Xem Nhiều 1/2023 #️ Soạn Sinh Học 6 Bài 36: Tổng Kết Về Cây Có Hoa (Ngắn Gọn Nhất) # Top 3 Trend | Maiphuongus.net

Xem Nhiều 1/2023 # Soạn Sinh Học 6 Bài 36: Tổng Kết Về Cây Có Hoa (Ngắn Gọn Nhất) # Top 3 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Sinh Học 6 Bài 36: Tổng Kết Về Cây Có Hoa (Ngắn Gọn Nhất) mới nhất trên website Maiphuongus.net. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

 1. Bài 36: Tổng kết về cây có hoa

1.1. Trả lời câu hỏi SGK

Trả lời câu hỏi Sinh 6 Bài 36 trang 116: 

Chọn các mục tương ứng giữa chức năng và cấu tạo của mỗi cơ quan rồi ghi vào sơ đồ H.36.1

Lời giải:

1-c, 2-e, 3-d, 4-b, 5-g, 6-a

Trả lời câu hỏi Sinh 6 Bài 36 trang 117:

– Có nhận xét gì về mối quan hệ giữa cấu tạo và chức năng của mỗi cơ quan?

– Qua các thông tin trên, cho biết giũa các cơ quan ở cây có hoa có mối quan hệ như thế nào?

Lời giải:

* Nhận xét: Sự phù hợp giữa cấu tạo và chức năng tạo nên một thống nhất.

– Rễ có chức năng hút nước và các chất dinh dưỡng cho cây.

– Thân : vận chuyển nước và muối khoáng từ rễ lên lá và vận chuyển các chất ngược lại các chất hữu cơ mà lá tổng hợp được đến các bộ phận khác của cây.

– Lá: Thu nhận ánh sáng, tổng hợp chất hữu cơ, trao đổi khí với bên ngoài và thoát hơi nước.

– Hoa: Thực hiện thụ phấn, thụ tinh, kết hạt và tạo quả.

– Quả: Bảo vệ hạt và giúp phần phát tán hạt.

– Hạt: Nảy mầm thành cây con, duy trì và phát triển nòi giống.

* Giữa các cơ quan của cây có hoa có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động đến một cơ quan sẽ ảnh hưởng đến cơ quan khác và toàn bộ cây.

1.2. Giải bài tập SGK

Bài 1 (trang 117 sgk Sinh học 6): 

Cây có hoa có những loại cơ quan nào ? Chúng có chức năng gì ?

Lời giải:

*) Rễ

– Giữ cây bám vào đất.

– Hấp thu nước và muối khoáng cho cây.

*) Thân

– Vận chuyển nước và muối khoáng từ rễ lên lá và vận chuyển chất dinh dưỡng từ lá đến các bộ phận của cây.

– Nâng lá lên cao để thuận tiện quang hợp và nâng hoa lên cao để thuận tiện thụ phấn.

*) Lá

*) Hoa

*) Quả

*) Hạt

Bài 2 (trang 117 sgk Sinh học 6): 

Trong một cơ quan và giữa các cơ quan của cây có hoa có những mối quan hệ nào để cây thành một thể thống nhất? Cho ví dụ.

Lời giải:

   + Các bộ phận trong cùng một cơ quan có tác động qua lại lẫn nhau để giúp cơ qan đó thực hiện được chứa năng riêng.

     Ví dụ: Lá cây có nhiệm vụ chính là quang hợp. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này cần sự phối hợp của các loại tế bào ở lá. Các tế bào biểu bì bảo vệ lá tránh bị tổn thương bởi ánh sáng quá mạnh. Các tế bào mô giậu hấp thụ năng lượng ánh sáng để diệp lục có thể sử dụng năng lượng đó làm nên chất hữu cơ. Tế bào mô xốp dự trữ chất dinh dưỡng. Gân lá cung cấp nước, khoáng và vận chuyển chất dinh dưỡng vào hệ thống mạch rây ở thân. Các tế bào khí khổng giúp thoát hơi nước để làm mát lá và hấp thụ khí CO2.

   + Trong hoạt động sống của cây các cơ quan có mối quan hệ chặt chẽ với nhau để cùng giúp cây phát triển ổn định.

