Xem Nhiều 2/2023 #️ Soạn Bài: Vào Phủ Chúa Trịnh – Ngữ Văn 11 Tập 1 # Top 8 Trend | Maiphuongus.net

Xem Nhiều 2/2023 # Soạn Bài: Vào Phủ Chúa Trịnh – Ngữ Văn 11 Tập 1 # Top 8 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài: Vào Phủ Chúa Trịnh – Ngữ Văn 11 Tập 1 mới nhất trên website Maiphuongus.net. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả: Lê Hữu Trác (các em tham khảo phần giới thiệu tác giả trong SGK Ngữ Văn 11 Tập 1).

2. Tác phẩm

* Xuất xứ: Văn bản Vào phủ chúa Trịnh được trích trong tác phẩm Thượng kinh kí sự (Kí sự đến kinh đô) của tác giả Lê Hữu Trác. Đoạn trích nói về việc Lê Hữu Trác lên tới kinh đô, được dẫn vào phủ chúa để bắt mạch, kê đơn cho Trịnh Cấn.

* Thể loại: Văn bản được viết bằng thể kí sự – một thể loại văn học mới xuất hiện ở thế kỉ XVIII, ghi chép những câu chuyện, những sự việc có thực và tương đối hoàn chỉnh.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

* Quang cảnh trong phủ chúa Trịnh được miêu tả khá tỉ mỉ từ ngoài vào trong, từ bao quát đến cụ thể.

Phải đi qua mấy lần cửa, năm sáu lần trướng gấm

Được canh giữ rất nghiêm ngặt

Cảnh trí ở đây cũng khác lạ: cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, vườn hoa đầy sắc hương, những dãy hành lang quanh co nối tiếp nhau.

Trong phủ là những đại đồng, quyền bổng, gác tía, kiệu son, mâm vàng chén bạc

Nội cung thế tử có sập vàng, ghế rộng, nệm gấm, màn là, hương hoa ngào ngạt,…

* Cung cách sinh hoạt trong phủ chúa:

Trong phủ có nhiều loại quan và người phục địch, người giữ cửa truyền báo rộn ràng, người có việc quan đi lại như mắc cửi.

Lời lẽ nhắc đến chúa và thế tử đều phải hết sức cung kính và lễ độ.

Chúa phải có phi tần chầu chực, tác giả cũng không được nhìn thấy mặt chúa, tất cả chỉ làm theo lệnh và thông qua quan chánh đường

Thế tử mặc dù chỉ mới là một đứa bé khoảng 5 – 6 tuổi, lúc nào cũng có tới 7 – 8 thầy thuốc túc trực bên cạnh và có người hầu cận 2 bên. Khi vào xem mạch lẫn khi lui ra, người thầy thuốc đều phải cúi lạy cung kính.

* Những quan sát, ghi nhận này nói lên cách nhìn, thái độ của Lê Hữu Trác đối với cuộc sống nơi phủ chúa:

Được thể hiện trực tiếp thông qua cách quan sát, những lời nhận xét và những lời bình giá của tác giả

Câu 2:

* Những chi tiết trong đoạn trích được cho là “đắt”, có tác dụng làm nổi bật giá trị hiện thực của tác phẩm là:

Chi tiết đối lập: thế tử – một đứa bé – ngồi chễm trệ trên sập vàng cho thầy thuốc – một cụ già – quỳ lạy. Để rồi “ngài” cười và ban cho một lời khen “rất trẻ con”: Ông này lạy khéo!

Khi đọc đến chi tiết này, chắc hẳn chúng ta đều đã biết được nguyên nhân gây ra căn bệnh của thế tử Cán. Một đứa trẻ có tuổi đời còn quá nhỏ nhưng lại bị kìm kẹp nơi thâm cung thiếu sinh khí tự nhiên để sống.

Ngoài ra, truyện cũng còn nhiều chi tiết khác rất độc đáo và sắc sảo để giúp người đọc thấy được cuộc sống xa hoa nơi phủ chúa Trịnh.

