Xem Nhiều 12/2022 #️ Soạn Bài Tự Tình Của Tác Giả Hồ Xuân Hương / 2023 # Top 19 Trend | Maiphuongus.net

Xem Nhiều 12/2022 # Soạn Bài Tự Tình Của Tác Giả Hồ Xuân Hương / 2023 # Top 19 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài Tự Tình Của Tác Giả Hồ Xuân Hương / 2023 mới nhất trên website Maiphuongus.net. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

BÀI LÀM

ĐỌC HIỂU VĂN BẢN

Những nét chính về tác giả

Hồ Xuân Hương quê ở Quỳnh Lưu – Nghệ An nhưng sống chủ yếu ở kinh thành Thăng Long.

Cuộc đời, tình duyên của Hồ Xuân Hương có nhiều éo le, ngang trái

Sáng tác của Hồ Xuân Hương gồm cả chữ Nôm và chữ Hán.

Hiện có khoảng trên dưới 40 bài thơ Nôm của Hồ Xuân Hương.

Tập thơ Lưu Hương Ký (phát hiện năm 1964) gồm 24 bài chữ Hán và 26 bài chữ Nôm.

Hồ Xuân Hương viêt về phụ nữ, trào phúng mà trữ tình.

Thơ Hồ Xuân Hương là tiếng nói thương cảm đối với người phụ nữ, là sự khẳng định, đề cao vẻ đẹp và khát vọng của họ.

Hồ Xuân Hương từng được mệnh danh là “Bà chúa thơ Nôm”

Những nét chính về tác phẩm

Tự Tình (bài 2) nằm trong chùm thơ Tự tình gồm 3 bài của Hồ Xuân Hương.

Tác phẩm thể hiện tâm trạng, thái độ của Hồ Xuân Hương: vừa đau buồn, vừa phẫn uất trước duyên phận, gắng gượng vươn lên nhưng vẫn rơi vào bi kịch.

HƯỚNG DẪN HỌC BÀI

Câu 1.

Hoàn cảnh và tâm trạng của tác giả trong bốn câu thơ đầu:

“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

Trơ cái hồng nhan với nước non

Chén rượu hương đưa say lại tỉnh

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.”

Về hoàn cảnh của Hồ Xuân Hương:

Thời gian: Đêm khuya thanh vắng với tiếng trống canh dồn.

Không gian: Vắng lặng, im ắng, trên bầu trời chỉ có một vầng trăng khuyết.

Hoạt động: Hồ Xuân Hương đang uống rượu

Về tâm trạng của Hồ Xuân Hương

Lúc này, chỉ có một mình, lại ở trong hoàn cảnh đêm khuya vắng lặng, nỗi buồn của Hồ Xuân Hương càng thêm da diết và thấm thía.

Phẫn uất trước duyên phận. Hồ Xuân Hương nửa tỉnh nửa say trong tâm trạng vừa đau buồn, vừa phẫn uất. Câu thơ “trơ cái hồng nhan với nước non” đã thể hiện rất rõ sự xót thương và đau khổ của Hồ Xuân Hương cho chính bản thân mình.

Cả 4 câu thơ đều thấm đượm nỗi niềm buồn thương day dứt của tác giả. Đặc biệt, nữ thi sĩ đã dùng hình ảnh “Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn” để ẩn dụ về cuộc đời mình. Ở cái lứa tuổi đã “bóng xế” mà tình duyên vẫn chưa trọn vẹn. Giống như vầng trăng kia “khuyết chưa tròn”. Giữa trăng và người lúc này có mối tương quan mật thiết với nhau.

Câu 2.

Hình tượng thiên nhiên trong hai câu thơ 5 và 6 đã góp phần vào diễn tả tâm trạng, thái độ của nhà thơ trước số phận:

“Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám

Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn”

Trong hai câu thơ này, Hồ Xuân Hương đã tả rất thực về thiên nhiên xung quanh mình. Nhưng sẽ không có gì lạ nếu tác giả không dùng những động từ mạnh và phép đảo ngữ để nhấn mạnh cảnh vật. Đó là hình ảnh những đám rêu trên mặt đất. Chúng chỉ là một loại tảo rất nhỏ bé, rất mềm yếu nhưng khi được nhìn bằng tâm trạng đau đau khổ, đang khát khao hạnh phúc, chúng bỗng trở nên mạnh mẽ đến nỗi “xiên ngang mặt đất”. Những hòn đá cũng vậy, chúng “đâm toạc chân mây”.