     Ví dụ: Cây muốn sống và sinh trưởng tốt thì lá cây phải quang hợp. Nhưng lá sẽ không thể quang hợp nếu: rễ cây không hấp thu được nước và muối khoáng, hoặc mạch rây không vận chuyển nước và muối khoáng tới lá, hoặc thân không vươn cao để giúp lá lấy được nhiều ánh sáng mặt trời,…Như vậy, tác động vào một cơ quan sẽ ảnh hưởng tới hoạt động của cơ quan khác và toàn bộ cây.

Bài 3 (trang 117 sgk Sinh học 6): 

Hãy giải thích vì sao rau trồng trên đất khô cằn ít được tưới bón thì lá thường không xanh tốt, cây chậm lớn, còi cọc, năng suất thu hoạch sẽ thấp ?

Lời giải:

     Rau trồng trên đất khô cằn ít được tưới bón lá thường không xanh tốt, cây chậm lớn, còi cọc, năng suất thu hoạch sẽ thấp vì:

     + Đất khô cằn, ít được tưới bón sẽ ít nước và chất dinh dưỡng, rễ không thể lấy được nước và muối khoáng cho cây.

     + Cây không có nước và khoáng sẽ không thể tự tổng hợp chất dinh dưỡng để phát triển do đó cây sẽ còi cọc, chậm lớn, cho năng suất thấp.

     + Lá cây không có các chất khoáng cần thiết sẽ không thể tổng hợp được diệp lục nên lá thường không xanh tốt, làm giảm hiệu suất quang hợp, không tạo được đủ chất dinh dưỡng cần thiết.

1.3. Trò chơi giải ô chữ sinh học lớp 6 bài 36

1. Bốn chữ cái : Tên một loại chất lỏng quan trọng mà rễ hút vào cây.

2. Bốn chữ cái : Tên một cơ quan sinh dưỡng có chức năng vận chuyển nước, muối khoáng từ rễ lên lá và vận chuyển các chất hữu cơ do lá chế tạo đến các bộ phận khác của cây.

3. Bảy chữ cái : Tên một loại mạch có chức năng vận chuyển chất hữu cơ do lá đã chế tạo được.

4. Bảy chữ cái : Tên gọi chung cho nhóm các quả : mơ, đào, xoài, dừa, …

5. Năm chữ cái : Tên một loài rễ biến dạng có ở thân cây trầu không, nhờ rễ này cây có thể leo lên cao.

6. Ba chữ cái : Tên một cơ quan sinh sản của cây có chức năng tạo thành cây mới, duy trì và phát triển nòi giống.

7. Ba chữ cái : Tên một cơ quan sinh sản của cây chứa các hạt phấn và noãn.

8. Tám chữ cái : Chỉ quá trình lá cây sử dụng nước và khí cacbônic để chế tạo ra tinh bột và nhả khó ôxi nhờ chất diệp lục, khi có ánh sáng.

Trả lời

1. Nước

2. Thân

3. Mạch rây

4. Quả hạch

5. Rễ móc

6. Hạt

7. Hoa

8. Quang hợp

1.4. Bộ câu hỏi trắc nghiệm

Câu 1. Vì sao nói cây có hoa là một thể thống nhất ?

A. Vì khi tác động vào một cơ quan sẽ ảnh hưởng đến các cơ quan khác và toàn bộ cây

B. Vì có sự thống nhất giữa chức năng của các cơ quan

C. Vì có sự phù hợp giữa cấu tạo và chức năng của mỗi cơ quan

D. Tất cả các phương án đưa ra

Đáp án: D

Giải thích: Cây có hoa là một thể thống nhất vì có sự phù hợp giữa cấu tạo và chức năng của mỗi cơ quan, có sự thống nhất giữa chức năng của các cơ quan, khi tác động vào một cơ quan sẽ ảnh hưởng đến các cơ quan khác và toàn bộ cây – SGK trang 117.

1. Hạt

2. Rễ

3. Thân

4. Lá

A. 1, 2, 3

B. 1, 2, 4

C. 1, 2, 3, 4

D. 1, 3, 4

Đáp án: C

Giải thích: Cây con có thể được hình thành từ: rễ, thân, lá, hạt – SGK trang 116.

Câu 3. Các loại quả : mơ, chanh, hồng xiêm, dừa, ổi có tên gọi chung là gì ?

