Xem Nhiều 2/2023 #️ Soạn Bài: Văn Bản Văn Học – Ngữ Văn 10 Tập 2 # Top 3 Trend | Maiphuongus.net

Xem Nhiều 2/2023 # Soạn Bài: Văn Bản Văn Học – Ngữ Văn 10 Tập 2 # Top 3 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài: Văn Bản Văn Học – Ngữ Văn 10 Tập 2 mới nhất trên website Maiphuongus.net. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

Những tiêu chí chủ yếu của văn bản văn học: có 3 tiêu chí:

Tiêu chí 1: Văn bản văn học đi sâu phản ánh và khám phá thế giới tình cảm, tư tưởng và thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người.

Tiêu chí 2: Ngôn từ của văn bản văn học là ngôn từ nghệ thuật có hình tượng mang tính thẩm mĩ cao, trau chuốt biểu cảm, gợi cảm, hàm súc, đa nghĩa.

Tiêu chí 3: Văn bản văn học bao giờ cũng thuộc về một thể loại nhất định với những quy ước riêng, cách thức của thể loại đó.

Câu 2:

Nói: “hiểu tầng ngôn từ mới là bước thứ nhất cần thiết để đi vào chiều sâu của văn bản văn học” là bởi vì:

Văn học là nghệ thuật ngôn từ. Khi đọc văn bản văn học, chúng ta phải hiểu rõ nghĩa của từ, từ nghĩa tường minh đến hàm nghĩa, từ nghĩa đen đến nghĩa bóng.

Ngôn từ là đối tượng đầu tiên khi tiếp xúc với văn bản văn học

Chiều sâu của văn bản văn học tạo nên từ tầng hàm nghĩa, tầng hàm nghĩa được ẩn dưới bóng tầng hình tượng, mà hình tượng lại được hình thành từ sự khái quát của lớp nghĩa ngôn từ.

Nói tóm lại, khi đọc văn bản văn học phải hiểu được tầng hàm nghĩa nhưng hiểu được tầng ngôn từ là bước thứ nhất cần thiết để đi vào chiều sâu của văn bản văn học.

Câu 3:

Ý nghĩa một hình tượng trong bài thơ hoặc đoạn thơ: Hàm nghĩa của văn bản văn học là những lớp nghĩa ẩn kín, tiềm tàng của văn bản được gửi gắm trong hình tượng. Các em có thể tìm hiểu ý nghĩa của hình tượng trong câu ca dao sau:

Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng

Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?

Câu ca dao trên không chỉ mang ý nghĩa tả thực. “Tre non đủ lá” là chỉ những người đã trưởng thành, đủ lớn; còn “đan sàng” là chỉ việc cưới xin, kết duyên với nhau.

Như vậy, khi chàng trai nói đến chuyện tre, đan sàng thì câu ca dao không chỉ mang ý nghĩa tả thực như vậy. Mà nó còn là lời ngỏ ý của chàng trai hỏi cô gái có đồng ý nên duyên với chàng hay không.

Câu 4:

* Hàm nghĩa của văn bản văn học là những ý nghĩa ẩn kín, nghĩa tiềm tàng của một văn bản văn học. Đó là những điều mà nhà văn gửi gắm, tâm sự, kí thác, những thể nghiệm về cuộc sống.

Ví dụ:

Bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương: mới đọc thì chỉ là miêu tả chiếc bánh trôi đơn thuần, nhưng nghĩa hàm ẩn mà tác giả muốn gửi gắm lại là vẻ đẹp cũng như số phận bi đát của người phụ nữ trong xã hội phong kiến bất công.

Bài thơ Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến: kể về tình huống người bạn lâu không gặp đến nhà chơi mà chủ nhà không có gì tiếp khách. Thực chất, tất cả những vật chất không đầy đủ đó chỉ để nổi bật lên tình bạn thắm thiết của nhà thơ với bạn mình.

4.3

/

5

(

3

bình chọn

)

Soạn Bài Văn Bản Trang 24 Sgk Ngữ Văn 10, Tập 1

Khi soạn bài Văn bản trang 24 SGK Ngữ văn 10, tập 1, các em sẽ hiểu rõ hơn về khái niệm văn bản, các loại văn bản thường gặp, từ đó biết cách xác định và tạo lập một văn bản cho hoàn chỉnh cũng như phân biệt được đặc trưng của các loại văn bản để sử dụng cho đúng.