Hình ảnh tả thực nhưng ẩn chứa nỗi niềm tâm tư của tác giả. Rêu và đá chỉ là những sự vật vô tri vô giác, nhưng qua đó, Hồ Xuân Hương muốn thể hiện niềm khát khao tự do, khát khao hạnh phúc của mình.

Biện pháp đảo ngữ cũng đã góp phần rất lớn vào việc nhấn mạnh nỗi lòng của tác giả.

Câu 3.

Tâm sự của tác giả trong hai câu thơ kết:

“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại

Mảnh tình san sẻ tí con con”

Hồ Xuân Hương ngao ngán số phận hẩm hiu, đau thương của mình.

“Xuân đi xuân lại lại” – mùa xuân của tự nhiên là mùa xuân tuần hoàn, xuân đi xuân lại đến. Nhưng mùa xuân của đời người, của tuổi trẻ thì không, chỉ có một mà thôi. Và mỗi một mùa xuân của đất trời qua đi, lại là một lần nữa tuổi xuân của tuổi trẻ cũng lui dần vào quá khứ chứ không quay trở lại được như mùa xuân của tự nhiên.

“Mảnh tình” – đã là mảnh tình nghĩa là một cuộc tình rất mong manh, nhỏ bé. Hồ Xuân Hương tiếc nuối cho mình, bất lực trước sự phá hủy của thời gian. Khi mùa xuân qua đi đã chẳng trở lại, có mỗi mảnh tình mong manh thôi cũng lại “san sẻ tí con con”.

Câu 4.

Bài thơ vừa nói lên bi kịch duyên phận, vừa cho thấy khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của Hồ Xuân Hương.

Xuyên suốt cả bài thơ là giọng điệu đau buồn, oán trách và tủi hổ. Một người con gái ôm bao nỗi niềm tương tư trong đêm trăng mờ trống vắng. Ở nơi ấy, chỉ còn lại những tiếng trống canh “văng vẳng” từ xa vọng lại với hình ảnh một người con gái “Trơ cái hồng nhan với nước non”. Tác giả cố tình dùng từ “trơ” như để bộc bạch về thân phận bẽ bàng của mình. “Cái hồng nhan” cũng được thể hiện một cách đầy xót xa. Hương rượu thoang thoảng đưa nhưng không đủ làm người ta say, giống như hương tình kia quá mờ nhạt mong manh không đủ để trái tim nhà thơ thấm thía.

Đau đớn và buồn tủi, nhưng Hồ Xuân Hương vẫn khát khao niềm hạnh phúc với một tình yêu đúng nghĩa. Ngay cả đám rêu yếu mềm dưới đất còn có thể “xiên ngang mặt đất”, những hòn đá có thể “đâm toạc chân mây” thì cớ gì mà nữ thi sĩ không vượt lên được những bất hạnh những khổ đau của cuộc đời mình.

Khát khao hạnh phúc, khát khao yêu đương nhưng lại một lần nữa bi kịch đến với Hồ Xuân Hương khi mùa xuân qua đi lấy đi cả tuổi thanh xuân của đời người. Một chút tình duyên giờ cũng chỉ còn là một mảnh tình “tí con con”.

Phân Tích Bài Thơ Tự Tình Ii Của Tác Giả Hồ Xuân Hương / 2023

A. Sơ đồ tóm tắt gợi ý

B. Dàn ý chi tiết

a. Mở bài

Giới thiệu tác giả Hồ Xuân Hương và bài thơ “Tự tình”

Dẫn dẳt vào vấn đề cần phân tích

b. Thân bài

Khái quát chung:

Thể loại: Thất ngôn bát cú Đường luật

Nội dung: Bài thơ thể hiện nỗi buồn và tâm sự của nhà thơ về số phận lẻ loi của mình và niềm khát khao được hạnh phúc, được yêu thương.

Phân tích bài thơ:

Hai câu đề:

Hoàn cảnh: giữa đêm khuya, thao thức, nghe tiếng trống dồn dập sang canh

Nội dung: cô độc giữa cuộc đời.

Nghệ thuật sử dụng: từ ngữ mạnh → nghe thật thấm thía

Hai câu thực:

Nói lên suy nghĩ của nhà thơ:

Buồn, uống chén rượu để quên nhưng càng uống càng tỉnh, tỉnh lại càng buồn hơn.

Nhìn trăng thấy trăng đã xế bóng mà lại chưa tròn. Vầng trăng như là thân phận của nhà thơ.