A. Quả khô      B. Quả mọng

C. Quả thịt      D. Quả hạch

Đáp án: C

Giải thích: Các loại quả: mơ, chanh, hồng xiêm, dừa, ổi đều là quả thịt.

Câu 4. Ở thực vật, bộ phận nào chuyên hoá với chức năng hấp thụ nước và muối khoáng ?

A. Hạt      B. Lông hút

C. Bó mạch      D. Chóp rễ

Đáp án: B

Giải thích: Lông hút có chức năng hấp thụ nước và muối khoáng – Bảng SGK trang 116.

A. Sự dẫn truyền của bó mạch vùng thân

B. Sự phân chia của mô phân sinh ngọn

C. Quá trình quang hợp ở lá

D. Tất cả các phương án đưa ra

Đáp án: D

Giải thích: Khi sự hút nước và muối khoáng ở rễ cây bị ngừng trệ thì bị ảnh hưởng: sự dẫn truyền của bó mạch vùng thân; sự phân chia của mô phân sinh ngọn; quá trình quang hợp ở lá – SGK trang 117

A. Chuối      B. Nong tằm

C. Cau      D. Trúc đào

Đáp án: B

Giải thích: Cây nong tằm sống ở dưới nước, có lá lớn, nằm trên mặt nước.

A. Tất cả các phương án đưa ra

B. Đước

C. Ngô

D. Mắm

Đáp án: A

Giải thích: Cây có rễ chống giúp chúng đứng vững ở những vùng đầm lầy, đất bùn… VD: đước, mắm, ngô… SGK trang 120, 121.

1. Thân mọng nước

2. Rễ chống phát triểnv

3. Rễ rất dài, ăn sâu vào lòng đất hoặc bò lan rộng và nông trên mặt đất

4. Lá có kích thước nhỏ hoặc tiêu biến thành gai

A. 1, 3, 4

B. 1, 2, 3

C. 2, 3, 4

D. 1, 2, 3, 4

Đáp án: A

Giải thích: Những cây sống ở vùng sa mạc khô hạn thường có: thân mọng nước, rễ rất dài, ăn sâu vào lòng đất hoặc bò lan rộng và nông trên mặt đất, lá có kích thước nhỏ hoặc tiêu biến thành gai – SGK trang 121.

Câu 9. Hiện tượng cuống lá phình to, mềm và xốp ở cây bèo Nhật Bản có ý nghĩa gì ?

A. Giúp cây dự trữ chất dinh dưỡng

B. Giúp cây hấp thụ nước và muối khoáng triệt để hơn

C. Giúp cây dễ dàng nổi trên mặt nước

D. Giúp cây đào thải các chất dư thừa ra ngoài cơ thể

Đáp án: C

Giải thích: Hiện tượng cuống lá phình to, mềm và xốp ở cây bèo Nhật Bản giúp cây dễ dàng nổi trên mặt nước – Hình 36.3 – SGK trang 120.

A. Đoạn, chúc, nứa, hồng, na

B. Bần, sú, vẹt, mắm, đước

C. Giang, si, vẹt, táu, lim

D. Bụt mọc, sưa, hoàng đàn, tuế, mun

Đáp án: B

Giải thích: Những cây sống trong vùng ngập mặn: bần, sú, vẹt, mắm, đước – SGK trang 120, 121.

1.5. Lý thuyết trọng tâm

I. Cây là một thể thống nhất

1. Sự thống nhất giữa cấu tạo và chức năng của mỗi cơ quan ở cây có hoa

2. Sự thống nhất về chức năng giữa các cơ quan ở cây có hoa

– Cây có hoa là một thể thống nhất vì:

   + Có sự phù hợp giữa cấu tạo và chức năng của mỗi cơ quan.

   + Có sự thống nhất giữa chức năng của các cơ quan.

→ Tác động vào một cơ quan sẽ ảnh hưởng đến cơ quan khác và toàn bộ cây.

II. Cây với môi trường

1. Các cây sống dưới nước

– Môi trường nước có sức nâng đỡ, nhưng lại thiếu ôxi.

2. Các cây sống trên cạn

– Các cây sống trên cạn luôn phụ thuộc vào các yếu tố: nguồn nước, sự thay đổi khí hậu (nhiệt độ, ánh sáng, gió, mưa…), loại đất khác nhau.