SOẠN BÀI VĂN BẢN ngắn 1

Cả 3 văn bản đều sử dụng hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ. Trong đó, mối văn bản lại đáp ứng một yêu cầu khác nhau:

Trao đổi kinh nghiệm sống ⇒ Văn bản 1

Bày tỏ tình cảm ⇒ văn bản 2

Liên kết chặt chẽ dưới hình thức văn xuôi nhằm bộc lộ tư tưởng, tình cảm ⇒ văn bản 3

Nội dung đề cập của mỗi văn bản:

– Văn bản (1): môi trường sống có vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách của con người.

– Văn bản (2): số phận bất hạnh, bấp bênh đầy ngang trái của người phụ nữ trong xã hội phong kiến

– Văn bản (3): Lời kêu gọi toàn quốc đứng lên kháng chiến của chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ở văn bản có nhiều câu thì nội dung của văn bản được triển khai rõ ràng, rành mạch và thống nhất giữa các cặp câu, các ý được sắp xếp logic theo trình tự diễn biến của sự việc.

Văn bản (3) được kết cấu theo 3 phần rõ ràng:

– Mở bài: Đặt vấn đề nghị luận

– Thân bài: Lần lượt triển khai các luận điểm

– Kết bài: Khẳng định lại vấn đề

Văn bản (3) là văn bản nghị luận với kết cấu đặc biệt. Mở đầu dưới hình thức bằng một lời kêu gọi: Hỡi đồng bào toàn quốc ! và kết thúc cũng bằng một lời kêu gọi: Kháng chiến thắng lợi muôn năm !

Mỗi văn bản trên được tạo ra đều nhằm một một đích giao tiếp nhất định.

– Văn bản (1): môi trường sống có vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách của con người.

– Văn bản (2): số phận bất hạnh, bấp bênh đầy ngang trái của người phụ nữ trong xã hội phong kiến

– Văn bản (3): Lời kêu gọi toàn quốc đứng lên kháng chiến của chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tấm cám là bài học nổi bật trong Tuần 7 của chương trình học theo SGK Ngữ Văn 10, học sinh cần Soạn bài Tấm Cám, đọc trước nội dung, trả lời câu hỏi trong SGK.

Trong chương trình học văn lớp 10, phần bài Uy-lít-xơ trở về là một trong những nội dung rất quan trọng mà các em cần quan tâm và trau dồi kiến thức Ngữ văn 10 của mình.

Tuyển tập các bài văn mẫu lớp 10 chính là tài liệu hữu ích dành cho các học sinh lớp 10. Thông qua tài liệu Văn mẫu lớp 10, các em nhanh chóng nâng cao kiến thức, bổ sung vốn từ và vận dụng các biện pháp tu từ, biểu cảm … vào trong văn dễ dàng, hiệu quả hơn.

https://thuthuat.taimienphi.vn/soan-bai-van-ban-38460n.aspx

Soạn Bài Viết Bài Làm Văn Số 2 : Văn Tự Sự Sbt Ngữ Văn 10 Tập 1

Giải câu 1, 2, 3, 4, 5, 6 trang 51 SBT Ngữ văn 10 tập 1. Bằng lời văn của mình, anh (chị) hãy kể lại câu chuyện Đăm Săn chiến thắng Mtao Mxây (dựa theo đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây, trích sử thi Đăm Săn).

b) Nhớ lại cốt truyện, rồi lập dàn ý tóm lược theo ba phần của văn bản tự sự. Ví dụ dàn ý truyện Bến quê :

– Mở bài : Ngồi trên giường, vịn tay vào thành cửa sổ, Nhĩ nhìn ra ngoài…

– Thân bài : Gồm các sự việc :

+ Nhĩ trò chuyện với vợ con…

+ Nhĩ sai con thay mình đi sang bãi sông Hồng…

+ Mấy em bé hàng xóm sang giúp Nhĩ trở mình…

+ Nhĩ lại nghĩ đến người vợ, thức tỉnh về vẻ đẹp tâm hồn của vợ…

– Kết bài : Ông giáo Khuyến sang thăm, hoảng hốt trước vẻ mặt và cử chỉ bất thường của Nhĩ.

c) Dựa vào bố cục của truyện, vận dụng kĩ năng tóm tắt văn bản tự sự, anh (chị) tự kể lại câu chuyện đó.