Khuyết chưa tròn: dang dở, thất vọng, thương tiếc

Hai câu luận:

Mở rộng tầm nhìn: những đám rêu trên mặt đất, mấy hòn đá phía chân trời. → Những hình ảnh rất thực, ước lệ.

Cái nhìn khoẻ khoắn. Có một sự phản kháng, sự vươn lên để khẳng định chỗ đứng của mình.

Hai câu kết:

Từ thiên nhiên xung quanh, nhìn lại bản thân mình, cảm thấy ngán ngẫm nỗi, một nỗi buồn cho mình, …..

Thời gian cứ trôi qua xuân đi xuân lại lại, một sự tuần hoàn liên tục nghe mà ngán ngẩm cho duyên phận của mình. Tuổi xuân trôi qua mà lại không có tình duyên trọn vẹn

Sự chia sẻ ít ỏi

Một nỗi buồn chán và thất vọng.

c. Kết bài

Nêu nhận xét, đánh giá

Mở rộng vấn đề (Suy ngẫm và liên tưởng của cá nhân)

​Đề bài: Phân tích bài thơ Tự tình II của tác giả Hồ Xuân Hương

Gợi ý làm bài​

Hồ Xuân Hương là nữ sĩ tài ba ở nước ta vào cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX. Ngoài tập “Lưu Hương kí” bà còn để lại khoảng 50 bài thơ Nôm, phần lớn là thơ đa nghĩa, vừa có nghĩa thanh vừa có nghĩa tục. Một số bài thơ trữ tình đằm thắm, thiết tha, buồn tủi… thể hiện sâu sắc thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ, với bao khao khát sống và hạnh phúc tình duyên. Chùm thơ “Tự tình” phản ánh tâm tư tình cảm của Hồ Xuân Hương, của một người phụ nữ lỡ thì quá lứa, duyên phận hẩm hiu,… Bài thơi này là bài thứ hai trong chùm thơ “Tự tình” ba bài.

Thi sĩ Xuân Diệu trong bài “Hồ Xuân Hương bà chúa thơ Nôm” đã viết: “Bộ ba bài thơ trữ tình này cùng với bài “Khóc vua Quang Trung” của công chúa Ngọc Hân làm một khóm riêng biệt, làm tiếng lòng chân thật của người đàn bà tự nói về tình cảm bản thân của đời mình trong văn học cổ điển Việt Nam…” Ông lại nhận xét thêm về đỉệu thơ, giọng thơ: “…trong bộ ba bài thơ tâm tình này, bên cạnh bài thơ vẩn “ênh hẻ nênh và bài thơ vần “om” oán hận, thì bài thơ vần “on” này mong đợi, chon von”.

Tự tình là một bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ và phong cách cũng như tư tưởng của Hồ Xuân Hương đặc biệt là những vấn đề xoay quanh người phụ nữ. Qua đây chúng ta cũng thấy được một Hồ Xuân Hương vừa yếu mềm nhưng cũng thật ngang tàng mạnh mẽ khi dám bộc lộ những suy nghĩ của chính mình.

Và để củng cố kiến thức đã học về bài thơ, các em có thể ôn tập với những hướng dẫn soạn bài Tự tình và bài giảng Tự tình. Ngoài ra, các em có thể tìm hiểu kĩ hơn về nội dung bài học với đề tài hình ảnh người phụ nữ Việt Nam qua bài thơ Tự tình. Mong các em hiểu hơn về hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội xưa và nỗi lòng của Hồ Xuân Hương qua bài thơ.

–MOD Ngữ văn HOC247 (tổng hợp và biên soạn)

Soạn Văn Bài: Tự Tình Của Hồ Xuân Hương / 2023

Soạn văn bài: Tự tình của Hồ Xuân Hương

Câu 1:

– Hai câu đầu khái quát không gian, thời gian làm nền cho tâm trạng.

– Thời gian được thể hiện qua câu với âm thanh văng vẳng trống canh dồn. Âm thanh văng vẳng không chỉ đơn thuần là sự cảm nhận âm thanh bằng thính giác mà còn là sự cảm nhận về sự trôi đi của thời gian – thời gian vô thủy, vô chung nhưng thời gian còn chứa đựng sự phá hủy.

– Từ trơ được đặt ở đầu câu với nghệ thuật đảo ngữ vừa nói được bản lĩnh nhưng lại cũng thể hiện được nỗi đau của nhà thơ. Trơ là tủi hổ, là bẽ bàng. Nhưng trơ với Hồ Xuân Hương còn là sự thách thức.