3. Cây sống trong những môi trường đặc biệt

– Một số loại cây sống trong 1 số điều kiện không thích hợp:

   + Cây đước: có rễ chống giúp cây đứng vững trên các bãi lầy.

   + Cây xương rồng mọng nước, lá biến thành gai.

   + Cây cỏ thấp nhưng rễ rất dài.

Soạn sinh học 6 bài 36: Tổng kết về cây có hoa (ngắn gọn nhất) file DOC

Soạn sinh học 6 bài 36: Tổng kết về cây có hoa (ngắn gọn nhất) file PDF

Hy vọng tài liệu sẽ hữu ích cho các em học sinh và quý thầy cô giáo tham khảo.

Soạn Sinh Học 6 Bài 36: Tổng Kết Về Cây Có Hoa

Soạn sinh học 6 Bài 36: Tổng kết về cây có hoa thuộc: Chương VII. Quả và hạt

Lý Thuyết:

Cây có hoa là một thể thống nhất vì: Có sự phù hợp giữa cấu tạo và chức năng trong mỗi cơ quan.

Cây có hoa là một thể thống nhất vì:

Có sự phù hợp giữa cấu tạo và chức năng trong mỗi cơ quan.

Có sự thống nhất giữa chức năng của các cơ quan.

Tác động vào một cơ quan sẽ ánh hưởng đến cơ quan khác và toàn bộ cây.

Câu hỏi cuối bài:

1. Cây có hoa có những loại cơ quan nào ? Chúng có chức năng gì ?

Chức năng của mỗi cơ quan ở thực vật có hoa

Hấp thụ nước và các muối khoáng cho cây

Giữ cây bám vào đất, giá thể

Thu nhận ánh sáng để chế tạo chất hữu cơ cho cây

Trao đổi khí với môi trường bên ngoài và thoát hơi nước

Thân, cành (Mạch gỗ, mạch rây)

Vận chuyển nước và muối khoáng từ rễ lên lá và chất hữu cơ từ lá đến tất cả các bộ phận khác của cây

Nâng lá lên cao, vươn xa để đón ánh sáng mặt trời

Thực hiện thụ phấn, thụ tinh và tạo quả, kết hạt

Bảo vệ hạt và góp phần phát tán hạt

Nảy mầm thành cây con, duy trì và phát triển nòi giống

2. Trong một cơ quan và giữa các cơ quan của cây có hoa có những mối quan hệ nào để cây thành một thể thống nhất? Cho ví dụ.

Mọi cơ quan của cây có hoa đều có cấu tạo phù hợp với chức năng của nó. Các bộ phận trong cùng một cơ quan có tác động qua lại lẫn nhau để giúp các cơ quan đó thực hiện được chức năng riêng.

Ví dụ: Lá cây có nhiệm vụ chính là quang hợp. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này cần sự phối hợp của các loại tế bào ở lá. Các tế bào biểu bì bảo vệ lá tránh bị tổn thương bởi ánh sáng quá mạnh. Các tế bào mô giậu hấp thụ năng lượng ánh sáng để diệp lục có thể sử dụng năng lượng đó làm nên chất hữu cơ. Tế bào mô xốp dự trữ chất dinh dưỡng. Gân lá cung cấp nước, khoáng và vận chuyển chất dinh dưỡng vào hệ thống mạch rây ở thân. Các tế bào khí khổng giúp thoát hơi nước để làm mát lá và hấp thụ khí CO 2.

+ Trong hoạt động sống của cây các cơ quan có mối quan hệ chặt chẽ với nhau để cùng giúp cây phát triển ổn định.

Ví dụ: Cây muốn sống và sinh trưởng tốt thì lá cây phải quang hợp. Nhưng lá sẽ không thể quang hợp nếu: rễ cây không hấp thu được nước và muối khoáng, hoặc mạch rây không vận chuyển nước và muối khoáng tới lá, hoặc thân không vươn cao để giúp lá lấy được nhiều ánh sáng mặt trời,…Như vậy, tác động vào một cơ quan sẽ ảnh hưởng tới hoạt động của cơ quan khác và toàn bộ cây.

3. Hãy giải thích vì sao rau trồng trên đất khô cằn ít được tưới bón thì lá thường không xanh tốt, cây chậm lớn, còi cọc. năng suất thu hoạch sẽ thấp ?

