Xem Nhiều 1/2023 #️ Soạn Bài: Tỏ Lòng (Thuật Hoài) – Ngữ Văn 10 Tập 1 # Top 1 Trend | Maiphuongus.net

Xem Nhiều 1/2023 # Soạn Bài: Tỏ Lòng (Thuật Hoài) – Ngữ Văn 10 Tập 1 # Top 1 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài: Tỏ Lòng (Thuật Hoài) – Ngữ Văn 10 Tập 1 mới nhất trên website Maiphuongus.net. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả

Phạm Ngũ Lão (các em tham khảo phần giới thiệu tác giả trong SGK Ngữ Văn 10 Tập 1).

2. Tác phẩm

* Hào khí Đông A:

Hào khí Đông A là hào khí đời Trần (chữ Đông và chữ A trong tiếng Hán ghép lại thành chữ Trần). Cụm thuật ngữ này từ lâu đã được dùng để chỉ cái không khí oai hùng, hào sảng của thời Trần (thời kì mà chúng ta có những chiến công lừng lẫy khi cả ba lần đều đánh tan sự xâm lược của giặc Nguyên – Mông).

Hào khí Đông A là chỉ cái khí thế hừng hực của niềm vui chiến thắng, chỉ cái khát khao mang tính thời đại mà ở đó ai ai cũng muốn góp sức dựng xây và dang tay bảo vệ cho sự vững bền mãi mãi của non sông đất nước mình.

Hào khí Đông A từ xã hội đi vào thơ văn trở thành sự kết tinh cho những biểu hiện cao đẹp của lòng yêu nước. Có không ít tác phẩm nổi tiếng mang hơi thở của Hào khí Đông A : Thuật hoài (Tỏ lòng) của Phạm Ngũ Lao, Tụng giá hoàn kinh sư (Phò giá về kinh) của Trần Quang Khải, Hịch tướng sĩ văn của Trần Quốc Tuấn,…

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

* Điểm khác nhau giữa câu thơ đầu trong nguyên tác chữ Hán với câu thơ dịch: Hai từ “Hoành sóc” – cầm ngang ngọn giáo được dịch là “múa giáo” nên chưa sát nghĩa và chưa bộc lộ hết sự hào hùng, tư thế hiên ngang, lẫm liệt, mang tầm vóc của vũ trụ của con người cũng như không gian trong câu “Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu”.

* Trong câu thơ thứ nhất:

Thời gian: kháp kỉ thu

Không gian: giang sơn (đất nước)

Con người: một tráng sĩ đang cầm ngang ngọn giáo

Trong câu thơ đầu này, con ngư­ời xuất hiện trong bối cảnh không gian và thời gian đều rộng lớn. Không gian mở theo chiều rộng của núi sông và mở lên theo chiều cao của sao Ngư­u thăm thẳm. Thời gian không phải đo bằng ngày bằng tháng mà đo bằng năm, không phải mới một năm mà đã mấy năm rồi (Kháp kỉ thu). Con ngư­ời cầm cây tr­ường giáo (cũng đo bằng chiều ngang của non sông), lại đư­ợc đặt trong một không gian, thời gian như­ thế thì thật là kì vĩ. Con ng­ười hiên ngang ấy mang tầm vóc của con ng­ười vũ trụ, non sông, vẻ đẹp ấy được bộc lộ cả bên trong lẫn bên ngoài.

Câu 2:

Câu thơ:

Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu

Câu thơ này có thể hiểu theo 2 cách:

Thứ nhất: thể hiện sức mạnh cùng với ý chí chiến đấu của quân đội nhà Trần, đội quân hùng mạnh như loài hổ báo – những động vật mạnh nhất của rừng xanh và sức mạnh ấy có thể “nuốt trôi trâu”.

Thứ hai: sức mạnh và ý chí chiến đấu của quân đội nhà Trần là vô cùng lớn, sức mạnh ấy có thể át cả sao Ngưu trên bầu trời – sức mạnh của vũ trụ rộng lớn, có thể thay đổi cả giang san đất nước.