2. Đề bài 2, trang 81, SGK.

3. Đề bài 3, trang 81, SGK.

Trả lời:

a) Dựa vào lời dẫn dắt của đề, hãy dự kiến cốt truyện.

b) Có thể xảy ra ba tình huống :

– Gặp lại Trọng Thuỷ, Mị Châu rất cảm động và nhận lời nối lại duyên xưa.

– Gặp lại Trọng Thuỷ, Mị Châu tức giận, bỏ đi.

– Gặp lại Trọng Thuỷ, Mị Châu giảng giải lẽ đúng sai, tình nghĩa. Trọng Thuỷ rất ân hận, ngỏ ý muốn nối lại duyên xưa, nhưng Mị Châu không chấp thuận. Trọng Thuỷ lặng im, suy nghĩ…

c) Theo anh (chị), trong ba tình huống ấy, tình huống nào có ý nghĩa và có thể xảy ra ? Hãy dựa vào gợi ý đó rồi viết thành câu chuyện với một nhan đề sát hợp. Ví dụ : Gặp lại người xưa, Tái hồi Mị Châu – Trọng Thủy, Kiếp sau của một đôi vợ chồng,…

4. Đề bài 4, trang 81, SGK.

Trả lời:

a) Trước hết, hãy chọn đề tài cho câu chuyện :

– Một kỉ niệm về tình cảm gia đình : quan hệ với cha mẹ, quan hệ với anh chị em, hay quan hệ với ông bà nội, ngoại,…

– Một kỉ niệm về tình thầy trò hoặc tình bạn,…

b) Sau đó dự kiến cốt truyện. Chú ý lựa chọn những sự việc theo bố cục ba phần như đã gợi ý ở bài tập 1.

5. Bằng lời văn của mình, anh (chị) hãy kể lại câu chuyện Đăm Săn chiến thắng Mtao Mxây (dựa theo đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây, trích sử thi Đăm Săn).

6. Đóng vai nhân vật bà lão nghèo – xưng tôi – kể lại sự việc cuối trong truyện Tấm Cám (từ lúc bà lão nhìn thấy quả thị đến khi Tấm gặp lại nhà vua).

Trả lời:

a) Trước hết, có thể đặt nhan đề cho câu chuyện: Lời kể của bà lão nghèo ; Chốn nương thân của cô Tấm ; Một cuộc gặp gỡ thần kì…

b) Sau đó dự kiến cốt truyện :

– Mở bài : Bà lão nghèo tự giới thiệu.

– Thân bài : Phát triển các sự việc, chi tiết :

+ Sự việc 1 : Bà lão nhìn thấy quả thị chín, toả hương thơm…

+ Sự việc 2 : Đem thị về nhà, bà lão nâng niu, đặt thị trên đầu giường… Rồi Tấm hiện ra, hai người kết nghĩa mẹ con…

+ Sự việc 3 : Nhà vua tới uống nước tại quán của bà lão… Tấm tìm lại được hạnh phúc…

– Kết bài : Kể một chi tiết đặc sắc, hoặc ghi lại một suy nghĩ… của bà lão nghèo.

c) Tham khảo hai đoạn văn sau :