Câu 3:

Cách chẩn đoán và chữa bệnh của Lê Hữu Trác cùng những diễn biến tâm tư của ông khi kê đơn cho ta thấy thái độ, tâm trạng và những suy nghĩ sâu sắc của nhà văn:

Câu 4:

Bút pháp kí sự của tác giả có điểm đặc sắc:

Sự quan sát tỉ mỉ, tinh tế và sắc sảo, kết hợp với bút pháp tả cảnh sinh động

Nội dung ghi chép trung thực

Cách kể chuyện khôn khéo, lôi cuốn và hấp dẫn. Đặc biệt là những chi tiết nhỏ có tính chất tạo nên cái thần của cảnh và sự việc.

Giọng điệu thấp thoảng ý mỉa mai, hài hước.

5

/

5

(

2

bình chọn

)

Soạn Bài Vào Phủ Chúa Trịnh Sbt Ngữ Văn 11 Tập 1

Giải câu 1, 2, 3, 4 trang 5 Sách bài tập (SBT) Ngữ văn 11 tập 1. Tìm trong đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh những từ ngữ nói lên thái độ của Lê Hữu Trác đối với danh lợi.

1. Tìm trong đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh những từ ngữ nói lên thái độ của Lê Hữu Trác đối với danh lợi.

Trả lời:

Muốn hiểu đúng đoạn trích, cần hiểu con người tác giả . Xem chú thích từ danh lợi ở bài Bài ca ngắn đi trên bãi cát (trang 41, SGK). Khái niệm danh lợi xưa thường được nhà nho sử dụng để chỉ việc làm quan (làm quan có danh vị, lại có lợi – bổng lộc). Cần tìm trong đoạn trích những từ như quê mùa mà Lê Hữu Trác tự nói về mình. Quê mùa có sắc thái đối lập vói thành thị. Đây là cách dùng từ của một nhà nho ẩn dật lánh đòi có thái độ xem thường danh lợi. Tìm những từ ngữ tác giả trực tiếp nói về danh lọi, ví dụ như nỗi bãn khoăn của ông khi đưa ra phương án chữa bệnh cho thế tử, lo rằng nếu ông chữa khỏi bệnh cho thế tử thì sẽ bị danh lọi ràng buộc, bởi lẽ người ta sẽ phong chức tước cho ông và ông không được sống cuộc sống tự do, không được “về núi” nữa. Ông đưa ra phương thuốc điều trị cho thế tử sau khi nghĩ đến truyền thống gia đình : “Cha ông mình đòi chịu ơn của nước, ta phải dốc hết cả lòng thành, để nối tiếp cái lòng trung của cha ông mình” chứ không hề nhằm được thăng thưởng.

2. Cho biết ý nghĩa của việc quan sát, miêu tả người và cảnh trong phủ chúa Trịnh.

Trả lời:

Cần chú ý đến dụng ý của tác giả khi quan sát và chọn các sự việc, nhân vật để miêu tả. Có thể tách riêng việc tả người và tả cảnh để lần lượt phân tích. Các nhân vật chính của đoạn trích là các quan – thầy thuốc, quan Chánh đường (tức Huy Quận công Hoàng Đình Bảo), thế tử. Họ sống trong cảnh giàu sang, phú quý (những yếu tố này anh (chị) có thể tìm thấy dễ dàng, chẳng hạn “mâm vàng, chén bạc”). Cảnh trí trong phủ chúa : cần chú ý đến các cảnh được tả như vườn hoa, cung điện, lầu gác,… Lí giải tại sao lại có sự chú ý như vậy. Tác giả nhấn mạnh quyền lực của nhà chúa, quyền lực của quan Chánh đường, sự sang trọng chốn cung phủ. Có thể có ngầm ẩn một hàm ý phê phán nhất định đối với chúa Trịnh qua những miêu tả tưởng như vô tình về lầu gác, cung điện sơn son thếp vàng, ghế ngồi chạm rồng của chúa, các cung nữ,… Rồng là biểu tượng của vua, thế mà chúa Trịnh cũng sử dụng thì trật tự luân thường ở đây đã bị chính chúa Trịnh chà đạp. Cũng có một ý nghĩa nữa là tác giả kín đáo phê phán lối sống xa hoa, truỵ lạc của chúa Trịnh.

