muốn như dị ứng, viêm gan nhiễm độc, xáo trộn chức năng gan, buồn nôn, đau bụng, tiêu chảy, chóng mặt… Dị ứng allopurinol là biểu hiện dễ gặp, thường xuất hiện sau dùng thuốc từ vài ngày đến vài tuần, hiện tượng này có thể nhẹ như nổi mẩn, ngứa nhưng cũng có thể nặng nề như tăng men gan, viêm thượng bì hoại tử, hội chứng Stevens Jonhson… Những phản ứng dị ứng nặng (hiếm gặp) thường xảy ra ở người có suy thận hoặc khi dùng cùng thuốc lợi tiểu thiazide.

Phải làm gì khi dị ứng allopurinol?

Xử trí dị ứng thuốc allopurinol bao gồm hai vấn đề cơ bản là điều trị tình trạng dị ứng và tìm biện pháp thích hợp để hạ axit uric máu.

Để điều trị dị ứng: người bệnh cần ngừng sử dụng allopurinol, chăm sóc tổn thương da, niêm mạc, truyền dịch, dùng các thuốc chống dị ứng (như cetirizin, loratadin, chlorpheniramin…). Các loại glucocorticoid (pdnisolon, methylpdnisolon) chỉ nên sử dụng trong những trường hợp dị ứng nặng.

Nếu dị ứng nặng, bệnh nhân sẽ phải ngừng sử dụng allopurinol suốt đời. Nếu dị ứng nhẹ, thầy thuốc có thể làm phương pháp giải mẫn cảm allopurinol (cho liều nhỏ, tăng dần) cho người bệnh, nếu không bị dị ứng nữa bệnh nhân sẽ được tiếp tục dùng thuốc, nếu vẫn tiếp tục bị dị ứng, người bệnh sẽ phải ngưng dùng thuốc.

Sau khi tình trạng dị ứng đã ổn định, cần tìm ra phương pháp hạ axit uric máu thích hợp và an toàn. Trước khi quyết định điều trị giải mẫn cảm với allopurinol, nên áp dụng các phương pháp hạ axit uric khác. Đó là những biện pháp không dùng thuốc như: hạn chế ăn đạm, giảm lượng đạm tiêu thụ hàng ngày, kiêng bia rượu. Uống các loại nước khoáng có bicarbonate, ăn nhiều rau xanh, uống nhiều nước để tăng thải axit uric ra đường tiểu. Đặc biệt, người bệnh gút cần tránh sử dụng aspirin liều thấp, thuốc lợi tiểu và những thuốc làm tăng nồng độ axit uric máu.

Giải pháp thay thế allopurinol: Hiện nay rất ít thuốc có thể thay được allopurinol, vì vậy dị ứng với allopurinol là một điều không may cho người bệnh đồng thời làm đau đầu các bác sĩ điều trị. Dùng thuốc thay thế khi dị ứng với allopurinol gồm:

Dùng febuxostat – một chất ức chế men xathine oxydase có thể thay thế allopurinol (khi dị ứng allopurinol). Febuxostat có hiệu quả gần tương đương allopurinol và tương đối an toàn vì không có mẫn cảm chéo với allopurinol nhưng giá thành tương đối cao. Trong trường hợp cần thiết có thể phối hợp hai thuốc này với nhau để tăng tác dụng điều trị.

Các thuốc làm tăng thải axit uric qua nước tiểu như probenecid và sulfinpyrazone có thể sử dụng ở bệnh nhân có chức năng thận còn tốt. Tuy nhiên, các thuốc này có nhiều tác dụng phụ và chống chỉ định (bệnh nhân lớn tuổi, bệnh nhân suy thận, bệnh nhân có sỏi thận…).

Khi đang dùng allopurinol người bệnh cần lưu ý các tương tác thuốc

Thuốc làm tăng khả năng dị ứng của allopurinol, được khuyến cáo không dùng khi bệnh nhân đang dùng allopurinol: Thận trọng khi dùng các thuốc ức chế men chuyển (đặc biệt là captopril) vì thuốc này làm tăng khả năng dị ứng với allopurinol. Không nên dùng corticosteroids và aspirin dài ngày vì hai loại thuốc này ảnh hưởng không tốt đến bệnh và gây tăng axit uric máu. Không dùng các thuốc lợi tiểu thiazide vì cản trở thải acid uric qua đường tiểu và tăng khả năng dị ứng alopurinol.

Hơn nữa, khi đang dùng alopurinol người bệnh còn được khuyên không nên dùng kháng sinh nhóm beta lactam (bao gồm các loại penicilline và cephalosporine, trong đó hay gặp nhất là ampicilline và amoxyclline), vì allopurinol làm tăng khả năng dị ứng của các kháng sinh này lên nhiều lần.

Đặc biệt lưu ý, allopurinol là thuốc sử dụng dài hạn nhưng người bệnh không thể tự dùng mà luôn luôn cần sự theo dõi và kiểm soát của thầy thuốc để điều chỉnh liều lượng cho hợp lý, tránh các tương tác bất lợi và tránh các tác dụng có hại của thuốc, đặc biệt là dị ứng với thuốc.

Allopurinol An Toàn Và Hiệu Quả Trong Điều Trị Bệnh Gút

Cách Chữa Cảm Lạnh Sau Sinh Đơn Giản, Hiệu Quả Nhất

Cách Pha Trà Gừng Mật Ong Và Nấu Cháo Gừng Giải Cảm Cho Bé

Lý Giải Lý Do Mẹ Bị Ngứa Sau Sinh Và Cách Điều Trị Không Ảnh Đến Sữa Cho Bé Bú

Hướng Dẫn Các Mẹ Cách Xông Hơi Giải Cảm Cho Trẻ Nhỏ Hiệu Quả Nhất

🌟 Home
🌟 Top