– Phần phát triển câu chuyện : Lạ kì thay, mỗi lần tôi đi bán hàng về đều thấy nhà cửa sạch sẽ, cơm nước được nấu và dọn sẵn để phần tôi. Cứ ngỡ như có một nàng tiên nào hiện lên đem lại niềm vui, hạnh phúc cho tôi vậy. Ngày thứ nhất, ngày thứ hai… Cho đến ngày thứ năm, tôi quyết định rình xem trong nhà mình có tiên thật không. Hôm ấy, tôi giả vờ đi bán hàng, rồi rón rén quay lại, nấp sau vườn, ghé mắt nhìn qua khe cửa buồng. Tôi thấy từ trong quả thị đầu giường bước ra một bé gái tí hon. Rồi trong chốc lát, em bé lớn dần, lớn dần… Tôi không tin nổi mắt mình nữa, bụng nghĩ thầm hay là mình đang nằm mơ. Tôi nhanh nhẹn bước vào nhà. Trước mặt tôi đúng là một cô gái xinh đẹp. Cô đang ở tuổi xuân sắc mười tám, đôi mươi. Nước da cô trắng như trứng gà bóc, mái tóc mịn màng, đen óng. Đôi mắt đẹp như mắt con chim phượng hoàng. Đặc biệt là… đôi môi đỏ mọng, chúm chím. Nhìn thẳng vào cô gái, tôi xúc động, ngỡ ngàng không nói nên lời… Tôi chạy ào vào nhà, xé tan cái vỏ quả thị, rồi ôm chầm lấy cô gái…

(Bài làm của HS)

Văn bản 1 RÙA, THỎ CHẠY THI LẦN THỨ HAI

Trong cuộc chạy thi nổi tiếng lần trước, Rùa đã tới đích trước và thắng cuộc. Thế nhưng câu chuyện không dừng ở đây.

Rùa ta sau khi lĩnh được huy chương vàng và tiền thưởng, vừa định quay đi, liền bị đám nhà báo của giới động vật bu lấy vòng trong vòng ngoài. Có người xin chụp ảnh Rùa, có người nêu câu hỏi phỏng vấn Rùa, lại có cả những nhà báo hỏi xin chữ kí của Rùa nữa.

Rùa hình như không hề tỏ ra sợ hãi trước cái thế trận ấy, ung dung mỉm cười, nhẩn nha trả lời phỏng vấn các nhà báo. Chẳng bao lâu, với những đầu đề rất hấp dẫn như: Con đường đi đến chức vô địch của vận động viên Rùa, Phong độ Rùa, Rùa là một lá cờ đầu, Rùa thần,… các báo Thế giới động vật, Động vật buổi chiều,… thi nhau đăng tải những câu chuyện về Rùa. Đài truyền hình các loài vật còn mời Rùa đến trường quay của Đài tham dự giao lưu. Đến, Rùa đã thấy các ngôi sao dẫn chương trình nổi tiếng như Quạ, Vẹt, Hoạ Mi,… đang đợi sẵn ở đó. Đạo diễn truyền hình nói rõ với Rùa về yêu cầu của cuộc giao lưu đặc biệt này… Thế rồi còn gợi ý cho Rùa nói mấy điều tâm sự với đông đảo các loài vật. Rùa hơi run, song đã lấy hết can đảm và bắt đầu nói, cứ nghĩ đến đâu thì nói đến đấy, lúc đầu xem ra có vẻ hơi run, nhưng về sau càng nói càng hào hứng, đến nỗi cả những chuyện ngày bé đái dầm, hái trộm trái cây nhà hàng xóm thế nào cũng kể tuốt tuồn tuột.

[…] Mấy nhà xuất bản cũng tìm gặp Rùa, bàn việc ra sách về Rùa. Không lâu, trên thị trường sách bỗng xuất hiện một cuốn sách bán rất chạy : Đường dẫn đến huy chương vàng của Rùa. Tất nhiên, sau việc đó, Rùa ta nhận được một khoản nhuận bút kha khá.

Rùa đọc sách, thấy toàn là chuyện phịa mà đời mình chưa hề trải qua. Rùa chẳng bắt bẻ làm gì vì tiền của người ta đã nằm trong túi mình rồi.

Rùa những tưởng thế là quá đủ mệt. Không ngờ mói chỉ ba hôm sau, Giám đốc Trung tâm phim truyền hình lại tìm gặp Rùa, mời Rùa xuống núi một phen để nhận một vai chính của bộ phim truyền hình 50 tập, nhan đề là Truyền kì về Rùa. Thế là Rùa lại phải một phen giáp mãng ra trận, theo đoàn làm phim trèo đèo lội suối, quay những cảnh phim võ hiệp. Rùa nghiễm nhiên trở thành ngôi sao truyền hình mà giới động vật vô cùng hâm mộ.