Câu 3:

Như chúng ta đã biết, trong thời kỳ này, tư tưởng Nho giáo ảnh hưởng rất lớn đến quan niệm và lối sống của con người, đặc biệt là những đấng nam nhi. Sinh ra trong đời, đấng quân tử luôn mang theo mình một món “nợ tang bồng”. Chừng nào chưa lập được công danh, chưa tạo được tiếng thơm là chưa hoàn thành nghĩa vụ đối với dân, với nước.

Câu 4:

Ý nghĩa của nỗi “thẹn” trong câu thơ cuối:

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu

Nỗi “thẹn” ở đây đã thể hiện vẻ đẹp nhân cách của người anh hùng. Phạm Ngũ Lão là bậc anh hùng của dân tộc, dưới thời Trần ông đã lập rất nhiều chiến công và là đấng quân tử đáng được người đời sau tôn trọng. Nhưng ông vẫn cảm thấy “thẹn” vì chưa có được tài năng mưu lược như Vũ Hầu Gia Cát Lượng để có thể giúp dân cứu nước, “thẹn” vì trí và lực của mình thì có hạn mà nhiệm vụ khôi phục giang sơn, đất nước còn quá bộn bề.

Mặc dù vậy, nhưng nỗi “thẹn” ấy không làm cho hình tượng của Phạm Ngũ Lão nhỏ bé đi mà nó còn khiến người đời thêm hiểu về tấm lòng của ông – luôn muốn được làm những điều tốt đẹp, lớn lao dành cho nhân dân, đất nước.

Câu 5:

Qua bài thơ “Tỏ lòng” cho chúng ta thấy được vẻ đẹp của con người trong thời đại nhà Trần. Hình ảnh con người được đặt ngang với tầm vóc của vũ trũ, mang vẻ lẫm liệt, hào hùng. Họ là những con người luôn hết mình vì dân, vì nước. Mỗi cá nhân đều ý thức tạo nên sức mạnh tập thể, hết mình cống hiến. Chính vì vậy đã tạo nên sức mạnh của thời đại, tạo nên một nhà Trần “bách chiến bách thắng” và hào khí Đông A mà sử sách mãi lưu danh.

Đối với thế hệ trẻ hôm nay, chúng ta học được ở bài thơ cách sống và cách cống hiến cho đời. Để làm được điều đó, ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường, chúng ta cần học tập và không ngừng học hỏi, noi theo các tấm gương anh hùng để giúp đất nước ngày càng phát triển hơn nữa.

5

/

5

(

1

bình chọn

)

Soạn Bài Tỏ Lòng (Thuật Hoài) Sbt Ngữ Văn 10 Tập 1

1. Bài tập 3, trang 116, SGK.

Trả lời:

“Nợ” công danh mà tác giả nói đến trong bài thơ có thể hiểu theo hai nghĩa:

– “Nợ” công danh là “chí làm trai” (chí nam nhi) theo tinh thần Nho giáo: lập công (để lại sự nghiệp), lập danh (để lại tiếng thơm). Quan niệm lập công danh đã trở thành lí tưởng sống cao đẹp của trang nam nhi thời phong kiến: “Đã mang tiếng ở trong trời đất – Phải có danh gì với núi sông” (Nguyễn Công Trứ). Lí tưởng lập công danh có tác dụng cổ vũ con người từ bỏ lối sống tầm thường, ích kỉ để sống có ý nghĩa “cùng trời đất muôn đời bất hủ”. Công danh được xem là món nợ đời phải trả của kẻ làm trai.

– “Nợ” công danh là chưa hoàn thành nghĩa vụ đối với dân, với nước. Đặt trong hoàn cảnh lịch sử xã hội lúc bấy giờ, chí làm trai là phải chống giặc ngoại xâm, cứu nước, cứu dân. Công danh, sự nghiệp cá nhân thống nhất với công danh, sự nghiệp chung của đất nước. Ước nguyện lập công danh của người anh hùng họ Phạm là biểu hiện của ý thức trách nhiệm đối với nhân dân, dân tộc.