Nhưng cần biết một ý nghĩa ngầm ẩn rất quan trọng của việc tả cảnh giàu sang, phú quý này : Đoạn kết Thượng kinh kí sự có kể khi Lê Hữu Trác về đến Hương Sơn, Hà Tĩnh được vài ngày thì nghe tin cả nhà quan Chánh đường bị hại (đây muốn nói đến sự kiện kiêu binh nổi loạn, giết Quận Huy), ông viết : “Tôi nghe chuyện than rằng : – Giàu sang như mây nổi, những noi đàn sáo lâu đài trước đây bỗng phút chốc thành gò hoang cồn vắng. Lại mừng thầm rằng mình đã ẩn thân nơi núi rừng, chẳng đoái hoài gì tới chuyện công danh thành đạt. Một sớm bị triệu, mang thân già tới kinh, thấm thoắt đã một năm trời. Trăm xin nghìn cầu mới được thoát khỏi. Ví như lúc đầu lòng dạ không bền vững, để vướng mắc vào một chức quan, thì đúng là bây giờ danh chưa thành mà thân đã nhục vậy”. Như vậy, việc miêu tả kĩ lưỡng cảnh giàu sang, phú quý ở đoạn trích này là chuẩn bị cho một triết lí sẽ nêu lên ở đoạn kết “giàu sang như mây nổi” và triết lí bảo thân (giữ mình) của một ẩn sĩ lánh đời, xa chốn quan trường, quay lưng với danh lợi.

3. Nhận xét về nghệ thuật miêu tả hiện thực phủ chúa Trịnh trong đoạn trích.

Trả lời:

– Anh (chị) cần chú ý đến hai điểm : thứ nhất là việc tác giả lựa chọn chi tiết và thứ hai là thái độ, cảm xúc mà tác giả bộc lộ trước đối tượng miêu tả.

– Chú ý sự quan sát tinh tế và chọn chi tiết điển hình, có sức diễn tả cao ; đồng thời lưu ý việc tác giả luôn bộc lộ ấn tượng, cảm tưởng, cảm nhận của bản thân trước các hiện tượng quan sát thấy trong phủ chúa.

+ Các chi tiết như “cáng chạy như ngựa lồng”, “người có việc quan qua lại như mắc cửi” mở đầu báo hiệu không khí khẩn trương cúa phủ chúa.

+ Tác giả quan sát các công trình kiến trúc, cảnh trí qua hình khối, màu sắc. hương thơm, âm thanh để truyền đạt đến bạn đọc cảm nhận của bản thân.

+ Chỉ ra các chi tiết nói về quyền lực của quan Chánh đường, ví dụ như điếm “Hậu mã quân túc trực”, nơi ngồi nghỉ của vị quan này ; chi tiết khi quan đến, mọi người đều đứng dậy, rồi ông ngồi trên,… Hầu như tất cả mọi công việc được kể trong đoạn trích đều do quan Chánh đường quyết định.

Các chi tiết đều có nghĩa ngầm ẩn tinh tế, thường bao hàm sự đánh giá, thái độ của Lê Hữu Trác. Tác giả làm như miêu tả vô tình hay thoáng qua các hiện tượng, sự việc nhưng thực ra sau những dòng chữ ấy là những nỗi niềm, cảm xúc, thái độ đối với giàu sang, phú quý và quyết tâm giữ vững phẩm chất đạo đức, khí tiết của mình.

4. Phân tích vài nét đặc sắc trong ngòi bút kí sự của tác giả trong đoạn trích.

Trả lời:

Có thể nêu ra những nét đặc sắc trong ngòi bút kí sự của Lê Hữu Trác trong đoạn trích :

– Miêu tả, ghi chép rõ nét, trung thực, sinh động, nhiều màu sắc : vườn cây, lối đi, hành lang, địa danh cụ thể, tên người, tên quan có thật trong phủ chúa, cảnh nơi chúa ngự, thể trạng thái tử, cuộc đối thoại của tác giả với quan Chánh đường.