– Hồng nhan: cách nói về người phụ nữ nhưng đi liền với cái, gợi lên sự rẻ rúng, mỉa mai.

– Chén rượu hương đưa say lại tỉnh: Câu thơ gợi lên cái vòng luẩn quẩn, như là sự cảm nhận duyên tình đã trở thành trò đùa của tạo hóa: Hương rượu và hương tình đi qua chỉ để lại vị đắng chát, khổ đau của tác giả.

– Hình ảnh Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn là hình tượng chứa hai lần bi kịch: trăng sắp tàn (bóng xế) mà vẫn khuyết chưa tròn. Đó là sự tương đồng với thân phận của người phụ nữ. Câu thơ tả ngoại cảnh nhưng chứa đựng nội tâm của tác giả, tạo nên sự thống nhất giữa trăng và người.

Câu 2:

Hai câu 5 – 6 mang đậm cá tính của Hồ Xuân Hương. Hai hình ảnh thiên nhiên rất dữ dội thể hiện sự bức bối trong tâm trạng và khát khao phá vỡ những lối mòn quen thuộc của cuộc sống để được tự do. Rêu là một sinh vật nhỏ yếu, hèn mọn nhưng cũng không chịu khuất phục, mềm yếu; nó phải xiên ngang mặt đất. Đá vốn rất chắc nhưng giờ cũng ngọn hơn để đâm toạc chân mây.

Lối đảo ngữ cùng với những động từ mạnh xiên, đâm kết hợp với các bổ ngữ như ngang, toạc thể hiện rõ hơn nỗi khát khao hạnh phúc, giải thoát khỏi cô đơn của nhà thơ.

Câu 3:

Hai câu kết bỗng nhiên chùng xuống. Dường như mọi cố gắng đều vô ích. Sự thật vẫn là sự thật. Tâm trạng được trực tiếp bộc lộ. Thời gian vô tình cứ trôi chảy, xuân của tự nhiên qua đi rồi trở lại nhưng xuân của người thì không. Từ lại thứ nhất có nghĩa là thêm một lần nữa, từ lại thứ hai là sự trở lại. Vì vậy, hai từ lại giống nhau về âm nhưng khác nhau về nghĩa, về cấp độ nghĩa.

Câu thơ cuối phản phất sự cay đắng chua xót của người phụ nữ bất hạnh, có những cuộc tình duyên không trọn vẹn đủ đầy. Tác giả sử dụng nghệ thuật tăng tiến. Đây không phải là khối tình mà là mảnh tình, tức là hết sức bé nhỏ. Mảnh tình bé nhỏ lại đem san sẻ để chỉ còn tí con con.

Câu 4:

Trong Tự tình, nhà thơ đã dùng nhiều từ ngữ và hình ảnh gây ấn tượng mạnh, đó là các từ thuần Việt giàu hình ảnh, màu sắc với sắc thái đặc tả mạnh, như các động từ dồn, trơ, xế, đâm toạc, xiên ngang, đi, lại lại, san sẻ…, các tính từ say, tỉnh, khuyết, tròn… Các từ ngữ này có khả năng biểu lộ chính xác và tinh tế trạng thái tâm trạng của nhân vật trữ tình. Đó là sự cô đơn, là khát khao được sống, được hạnh phúc. Tâm trạng uất ức bị dồn nén dường như được thoát ra, trải ra cùng những hình ảnh, những từ ngữ táo bạo ấy.

II. Luyện tập

Sự giống nhau và khác nhau giữa hai bài thơ Tự tình I và Tự tình II của Hồ Xuân Hương

– Giống nhau:

+ Cùng sử dụng thơ Nôm đường luật thể hiện cảm xúc của tác giả.

+ Đều mượn cảm thức về thời gian để thể hiện tâm trạng. Điều đó được thể hiện qua kết cấu vòng tròn của hai bài thơ: mở đầu bằng thời gian và kết thúc cũng là thời gian.

+ Đều sử dụng nhiều từ ngữ biểu cảm: văng vẳng, trở, cái hồng nhan, ngán, tí con con, oán hận, rền rĩ, mõm mòn, già tom…

– Khác nhau:

+ Cảm xúc trong Tự tình I là nỗi niềm của nhà thơ trước duyên phận hẩm hiu, nhiều mất mát, trước lẽ đời đầy nghịch cảnh, đồng thời là sự vươn lên của chính bản thân, thách đố lại duyên phận.