“Nợ” công danh hay chí làm trai, hay ý thức trách nhiệm đối với dân, với nước của Phạm Ngũ Lão là một quan niệm sống cao đẹp, có ý nghĩa tích cực không chỉ đối với trang nam nhi thời phong kiến mà còn đối với cả con người thời nay.

2. Phân tích ý nghĩa của nỗi “thẹn” trong bài thơ Tỏ lòng.

Trả lời:

Có thể hiểu nỗi “thẹn” của Phạm Ngũ Lão theo hai nội dung :

– Thẹn vì chưa có được tài năng lớn như Gia Cát Lượng (Khổng Minh là người xuất chúng, siêu phàm về mưu lược, trên thông thiên văn, dưới tường địa lí, người đời thường nói “tài như Gia Cát Lượng” hoặc ‘giỏi như Khổng Minh”).

– Thẹn vì chưa có được nhiều công lao lớn như Gia Cát Lượng (Khổng Minh từng làm quân sư cho Lưu Bị, có nhiều công trạng, giúp Lưu Bị lập nên nhà Thục Hán – một trong ba nước thời Tam quốc).

Dù hiểu theo cách nào thì nỗi thẹn cũng làm ngời sáng lên nhân cách Phạm Ngũ Lão. Nỗi thẹn ấy không làm cho con người trở thành nhỏ bé. Nỗi thẹn ấy tôn cao nhân cách con người. Nỗi thẹn ấy đốt lên trong lòng người ngọn lửa của khát vọng vươn tới cái cao cả, lớn lao.

– Qua nỗi thẹn, thấy được tấm lòng tận trung báo quốc của Phạm Ngũ Lão.

Tác giả sử dụng điển Vũ hầu Gia Cát Lượng vì giữa Phạm Ngũ Lão và Gia Cát Lượng có những điểm tương đồng. Hai người tương đồng về nguồn gốc xuất thân: cùng xuất thân từ đời thường, bình dị (Gia Cát Lượng là người ở ẩn nơi lều tranh, Phạm Ngũ Lão là người đan sọt làng Phù Ủng); tương đồng về hưởng ơn tri ngộ của bậc minh chủ và của triều đình (Lưu Bị ba lần đến lều tranh mời Gia Cát Lượng ra giúp cơ đồ nhà Hán. Gia Cát Lượng được Lưu Bị rất tin dùng, được phong làm Thừa tướng, tước Vũ hầu. Trần Quốc Tuấn đón nhận Phạm Ngũ Lão làm gia khách, làm con rể trong nhà. Phạm Ngũ Lão làm đến chức Điện suý, tước Quan nội hầu). Chính vì vậy cả hai đều tận trung báo đáp công ơn của triều đình.

Dùng điển Vũ hầu Gia Cát Lượng, phải chăng là một cách để Phạm Ngũ Lão bày tỏ tấm lòng mình tận trung với nước, với vua ?

Anh (chị) hãy phân tích và chứng minh Tỏ lòng là bài thơ vừa ngắn gọn, súc tích, vừa truyền cảm bởi những hình ảnh có sức gợi tả mạnh mẽ.

Trả lời:

Tỏ lòng đúng là bài thơ ngắn gọn, đạt tới độ súc tích cao.

– Đây là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt, vẻn vẹn chỉ có 28 chữ nhưng đã nói lên được hào khí Đông A với sức mạnh của quân đội thời Trần ; thể hiện được cả chí và tâm, cả tài năng và nhân cách của Phạm Ngũ Lão.

– Từ ngữ cô đọng mà hình ảnh lại có sức gợi tả mạnh mẽ, sức truyền cảm lớn. Trang nam nhi thời Trần mang lí tưởng lớn lao, cao cả ; tầm vóc, tư thế, hành động thật kì vĩ:

Múa giáo non sông trải mấy thu.

Câu thơ nguyên tác: “Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu” dựng lên hình ảnh con người cầm ngang ngọn giáo (hoành sóc) mà trấn giữ đất nước. Cây trường giáo ấy như phải đo bằng chiều ngang của non sông. Con người xuất hiện với một tư thế hiên ngang mang tầm vóc vũ trụ.