Rau trồng trên đất khô cằn ít được tưới bón lá thường không xanh tốt, cây chậm lớn, còi cọc, năng suất thu hoạch sẽ thấp vì:

+ Đất khô cằn, ít được tưới bón sẽ ít nước và chất dinh dưỡng, rễ không thể lấy được nước và muối khoáng cho cây.

+ Cây không có nước và khoáng sẽ không thể tự tổng hợp chất dinh dưỡng để phát triển do đó cây sẽ còi cọc, chậm lớn, cho năng suất thấp.

+ Lá cây không có đủ nước và các chất khoáng cần thiết sẽ không thể tổng hợp được diệp lục nên lá thường không xanh tốt, quang hợp giảm, không tạo được đủ chất dinh dưỡng cần thiết → cây còi cọc và năng suất thấp.

Xem Video bài học trên YouTube

Giáo viên dạy thêm cấp 2 và 3, với kinh nghiệm dạy trực tuyến trên 5 năm ôn thi cho các bạn học sinh mất gốc, sở thích viết lách, dạy học

Bài 36 Tổng Kết Về Cây Có Hoa (Tiếp Theo): Giải Bài 1,2,3 Trang 121 Sinh Lớp 6

Bài 36 Chương 7 sinh 6: Giải bài 1,2,3 trang 121 SGK Sinh 6: Tổng kết về cây có hoa (tiếp theo).

Sống trong các môi trường khác nhau, trải qua quá trình lâu dài, cây xanh đã hình thành một số đặc điểm thích nghi. Nhờ khả năng thích nghi đó mà cây có thể phân bố rộng rãi khắp nơi trên Trái Đất: trong nước, trên cạn, vùng nóng, vùng lạnh.

Bài 1: Các cây sống trong môi trường nước thường có những đặc điểm hình thái như thế nào ?

Các cây sống trong môi trường nước thường có một số đặc điểm hình thái như sau : những cây sống ngập trong nước thì lá có hình dài (rong đuôi chó), cây có lá nằm sát mặt nước thì lá to (sen, súng), cây nổi trên mặt nước thì cuống lá phình to, xốp tựa như phao giúp cây nổi trên mặt nước.

Bài 2: Nêu một vài ví dụ về sự thích nghi của các cây ở cạn với môi trường.

Một số ví dụ về sự thích nghi của các cây ở cạn với môi trường : Ở nơi đất khô. thiếu nước thường có những cây mọng nước như xương rồng (lá thường tiêu giảm hoặc biến thành gai hạn chế sự thoát hơi nước). Những cây ưa ẩm như cây lá dong, vạn niên thanh… thường mọc trong rừng già (ít ánh sáng).

Những cây cần ít nước (kê. hương lau) lại sống được ở những nơi đất khô. Các loại rau cần nhiều nước thường sống ở những nơi đất ẩm và cần được tưới luôn.

Bài 3: Các cây sống trong những môi trường đặc biệt (sa mạc, đầm lầy) có những đặc điểm gì ? Cho một vài ví dụ.

Đặc điểm của những cây sống trong điều kiện đặc biệt (sa mạc, đầm lầy…) như sau:

– Cây sống trong sa mạc rất khô và nóng:

+ Các loại xương rồng đều có thân mọng nước, lá biến thành gai để hạn chế sự thoát hơi nước.

+ Các loại cỏ thấp nhưng lại có rễ rất dài.

+ Các cây bụi gai có lá rất nhỏ hoặc biến thành gai.

+ Cây sống trên đầm lầy (như cây đước) có rễ chống giúp cây đứng vững trên các bãi lầy ngập thủy triều ở vùng ven biển.

Soạn Bài Hai Cây Phong Ngắn Gọn Nhất

Tài liệu hướng dẫn soạn bài Hai cây phong với gợi ý trả lời câu hỏi phần đọc hiểu trang 100 và 101 sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 8 tập 1 dành cho các em tham khảo.