+ Còn ở Tự tình II, cũng là sự thể hiện của bi kịch duyên phận muôn màng, cố gắng vươn lên nhưng cuối cùng cũng không thoát được bi kịch. Chính vì thế bi kịch như được nhân lên, phẫn uất hơn. Sự khác nhau đó chính là do cảm xúc chủ đạo trong từng bài thơ.

Soạn Bài: Tự Tình (Hồ Xuân Hương) / 2023

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả: Hồ Xuân Hương (các em tham khảo phần giới thiệu nhà thơ Hồ Xuân Hương trong SGK Ngữ Văn 11 Tập 1).

2. Tác phẩm:

* Xuất xứ: Bài thơ Tự tình (Bài II) nằm trong chùm thơ Tự tình ba bài của Hồ Xuân Hương.

* Thể thơ: Thất ngôn bát cú đường luật.

* Bài thơ Tự Tình tiêu biểu cho phong cách thơ Hồ Xuân Hương ở nỗi cô đơn, ở niềm khao khát được hạnh phúc, ở tâm trạng uất ức luôn muốn phá vỡ những khuôn khổ chật hẹp của cuộc sống. Trong bài thơ cũng có sự xuất hiện rất rõ ràng và cụ thể hình tượng nhân vật trữ tình. Cái “tôi” cá nhân xuất hiện rất rõ với tâm trạng buồn và cô đơn trĩu nặng.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

* Bốn câu thơ đầu:

Thời gian: đêm khuya, âm thanh “văng vẳng”, trống “canh dồn”

Không gian: trống trải, mênh mông, rợn ngợp, tĩnh mịch (nghệ thuật lấy động tả tĩnh).

Lòng người: trơ trọi, từ “trơ” đi liền với “cái hồng nhan” cùng với biện pháp đảo ngữ gợi lên cảm giác xót xa, bẽ bàng.

Cụm từ “say lại tỉnh” gợi lên cái vòng luẩn quẩn, càng tô đậm thêm tâm trạng buồn, càng cảm nhận được nỗi đau xót xa của thân phận.

Hình ảnh “Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn” là hình tượng chứa hai lần bi kịch: trăng sắp tàn (bóng xế) mà vẫn khuyết chưa tròn. Đó chính là sự tương đồng với người phụ nữ.

Câu 2:

Hình tượng thiên nhiên trong hai câu thơ 5 và 6 góp phần diễn tả tâm trạng, thái độ của nhà thơ trước số phận của người con gái:

Biện pháp đảo ngữ kết hợp với các động từ mạnh (xiên, đâm,…) thể hiện sự bướng bỉnh, ngang ngạnh của nhà thơ.

Rêu là một sinh vật yếu mềm và nhỏ bé, đá không cam chịu số phận, bằng mọi cách cố vươn lên những cản trở (mặt đất, chân mây) để chứng tỏ mình. Qua đó, cho ta thấy, đá và rêu như đang oán hờn, như đang phản kháng quyết liệt với tạo hóa.

Câu 3:

* Hai câu thơ kết nói lên tâm trạng buồn tủi, chán chường của tác giả:

Cụm từ: “xuân đi xuân lại lại” có nghĩa là xuân của tự nhiên đã qua đi rồi sẽ trở lại nhưng tuổi xuân của con người đã qua đi thì sẽ không bao giờ trở lại. Từ “lại” thứ nhất là thêm một lần nữa, còn từ “lại” thứ hai lại mang nghĩa trở lại. Mùa xuân thì sẽ trở lại nhưng tuổi xuân thì sẽ trôi đi mãi mãi.

Câu 4:

Bài thơ vừa nói lên bi kịch duyên phận vừa cho thấy khát vọng sống, khát vọng được hạnh phúc của Hồ Xuân Hương.

Bi kịch trong bài thơ Tự tình là bi kịch của tuổi xuân, của duyên phận. Mùa xuân đi rồi mùa xuân lại đến, nhưng tuổi xuân của con người đã trôi qua thì sẽ không bao giờ trở lại được nữa. Hơn nữa, trong cái hoàn cảnh này cùng với sự dở dang của tình duyên lại càng làm tăng thêm nỗi xót xa, đau đớn. Mặc dù rơi vào hoàn cảnh éo le đó, nhưng Hồ Xuân Hương vẫn luôn khao khát được hạnh phúc, luôn mạnh mẽ chống lại sự trớ trêu của số phận.

Theo chúng tôi

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài Tự Tình Của Tác Giả Hồ Xuân Hương / 2023 trên website Maiphuongus.net. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!