– Chọn lựa chi tiết tiêu biểu, ấn tượng : quang cảnh trong phủ chúa, hình ảnh thế tử, sự tăm tối đầy ám khí của phủ chúa, cách bài trí đồ đạc trong phủ chúa, cuộc đối đáp của tác giả với quan Chánh đường.

– Kết hợp miêu tả, tự sự và biểu cảm tạo sự cuốn hút, tăng giá trị hiện thực, gây ấn tượng sâu sắc về cảnh, việc và người nơi phủ chúa.

– Giọng điệu châm biếm, hài hước, phê phán nhẹ nhàng, kín đáo : thể hiện qua lời ngợi ca cảnh vật, lời nhận xét về phủ chúa, cách luận giải về bệnh tình của thế tử.

– Tổ chức điểm nhìn trần thuật linh hoạt : có đoạn sự việc được kể theo quan sát của nhân vật xưng tôi ; có đoạn nhà văn để cho nhân vật quan truyền chỉ miêu tả, giới thiệu. Người đọc có cảm tưởng không chỉ có Lê Hữu Trác dẫn ta vào phủ chúa để tự do quan sát, ngắm nhìn mà cả những kẻ hầu cận chúa cũng đưa ta thâm nhập, khám phá sự thật ở “Đông cung”.

Ngòi bút kí sự đặc sắc của tác giả đã phản ánh sinh động bức tranh chân thực về cảnh sống xa hoa, quyền quý và chân dung một số nhân vật nơi phủ chúa Trịnh, đồng thời cho thấy tấm lòng thanh bạch, bản lĩnh vững vàng, không màng danh lợi, không coi trọng chức tước, bổng lộc của Lê Hữu Trác.

chúng tôi

Soạn Bài Vào Phủ Chúa Trịnh Trang 3 Sgk Ngữ Văn 11

Soạn bài Vào phủ chúa Trịnh trang 3 SGK Ngữ Văn 11

1. Thể loại: Kí là một thể văn xuôi tự sự khá phát triển từ thời kì văn học trung đại. Tác phẩm kí thường có cốt truyện là sự thực cuộc sống. Người viết kí trung thành với sự thật, khai thác sự thật theo quan điểm cá nhân.

I. Tác giả, tác phẩm

a) Tác giả- Lê Hữu Trác (1724 – 1791) tên hiệu là Hải Thượng Lãn Ông, quê cha ở Hưng Yên, quê mẹ ở Hà Tĩnh. Ông là một danh y đồng thời là nhà văn nhà thơ lớn.

b) Tác phẩm

– Thể loại: Kí sự.

– Viết bằng chữ Hán miêu tả quang cảnh ở kinh đô, cuộc sống xa hoa trong phủ chúa và quyền uy thế lực của nhà chúa qua những điều mắt thấy tai nghe , nhân dịp Lê Hữu Trác được chúa Trịnh Sâm triệu về kinh đô chữa bệnh cho chúa và thế tử Trịnh Cán. Tác phẩm còn thể hiện thái độ kinh thường danh lợi của tác giả.

– Bố cục:

+ Phần 1: Từ đầu đến ” không có dịp”: Quang cảnh bên ngoài phủ chúa.

+ Phần 2: Còn lại: Cảnh nội dung.

HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI CÂU HỎI 1. Quang cảnh trong phủ chúa được miêu tả như thế nào? Cung cách sinh hoạt trong phủ chúa ra sao? Những quan sát, ghi nhận này nói lên cách nhìn, thái độ của Lê Hữu Trác đối với cuộc sống nơi phủ chúa như thế nào? a. Quang cảnh trong phủ chúa:

– Âm thầm quan sát, người thầy thuốc phát hiện ra rằng: vào phủ chúa phải qua rất nhiều lần cửa, với “những dãy hành lang quanh co nối nhau liên tiếp”. Ớ mỗi cửa đều có vệ sĩ canh gác, “ai muốn ra vào phải có thẻ”, trong khuôn viên phủ chúa có điếm “Hậu mã quân túc trực” để chúa sai phái đi truyền bá mệnh lệnh ra bên ngoài. Vườn hoa trong phủ chúa “cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm, gió đưa thoang thoảng mùi hương”.