Thỏ được biết Rùa lên như diều gặp gió như vậy, ấm ức trong lòng, bèn thách thức Rùa chạy thi lần nữa. Thật không ngờ Rùa đã rất vui vẻ nhận lời thách thức của Thỏ. Thế là các cơ quan truyền thông đại chúng, nào là Đài truyền hình động vật, báo Thế giới động vật, Đài phát thanh động vật,… thi nhau liên tục đưa tin, làm cho giới động vật xôn xao hết cả lên. Các loài vật lớn nhỏ háo hức chờ đợi phút mở đầu cuộc chạy thi lần thứ hai giữa Rùa và Thỏ, ai cũng cho rằng lần trước Thỏ ngủ quên trên dọc đường nên Rùa mới thắng, lần này dứt khoát là Thỏ sẽ rửa được mối nhục đó.

Thế nhưng kết quả cuộc đua tài ngoài dự đoán của mọi người : Một lần nữa Rùa lại tới đích trước, giành danh hiệu vô địch chạy việt dã. Mọi người bảo nhau rằng không thể được, nhất định là có gì mờ ám bên trong.

Chẳng biết thế nào, nhưng sau đó không lâu, Thỏ vốn nghèo rớt mồng tơi đã xây được biệt thự, đi đến đâu cũng ăn uống chơi bời, tiêu tiền như rác. Thế là mọi người đoán biết được Rùa với Thỏ đã quan hệ vói nhau thế nào.

Mọi người đều ngấm ngầm cảm nhận ra rằng, là Rùa nhưng có tiền, có tiếng nên đã trở nên đáng nể, đáng sợ thế nào.

(Theo Mâu Phi Chí, Truyện cực ngắn hay nhất

của Trung Quốc, tập IV, Nguyễn Bá Thính dịch,

NXB Văn học, Hà Nội, 2003)

Văn bản 2 ĐIỂM TÁM

Giờ trả bài tập làm văn là giờ sôi động nhất vì thầy giáo thường đọc cho cả lớp nghe hai bài, bài được điểm cao nhất và bài có điểm thấp nhất. Tất nhiên, bài điểm cao được những tràng pháo tay và bài điểm thấp là những trận cười, chưa kể sau đó còn hình thành nên nhiều giai thoại từ những câu mà thầy nhận xét là “què cụt, thiếu sức thuyết phục,…”. Và giai thoại này đôi khi còn lan truyền ra cả các lớp khác mà tác giả của nó chỉ còn cách là lấy cả hai tay mà che mặt lại. Vào giờ này, cả lớp đứa nào cũng hồi hộp khi xấp bài trên tay thầy đã vơi nhiều rồi mà bài của mình còn chưa thấy đâu.

Hôm nay, như thường lệ, thầy mở cặp lấy xấp bài ra. Cả lớp nhấp nhỏm. Với đề ra là “Hãy kể lại một kỉ niệm sâu sắc của em”, thầy đã nói rằng lớp có bốn mươi học sinh thì chắc chắn sẽ có bốn mươi kỉ niệm khác nhau, không như khi chứng minh trích đoạn nào đó bị thầy chê là đơn điệu và chúng tôi thường chống chế “Thầy ơi, học cùng nhau thì làm sao mà dẫn chứng không trùng lặp nhau được !”.

Khác thường, là thầy đưa xấp bài cho lóp trưởng, chỉ giữ lại một bài. Chỉ một! Đứa nào cũng nhón người nghển cổ cho cao lên một chút để cố nhìn cho ra tên của ai và được mấy điểm, nhưng không được. Bài hay nhất ? Dở nhất ?

Giỏi văn nhất lớp là Kim Chi. Nhưng rồi dự đoán của chúng tôi tiêu tan khi Kim Chi với tay nhận bài của mình từ tay lớp trưởng. Vậy là thầy giữ lại bài dở nhất rồi! Cả lớp chuyển ánh nhìn về phía Cường với tiếng cười khúc khích. Cường thường có những câu văn kiểu như “Đi một ngày đàng học một sàng khôn vậy nên chúng ta phải đi nhiều ngày hơn nữa…”. Nhưng rồi Cường cũng nhận được bài của mình.