Hướng dẫn soạn bài Hai cây phong chi tiết

Cùng Đọc tài liệu tìm hiểu nội dung và soạn bài Hai cây phong bằng cách trả lời những câu hỏi đọc hiểu trang 100, 101 SGK Ngữ văn 8 tập 1. 1 – Trang 100 SGK

Căn cứ vào đại từ nhân xưng của người kể chuyện, hãy xác định hai mạch kể phân biệt lồng vào nhau trong Hai cây phong. Nhân vật người kể chuyện có vị trí thế nào với từng mạch kể ấy? Vì sao có thể nói mạch kể của người kể chuyện xưng “tôi” quan trọng hơn?

Trả lời

– Căn cứ vào đại từ nhân xưng người kể chuyện (tôi hoặc chúng tôi) để phân biệt hai mạch kể:

▪ Từ đầu… mảnh vỡ của chiếc gương thần xanh: mạch kể xưng “tôi”

▪ Từ năm học…sau chân trời xanh biêng biếc: mạch kể xưng “chúng tôi”

▪ Đoạn còn lại: mạch kể trở về xưng “tôi”

– “Tôi” là vai tác giả ủy thác để kể chuyện, dẫn dắt câu chuyện. Mọi sự việc, cảm nhận, quan sát đều bằng nhãn quan của “tôi”

– Dù đoạn kể xuất hiện đại từ nhân xưng “chúng tôi” là lúc “tôi” nhân danh bọn con trai ngày trước, nhưng kí ức thơ ấu hiện lên chân thực, rõ nét.

– Mạch kể của nhân vật “tôi” là chủ yếu, còn mạch kể nhân xưng “chúng tôi” là mạch kể trữ tình.

2 – Trang 100 SGK

Trong mạch kể của người kể chuyện xưng “chúng tôi”, cái gì thu hút người kể chuyện cùng bọn trẻ và làm cho chúng ngây ngất? Tại sao có thể nói người kể chuyện đã miêu tả hai cây phong và quang cảnh nơi đây bằng ngòi bút đậm chất hội họa?

Trả lời

Hình ảnh hai cây phong gắn với kỉ niệm thời thơ ấu của bọn trẻ, xuất hiện trong mạch kể với sự dẫn dắt của “chúng tôi”.

– Có 2 đoạn kể về kỉ niệm của “chúng tôi”:

▪ Đoạn 1: kể về kỉ niệm về trò chơi tinh nghịch của bọn trẻ trước kì nghỉ hè năm cuối

▪ Đoạn 2: mở ra những chân trời mới đẹp đẽ, bao la trước mắt bọn trẻ.

– Điều thu hút người kể chuyện cùng bọn trẻ và làm cho chúng ngây ngất chính là thế giới sinh động, nhiệm màu ở những vùng đất xa lạ chưa biết tới.

– Quang cảnh nơi có hai cây phong được miêu tả bằng ngòi bút đậm chất hội họa:

▪ Hình ảnh hai cây phong: khổng lồ, nghiêng ngả, bóng mát rượi, cao ngang tầm cánh chim, tiếng lá xào xạc dịu hiền, cành cao ngất…

▪ Quang cảnh: đất rộng bao la, dải thảo nguyên hoang vu mất hút trong sương mờ đục, dòng sông lấp lánh tận chân trời…

➜ Bức tranh thiên nhiên qua lời kể có màu sắc, đường nét, sinh động… thông qua ngòi bút quan sát tài tình, miêu tả có hồn của tác giả.

3 – Trang 101 SGK

Trong mạch kể chuyện của người kể chuyện xưng “tôi”, nguyên nhân nào khiến hai cây phong chiếm vị trí trung tâm và gây xúc động sâu sắc cho người kể chuyện? Tại sao có thể nói trong mạch kể xen lẫn tả này, hai cây phong được miêu tả hết sức sống động, như hai con người và không chỉ thông qua sự quan sát của người họa sĩ.

Trả lời

– Trong mạch kể chuyện xưng “tôi” hình ảnh hai cây phong đóng vai trò là trung tâm, gợi lên nhiều ấn tượng và cảm xúc sâu sắc.

▪ Hình ảnh hai cây phong gắn với chuỗi kỉ niệm học trò “tuổi trẻ của tôi đã để lại nơi ấy… như mảnh vỡ của chiếc gương thần xanh…”

▪ Đặc biệt hai cây phong là nhân chứng cảm động về tình thần trò giữa cô bé An-tư-nai và thầy Đuy-sen.