– Bên trong phủ bày biện toàn những đồ sang trọng như: kiệu son, võng điều, đồ nghi trượng sơn son thếp vàng rồi những đồ dùng tiếp khách ăn uống toàn là “mâm vàng, chén bạc”. Trong nội cung thế tử cũng vậy: phòng thắp nến, có sập thếp vàng, ghế rồng sơn son thếp vàng, trên ghế bày nệm gấm, màn che ngang sân, “xung quanh lấp lánh, hương hoa ngào ngạt”.

Có thể nói, chính những gì đang hiển hiện ra trước mắt người đọc đã tự nói lên tất cả cái quyền uy tối thượng đang nằm trong tay nhà chúa cũng như nếp hướng thụ cực kì xa xỉ của Trịnh Sâm và gia đình chúa.

b. Cung cách sinh hoạt đầy kiểu cách:

– Đầu tiên, khi tác giả lên cáng vào phủ theo lệnh của chúa thì có “tên đầy tớ chạy đàng trước hét đường”. “Cáng chạy như ngựa lồng” khiến người trong cáng “bị xốc một mẻ, khổ không nói hết”. Trong phủ chúa, “người giữ cửa truyền báo rộn ràng, người có việc quan qua lại như mắc cửi”.

– Trong cuộc tiếp kiến vị Đông cung thế tử, tất cả những lời lẽ nhắc đến chúa và thái tử đều phải hết sức cung kính, lễ độ (“Thánh thượng đang ngự ở đấy”, “chưa thể yết kiến”, “hầu mạch Đông cung thế tử”, “hầu trà” (cho thế tử uống thuốc), “phòng trà” (nơi thế tử uống thuốc),…).

– Trong cuộc tiếp kiến ấy, tác giả cũng không được thấy mặt chúa. Tất cả những mệnh lệnh của chúa đểu được phán bảo qua quan Chánh đường hoặc người truyền mệnh. Thầy thuốc xem bệnh xong cũng không được phép trao đổi với chúa mà phải viết tờ khải để quan Chánh đường dâng lên chúa. Nội cung trang nghiêm đến nỗi vị thầy thuốc cũng phải “nín thở” khi đứng chờ ở xa và “khúm núm” khi đến trước sập để xem mạch cho thế tử.

c. Cách nhìn của tác giả:

Những chi tiết vừa nêu là những ghi chép chân thực, sắc sảo về cuộc sống xa hoa nơi phú chúa đồng thời cũng kín đáo bộc lộ thái độ coi thường lợi danh của người thầy thuốc giàu y đức.

2. Phân tích những chi tiết trong đoạn trích mà anh (chị) cho là “đắt”, có tác dụng làm nổi bật giá trị hiện thực của tác phẩm.

– Đoạn trích có nhiều chi tiết nghệ thuật rất “đắt”, thể hiện nổi bật nội dung hiện thực của tác phẩm. Sự tinh tế và sắc sảo của tác giả đọng lại trong đoạn trích là ở những chi tiết tuy nhỏ nhưng rất gây ấn tượng. Ví như chi tiết đối lập: thế tử – mội đứa bé – ngồi chễm chệ trên sập vàng cho thầy thuốc – một cụ già – quỳ lạy. Để rồi “ngài” cười và ban một lời khen “rất trẻ con”: “Ông này lạy khéo !“. Hoặc ở một chi tiết khác khi tác giả đi vào nơi ở của thế tử để xem mạch: “Đột nhiên thấy ông ta (quan Chánh đường) mở một chỗ trong màn gấm rồi bước vào. Ở trong tối om, không thấy có cửa ngõ gì cả. Đi qua độ năm, sáu lần trướng gấm như vậy…”.