Vậy thì của ai ? Hay ? Dở ? Làm sao biết trước được bài sẽ đọc lên hôm nay là của ai! Trời, môn Văn… Có khi bài trước mới được sáu điểm với lời phê “Lối hành văn trong sáng. Nên đọc nhiều để dẫn chứng phong phú hơn” thì bài sau nhận được ngay điểm bốn với lời phê “Quá lan man, dông dài!”. Điểm bảy môn Văn của thầy là một ước mơ xa! Ngay cả Kim Chi cũng nói vậy.

Chúng tôi nhìn theo tay của lớp trưởng cho đến khi bài cuối cùng được phát ra. Chỉ mình Dũng là chưa có. Không hẹn mà cả lớp đều ngạc nhiên nhìn về phía Dũng, tác giả bài văn trên tay thầy.

Tránh cái nhìn của cả lớp, Dũng ngoảnh ra cửa sổ. Không thấy mặt Dũng nhưng có thể thấy rõ hai vành tai và cổ của Dũng đỏ ửng.

Dũng là học sinh trường huyện mới chuyển về lớp tôi được hai tháng nay. Không có gì nổi trội, nơi Dũng cái gì cũng bình thường và chưa có gì tỏ ra là đặc biệt về môn Văn cả. Vậy mà điểm tám. Phải, điểm tám ! Chúng tôi nhìn rõ số tám đỏ chói trong ô điểm khi thầy đưa tay sửa lại cặp kính trên sống mũi, cử chỉ quen thuộc mỗi khi thầy xúc động. Giọng thầy trầm trầm :

“Kỉ niệm sâu sắc nhất của em là khi nhận được thư của ba em. Nhà em nghèo lắm nhưng ba má cho em ra phố học để sau này em có thể làm được điều gì đó tốt đẹp hơn. Cho em ra phố, ngoài việc phải kiếm việc làm thêm để có tiền trang trải chuyện học hành của em, ba em còn phải làm những việc mà khi ở nhà, em có thể đỡ đần được cho gia đình. Chưa bao giờ ba má em viết cái gì cả. Hồi em còn ở nhà, mỗi khi cần thư về quê hay viết đơn từ là em viết…”

– Các em, thầy sẽ chép lại nguyên văn lá thư của ba bạn Dũng lên bảng cho chúng ta cùng đọc.

Một chuyện lạ ! Tất cả chúng tôi hồi hộp tò mò đọc từng chữ hiện ra dưới tay thầy:

“Con iu thươn của ba. Chiu hôm qua ba kiu người báng con heo đễ có tiềng gưởi cho con con nhớ nhà khôn ? Cã nhà nhớ con nhíu lấm cố họch nge con chừn nào mùa màn song ba má xẻ ra thăm con”.

Lá thư vỏn vẹn 45 chữ.

Khi thầy quay lại thì Dũng đã úp mặt xuống bàn, hai vai run run. Mắt thầy cũng hoe đỏ.

Cả lớp im phăng phắc trước lá thư đầy lỗi chính tả trên bảng, lá thư yêu thương và gởi gắm của một người cha vốn chỉ quen với cày cuốc lần đầu cầm bút viết cho con.

(Theo Nguyên Hương, 35 tác phẩm được giải

cuộc vận động viết truyện ngắn giáo dục đạo đức

cho thiếu niên, nhi đồng, NXB Giáo dục, 2003)

chúng tôi

Soạn Bài Lớp 10: Văn Bản Soạn Bài Môn Ngữ Văn Lớp 10 Học Kì I

Soạn bài lớp 10: Văn bản Soạn bài môn Ngữ văn lớp 10 học kì I

Soạn bài: Văn bản

Soạn bài lớp 10: Văn bản được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về khái niệm, đặc điểm và các loại văn bản thường gặp giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình.

Soạn bài lớp 10: Tổng quan văn học Việt Nam Soạn bài lớp 10: Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ

VĂN BẢN

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Khái niệm văn bản

Văn bản là sản phẩm được tạo ra trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ. Nó thường gồm nhiều câu và là một chỉnh thể về mặt nội dung và hình thức.