– Sự kết hợp tài tình giữa ngòi bút họa sĩ và thi sĩ đã tạo ra nét đẹp, sức cuốn hút diệu kì đối với hình ảnh hai cây phong.

▪ Phác họa hình ảnh hai cây phong: sinh động khác thường, nghiêng ngả thân cây, lay động cành lá…

– Hai cây phong như hai con người, có tiếng nói riêng và tâm hồn riêng.

▪ Trí tưởng tượng phong phú giúp người kể nghe được tiếng nói nhiều cung bậc cảm xúc, nhiều sắc thái khác nhau của hai cây phong.

▪ Sử dụng biện pháp nhân hóa để làm sống động thế giới của hai cây phong.

➜ Hai cây phong được miêu tả sống động, có hồn gây xúc động và tạo dư vị cho người đọc.

– Căn cứ vào đại từ nhân xưng người kể chuyện (tôi hoặc chúng tôi) xác định hai mạch kể phân biệt lồng vào nhau:

▪ Từ đầu… gương thần xanh: mạch kể xưng “tôi”

▪ Từ năm học… xanh biêng biếc: mạch kể xưng “chúng tôi”

▪ Đoạn còn lại: mạch xưng “tôi”

Trong mạch kể xưng “tôi”, tôi là người kể chuyện nhân danh tác giả, tự giới thiệu là “họa sĩ”. Trong mạch kể xưng là “chúng tôi ” vẫn là người kể chuyện trên nhưng lại nhân danh cả “bọn con trai ngày trước” để kể.

– Trong hai mạch kể, mạch kể của người kể chuyện xưng “tôi” quan trọng hơn trong văn bản này. Vì mọi quan sát, cảm nhận đều dưới cái nhìn của nhân vật “tôi”.

Trong mạch kể của người kể chuyện xưng “chúng tôi”, điều thu hút người kể chuyện cùng bọn trẻ, làm cho chúng ngây ngất là:

– Cây phong trên đồi cao vào năm học cuối cùng, trước kì nghỉ hè, bọn trẻ chạy ào lên phá tổ chim

– “thế giới đẹp đẽ vô ngần của không gian bao la và ánh sáng” mở ra trước mắt bọn trẻ khi ngồi trên những cành cây cao của hai cây phong.

Có thể nói, người kể chuyện đã miêu tả quang cảnh và hai cây phong bằng ngòi bút đậm chất hội họa:

– Đường nét:

▪ Đất rộng bao la

▪ Dải thảo nguyên hoang vu: Mất hút trong làn sương

▪ Những dòng sông tận chân trời: Sợi chỉ bạc mỏng manh

▪ Cây phong: khổng lồ, nghiêng ngả, cao ngang tầm cánh chim, cành cao ngất…

– Màu sắc:

▪ Màu trắng của làn sương mờ đục

▪ Màu xanh của thảo nguyên xa thẳm biêng biếc

▪ Màu bạc lấp lánh của những con sông.

→ Quang cảnh và hai cây phong được tác giả miêu tả bằng ngòi bút đậm chất hội họa. Những đường nét phóng khoáng, những màu sắc hài hòa… đã tạo nên một bức tranh thiên nhiên sinh động, có hồn.

– Trong mạch kể chuyện xưng “tôi” nguyên nhân hai cây phong đóng vai trò là trung tâm, gây xúc động sâu sắc cho người kể chuyện:

▪ Hai cây phong xuất hiện từ khi “tôi biết chúng từ thuở bắt đầu biết mình”, hai cây phong như ngọn hải đăng của làng, có “tiếng nói riêng”, “tâm hồn riêng”.

▪ Hình ảnh hai cây phong gắn với những “ấn tượng tuổi thơ”, kỉ niệm học trò “tuổi trẻ của tôi đã để lại nơi ấy… như mảnh vỡ của chiếc gương thần xanh…”

▪ Hai cây phong là nhân chứng cảm động về tình thần trò giữa cô bé An-tư-nai và thầy Đuy-sen.

– Hai cây phong như hai con người, có tiếng nói riêng và tâm hồn riêng, được miêu tả sống động như hai con người, qua sự quan sát của một họa sĩ và cũng là một người con xa quê:

▪ Trí tưởng tượng phong phú giúp người kể nghe được tiếng nói nhiều cung bậc cảm xúc, nhiều sắc thái khác nhau của hai cây phong.