– Truyện còn có nhiều chi tiết khác cũng sắc sảo như vậy: chi tiết miêu tả nơi “Thánh thượng đang ngự” (“có mấy người cung nhân đang đứng xúm xít. Đèn sáp chiếu sáng làm nổi màu mặt phấn và màu áo đỏ. Xung quanh lấp lánh, hương hoa ngào ngạt”), rồi chi tiết miêu tả những dụng cụ dùng để ăn uống, những món ăn khi quan Chánh đường mời thầy thuốc dùng bữa sáng,..

3. Cách chẩn đoán và chữ bệnh của Lê Hữu Trác cùng những diễn biến tâm tư của ông khi kê đơn cho ta hiểu gì về người thầy thuốc này?

Dõi theo từng bước đi của người thầy thuốc, người đọc có thể nhận thấy thái độ, tâm trạng và những suy nghĩ khá sâu sắc của nhà văn:

– Đứng trước cảnh xa hoa lộng lẫy, tấp nập người hầu kẻ hạ nơi phủ chúa, tác giả nhận xét: “Bước chân đến đây mới hay cảnh giàu sang của vua chúa khác hẳn người thường”. Trước cảnh ấy, tác giả đã vịnh một bài thơ tả hết cái sang trọng, vương giả nơi phủ chúa. Trong bài thơ ấy, tác giả đã phải thốt lên: “Cả trời Nam sang nhất là đây!”.

+ Khi được mời ăn cơm sáng, tác giả đã khéo léo bày tỏ nhận xét: “mâm vàng, chén bạc, đồ ăn toàn là của ngon vật lạ, tôi bấy giờ mới biết cái phong vị của nhà đại gia”.

+ Nói về bệnh trạng của thế tử, tác giả nhận xét: ‘Vì thế tử ỡ trong chốn màn che trướng phủ, ăn quá no, mặc quá ấm nên tạng phủ yếu đi”.

Tác giả tỏ ra dửng dưng trước những quyến rũ vật chất này, đồng thời có những biểu hiện chứng tỏ thái độ khồng đồng tình với cuộc sống tuy quá no đủ và tiện nghi nhưng lại thiếu khí trời và không khí tự do.

– Tâm trạng và cảm nghĩ của Lê Hữu Trác khi chữa bệnh cho thế tử còn diễn biến phức tạp hơn. Thăm bệnh xong, người thầy thuốc đã hiểu được rõ nguyên nhân căn bệnh của thái tử. Ông đưa ra những luận giải rất hợp lí, có cách chữa trị riêng. Nhưng trong lúc ấy, ông lại lo nếu chữa bệnh hiệu quả ngay sẽ được chúa tin dùng, lúc đó lại bị trói buộc bởi vòng danh lợi. Thoáng nghĩ đến việc kê một đom thuốc vô thướng, vô phạt nhưng rồi ông lại quên ý nghĩ đó ngay. Việc làm ấy trái với y đức, trái với lương tâm ông và thậm chí phụ lòng trung của tổ tiên. Hai suy nghĩ đó giằng co, xung đột với nhau. Cuối cùng ông đã chọn theo lương tâm, phẩm chất của người thầy thuốc. Ông thẳng thắn đưa ra bài thuốc của mình – một bài thuốc trái với ý của nhiều người khiến quan Chánh đường thậm chí có ý đắn đo.

Từ những chi tiết về việc chữa bệnh của thầy thuốc Lê Hữu Trác, có thể thấy:

+ Tác giả là một thầy thuốc giàu kinh nghiệm, có kiến thức sâu và rộng.

+ Bên cạnh tài năng, ông còn là một người thầy giàu y đức.

+ Trên cả những điều đó là một thái độ coi thường danh lợi, yêu thích nếp sống tự do, thanh đạm ở quê nhà. Quan điểm này tất nhiên cũng gián tiếp cho thấy, tác giả không đồng tình với lối sống xa hoa của những người nắm giữ trọng trách quốc gia.