2. Các đặc điểm của văn bản 3. Các loại văn bản thường gặp

Dựa theo lĩnh vực và chức năng giao tiếp, người ta phân biệt các loại văn bản sau:

II. RÈN KĨ NĂNG

1. Các văn bản (1), (2), (3) được người đọc (người viết) tạo ra trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ. Các văn bản ấy là phương tiện để tác giả trao đổi kinh nghiệm, tư tưởng tình cảm… với người đọc. Có văn bản gồm một câu, có văn bản gồm nhiều câu, nhiều đoạn liên kết chặt chẽ với nhau; có văn bản bằng thơ, có văn bản bằng văn xuôi.

2. Văn bản (1) đề cập đến một kinh nghiệm trong cuộc sống (nhất là việc giao kết bạn bè), văn bản (2) nói đến thân phận của người phụ nữ trong xã hội cũ, văn bản (3) đề cập tới một vấn đề chính trị (kêu gọi mọi người đứng lên chống Pháp). Các vấn đề này đều được triển khai nhất quán trong từng văn bản. Văn bản (2) và (3) có nhiều câu nhưng chúng có quan hệ ý nghĩa rất rõ ràng và được liên kết với nhau một cách chặt chẽ (bằng ý nghĩa hoặc bằng các liên từ).

3. Ở văn bản (2), mỗi cặp câu lục bát tạo thành một ý và các ý này được trình bày theo thứ tự “sự việc” (hai sự so sánh, ví von). Hai cặp câu này vừa liên kết với nhau bằng ý nghĩa, vừa liên kết với nhau bằng phép lặp từ (“thân em”). Ở văn bản (3), dấu hiệu về sự mạch lạc còn được nhận ra qua hình thức kết cấu 3 phần: Mở bài, thân bài và kết bài.

Mở bài: Gồm phần tiêu đề và câu “Hỡi đồng bào toàn quốc!”.

Thân bài: tiếp theo đến “… thắng lợi nhất định về dân tộc ta!”.

Kết bài: Phần còn lại.

4. Mục đích của việc tạo lập văn bản (1) là nhằm cung cấp cho người đọc một kinh nghiệm sống (ảnh hưởng của môi trường sống, của những người mà chúng ta thường xuyên giao tiếp đến việc hình thành nhân cách của mỗi cá nhân); văn bản (2) nói lên sự thiệt thòi của người phụ nữ trong xã hội phong kiến (họ không tự quyết định được thân phận và cuộc sống tương lai của mình mà phải chờ đợi vào sự rủi may); mục đích của văn bản (3) là kêu gọi toàn dân đứng lên chống lại cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai của thực dân Pháp.

5. Văn bản (3) là một văn bản chính luận được trình bày dưới dạng “lời kêu gọi”. Thế nên, nó có dấu hiệu hình thức riêng. Phần mở đầu của văn bản gồm tiêu đề và một lời hô gọi (Hỡi đồng bào toàn quốc!) để dẫn dắt người đọc vào phần nội dung, để gây sự chú ý và tạo ra sự “đồng cảm” cho cuộc giao tiếp.

Phần kết thúc là hai khẩu hiệu (cũng là hai lời hiệu triệu) để khích lệ ý chí và lòng yêu nước của “quốc dân đồng bào”.

6. Văn bản (1) nói đến một kinh nghiệm sống, văn bản (2) nói lên thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ, văn bản (3) đề cập đến một vấn đề chính trị.

Ở các văn bản (1) và (2) chúng ta thấy có nhiều các từ ngữ quen thuộc thường sử dụng hàng ngày (mực, đèn, thân em, mưa sa, ruộng cày…). Văn bản (3) lại sử dụng nhiều từ ngữ chính trị (kháng chiến, hòa bình, nô lệ, đồng bào, Tổ quốc…).

Nội dung của văn bản (1) và (2) được thể hiện bằng những hình ảnh giàu tính hình tượng. Trong khi đó, văn bản (3) lại chủ yếu dùng lí lẽ và lập luận để triển khai các khía cạnh nội dung.

7. a) Phạm vi sử dụng của các loại văn bản:

b) Mục đích giao tiếp cơ bản của mỗi loại văn bản

c) Về từ ngữ

d) Cách kết cấu và trình bày ở mỗi loại văn bản :

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài: Văn Bản Văn Học – Ngữ Văn 10 Tập 2 trên website Maiphuongus.net. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!