▪ Sử dụng biện pháp nhân hóa để làm sống động thế giới của hai cây phong.

→ Hai cây phong vì thế không chỉ là biểu tượng của quê hương “tôi” mà còn thể hiện tình yêu quê hương tha thiết của nhân vật “tôi”.

Kiến thức cần ghi nhớ

– Ai-ma-tốp (1928 – 2008) là nhà văn Cư-rơ-gư-xtan, một nước Cộng hoà ở vùng Trung Á, thuộc Liên Xô trước đây.

– Xuất thân trong một gia đình viên chức

– Năm 1961 ông được trao tặng giải thưởng Lê-nin

– Ông viết văn bằng tiếng mẹ đẻ và tiếng Nga.

– Nhiều tác phẩm của ông quen thuộc với bạn đọc Việt Nam như Cây phong non trùm khăn đỏ, Người thầy đầu tiên, Con tàu trắng,... .

1. Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác

– Hai cây phong là phần đầu của truyện ” Người thầy đầu tiên” rút ra từ tập ” Núi đồi và thảo nguyên”.

– Văn bản là phần đầu của truyện Người thầy đầu tiên, được sáng tác năm 1957

▪ Phần 1 (từ đầu… gương thần xanh) : hai cây phong gắn với văn hóa làng Ku-ku-rêu qua lời kể nhân vật “tôi”.

▪ Phần 2 (phần còn lại): Những thước phim quay chậm về kỉ niệm thời thơ ấu gắn với hai cây phong.

Trong đoạn trích truyện Người thầy đầu tiên của Ai-ma-tốp, hai cây phong được miêu tả hết sức sinh động bằng ngòi bút đậm chất hội họa. Người kể chuyện truyền cho chúng ta tình yêu quê hương da diết và lòng xúc động đặc biệt vì đây là hai cây phong gắn với câu chuyện về thầy Đuy-sen, người đã vun trồng ước mơ, hi vọng cho những học trò nhỏ của mình.

– Lựa chọn ngôi kể, người kể tạo nên hai mạch kể lồng ghép độc đáo

– Sự kết hợp giữa miêu tả, biểu cảm với ngòi bút đậm chất hội họa, truyền sự rung cảm đến người đọc

– Nghệ thuật nhân hóa với những liên tưởng tác bạo đầy chất thơ tại nên sức hấp đẫn cho văn bản

Nội dung truyện được đặt vào bối cảnh vùng quê hẻo lánh của Cư-rơ-gư-xtan, vào giữa những năm 20 của thế kỉ trước. Thời đó, trình độ phát triển ở nơi đây còn thấp, tư tưởng phong kiến, gia trưởng còn nặng nề, phụ nữ bị coi thường, trẻ mồ côi bị rẻ rúng. Cô bé An-tư-nai mồ côi sống trong gia đình chú thím ở làng Ku-ku-rêu, chẳng được học hành, và phải chịu sự giám sát, sai khiến hà khắc của bà thím. Đuy-sen được Đoàn Thanh niên Cộng sản cử về làng để mở trường, đã kịp thời cứu giúp, cho em đến trường học. Bà thím ác nghiệt ép gả bán An-tư-nai làm vợ lẽ cho người ta. Một lần nữa, An-tư-nai được thầy Đuy-sen giải thoát, được lên tỉnh học, rồi đến học tiếp ở Mát-xcơ-va, sau trở thành nữ viện sĩ An-tư-nai Xu-lai-ma-nô-va. Còn thầy Đuy-sen, bây giờ đã già, làm nghề đưa thư. Khi An-tư-nai còn đang học ở trường làng, có hôm Đuy-sen mang về trường hai cây phong non và bảo em: “Hai cây phong này thầy mang về cho em đây. Chúng ta sẽ cùng trồng. Và trong khi chúng lớn lên, ngày một thêm sức sống, em sẽ trưởng thành, em sẽ là một người tốt… Em bây giờ trẻ măng như một thân cây non, như đôi cây phong nhỏ này…”.

Bạn đang xem bài viết Soạn Sinh Học 6 Bài 36: Tổng Kết Về Cây Có Hoa (Ngắn Gọn Nhất) trên website Maiphuongus.net. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!