– Sự quan sát tỉ mỉ, tinh tế và sắc sảo; bút pháp tả cảnh sinh động.

– Nội dung ghi chép trung thực.

– Kể diễn biến sự việc khéo léo, lôi cuốn, hấp dẫn, đặc biệt là những chi tiết nhỏ có tính chất tạo nên cái thần của cảnh và việc.

III. LUYỆN TẬP

So sánh đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh với một tác phẩm (hoặc đoạn trích) kí khác của văn học trung đại Việt Nam mà anh (chị) đã đọc và nêu nhận xét về nét đặc sắc của đoạn trích này.

Bài làm

Điểm chung của đa số các tuỳ bút là giá trị hiện thực và thái độ của nhà văn trước hiện thực ấy.

Tuy nhiên mỗi tuỳ bút lại có sự khác nhau trong cách bộc lộ thái độ của nhà văn trước hiện thực (trực tiếp hay gián tiếp, rõ ràng hay kín đáo,…); khác nhau trong việc lựa chọn các chi tiết nghệ thuật, cũng như cách thể hiện nghệ thuật.

Có thể tự làm rõ những điều này khi so sánh Thượng kinh kí sự với Vũ trung tuy bút của Phạm Đình Hổ (một tác phẩm cùng thời) hoặc với Nhật kí ĐặngThuỳ Trâm (một tác phẩm kí thời hiện đại)

IV. TƯ LIỆU THAM KHẢO

“… Khoảng năm Giáp Ngọ (1774), ất Mùi (1775) trong nước vô sự, Trịnh Sâm lưu ý về việc chơi đèn đuốc, thường ngự chơi các li cung ở trên Tây Hồ, núi Tử Trầm, núi Dũng Thúy; việc xây dựng đình đài khởi làm luôn mãi. Mỗi tháng ba bốn lần, Vương ngự chơi cung Thụy Liên trên bờ Tây Hồ, binh lính dàn hầu quanh bốn mặt bờ hồ, các kẻ nội thần thì đều bịt khăn, mặc áo đàn bà, dàn bày bách hóa chung quanh bờ hồ để bán.

Thuyền ngự đi đến đâu thì các quan hỗ tụng đại thần tùy ý ghé vào bờ mua bán các hóa vật như các cửa hàng buôn trong chợ. Cũng có lúc bọn nhạc công ngồi trên gác chuông chùa Trấn Quốc, hay ngồi ở bóng cây bến đá nào đó, hòa vài khúc nhạc âm.

Thời ấy, phàm bao nhiêu những loài trân cầm, dị thú, cổ mộc, quái thạch và chậu hoa cây cảnh ở chốn dân gian đều cho thu lấy, không thiếu một thứ gì. Từng thấy lấy một cây đa to, cành lá rườm rà, từ bên bắc chở qua sông đem về. Nó giống như một cây cổ thụ mọc trên đầu non hốc đá, rễ dài đến vài trượng, phải một cơ binh mới khiêng nổi, lại phải bốn người đi kèm đều cầm gươm, cầm thanh la để đốc thúc quân lính khiêng cho có điều độ. Trong phủ chúa tùy chỗ mà điểm xuyết bày vẽ ra hình núi non bộ trông như bến bể đầu non. Mỗi khi đêm thanh cảnh vắng, tiếng chim kêu vượn hót ran khắp bốn bề, hoặc nửa đêm ồn ào như trận mưa sa gió táp, vỡ tổ tan đàn, kẻ thức giả biết là cái triệu bất tường! Kẻ hoạn quan cung giáp lại thường nhờ gió bẻ măng, ra ngoài dậm dọa. Họ dò xem nhà nào có chậu hoa cây cảnh, chim tốt khướu hay thì biên ngay hai chữ “phụng thủ” vào lồng chim hay chậu cây. Đêm đến, các cậu trèo qua cung tường lẻn ra, sai bọn tay chân đem lính đến lấy phăng đi, rồi buộc cho (chủ nhà) cái tội đem dìm giấu các vật cung phụng để dọa dẫm lấy tiền. Nếu hòn đá hoặc cây cối gì to lớn quá thì thậm chí phải phá nhà hủy tường để khiêng ra. Các nhà giàu có bị vu cho là đem giấu vật cung phụng, thường phải bỏ của ra kêu van chí chết, có khi phải đập bỏ núi non bộ hoặc đốt bỏ cây cảnh để tránh khỏi phải tai vạ. Nhà ta ở phường Hà Khẩu, huyện Thọ Xương, trước nhà tiền đường có trồng một cây lê, cao vài mươi trượng, lúc nở hoa trắng xóa thơm lừng, trước nhà trung đường có trồng hai cây lựu trắng và lựu đỏ kết quả trông rất đẹp, bà cung nhân ta đều sai chặt đi cả, cũng là vì cớ ấy.”

(Phạm Đình Hổ – Việc cũ trong phủ chúa Trịnh)

Soạn Bài: Chuyện Cũ Trong Phủ Chúa Trịnh – Ngữ Văn 9 Tập 1

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả (các em tham khảo phần giới thiệu về tác giả Phạm Đình Hổ trong SGK Ngữ văn 9 Tập 1).

2. Tác phẩm

* Xuất xứ: Văn bản Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh được trích từ tác phẩm Vũ trung tùy bút – một tác phẩm đặc sắc của Phạm Đình Hổ gồm có 88 mẩu chuyện nhỏ.

* Thể loại: Văn bản Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh được viết theo thể loại tùy bút (ghi chép tùy hứng, tản mạn, không cần hệ thống, kết cấu gì).

* Bố cục: Văn bản có thể được chia làm 2 phần

Phần 2: còn lại : Sự nhũng nhiễu của bọn quan lại.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

* Thói ăn chơi xa xỉ của chúa Trịnh và các quan lại hầu cận được miêu tả qua những chi tiết:

Xây dựng đền đài liên miên

Bọn nội thần bày trò lố lăng, tốn kém: giải trò mua bán, bài trí dàn nhạc khắp nơi

Thói ngao du vơ vét sản vật quý của dân

* Lời văn ghi chép sự việc của tác giả mang tính khách quan, không thể hiện  quá nhiều, bởi những sự việc mà tác giả kể lại đã đủ bóc trần bản chất xã hội và cho người đọc thấy được thái độ của tác giả.

* Kết thúc đoạn văn miêu tả này, tác giả nói : “… kẻ thức giả đó biết là triệu bất tường”, đây chính là lời dự báo về một thảm họa ắt sẽ xảy ra nếu xã hội vẫn cứ hỗn loạn như thế này.

Câu 2:

* Ý nghĩa đoạn cuối bài: “Nhà ta ở phường Hà Khẩu… cũng vì cớ ấy”, đây là đoạn văn tác giả đã kể lại sự việc diễn ra ngay tại gia đình mình để tăng sức thuyết phục cho những chi tiết mà ông đã ghi chép ở trên. Đồng thời, đoạn văn cũng bộc lộ thái độ bất bình, phẫn nộ, căm tức của tác giả.

Câu 3:

Theo em, sự khác nhau giữa thể tùy bút và thể truyện là:

Thể truyện: thường phải có cốt truyện và nhân vật, có thể là thật hoặc do tác giả tưởng tượng. Nhân vật trong truyện được xây dựng qua ngoại hình, tính cách, tâm lí,… Truyện thường phản ánh hiện thực qua bức tranh mở rộng của đời sống qua những sự kiện, biến cố xảy ra trong cuộc đời của nhân vật.

Thể tùy bút: ghi chép tùy hứng, tản mạn những sự việc có thật, nhưng không theo một cốt truyện nào. Qua đó, người viết chú trọng bộc lộ thái độ, cảm xúc, suy tư, nhận thức, đánh giá của mình về con người và cuộc sống.

3.2

/

5

(

46

bình chọn

)

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài: Vào Phủ Chúa Trịnh – Ngữ Văn 11 Tập 1 trên website Maiphuongus.net. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!