Bối cảnh làm nổi bật hình ảnh con người kì vĩ là không gian và thời gian kĩ vĩ. Không gian mở ra theo chiều rộng của núi sông, mở lên theo chiều cao đến tận sao Ngưu thăm thẳm. Thời gian đâu phải là chốc lát mà là mấy năm rồi (kháp kỉ thu).

Cùng với sức mạnh của con người là sức mạnh của thời đại, của dân tộc :

Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu.

Hình ảnh “ba quân” nói về quân đội nhà Trần đồng thời tượng trưng cho sức mạnh dân tộc. Thủ pháp nghệ thuật so sánh vừa cụ thể hoá sức mạnh vật chất của ba quân (Ba quân mạnh như hổ báo nuốt trôi trâu), vừa hướng tới sự khái quát hoá sức mạnh tinh thần của đội quân mang hào khí Đông A (khí mạnh nuốt trôi trâu). Câu thơ gây ấn tượng mạnh bởi sự kết hợp giữa hình ảnh khách quan và cảm nhận chủ quan, giữa hiện thực và lãng mạn.

Soạn Bài Tỏ Lòng (Thuật Hoài)

Soạn bài Tỏ lòng (Thuật hoài)

Bố cục

– 2 câu đầu: Khí thế của quân tướng nhà Trần

– 2 câu cuối: Nỗi lòng của nhà thơ

Hướng dẫn soạn bài

Câu 1 (trang 116 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):

Hai từ “Hoành sóc” – cầm ngang ngọn giáo được dịch là “múa giáo” thật chưa sát nghĩa và chưa bộc lộ hết sự hào hùng về con người, không gian trong câu “Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu”. Trong câu thơ này:

+ Thời gian: kháp kỉ thu

+ Không gian: giang sơn (đất nước)

+ Con người: một tráng sĩ đang cầm ngang ngọn giáo

Ở đây, tác giả khắc họa hình tượng người tráng sĩ dưới thời Trần, với ngọn giáo cầm ngang, vững chãi. Không gian trải dài, mênh mông vô tận, thời gian đằng đẵng, trải dài từ năm này qua năm khác. Sự kết hợp giữa không gian rộng lớn, thời gian “kỉ thu” mênh mông vô tận ấy khiến hình ảnh người tráng sĩ hiện lên với tầm vóc vũ trụ, với ý chí bảo vệ đất nước – vẻ đẹp được bộc lộ cả bên trong lẫn bên ngoài. Còn hai từ “múa giáo” chỉ thể hiện được một phần vẻ đẹp bên ngoài: khả năng chiến đấu.

Câu 2 (trang 116 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1): Câu thơ “Tam quân tì hổ khí thôn ngưu” có thể hiểu theo hai cách

Cách đầu tiên: thể hiện sức mạnh cùng ý chí chiến đấu của quân đội nhà Trần hùng mạnh như loài hổ báo – những động vật mạnh nhất của rừng xanh và sức mạnh ấy có thể “nuốt trôi trâu”.

Cách hiểu thứ hai: sức mạnh và ý chí chiến đấu của quân đội nhà Trần rất lớn, sức mạnh ấy có thể át cả sao Ngưu trên bầu trời – sức mạnh của vũ trụ rộng lớn, có thể thay đổi cả giang san đất nước.

Câu 3 (trang 116 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):

Trong thời kì này, tư tưởng Nho giáo ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến quan niệm, lối sống của con người, đặc biệt là đấng nam nhi. Sinh ra trong đời, đấng quân tử luôn mang theo mình một món “nợ tang bồng”. Món nợ ấy thể hiện chí làm trai theo tinh thần của Nho giáo: lập công (để lại sự nghiêp) và lập danh (để lại tiếng thơm). Và ở đây, từ “nợ” còn là nỗi trăn trở của tác giả khi chưa hoàn thành nghĩa vụ với dân với nước.

Câu 4 (trang 116 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):

Phạm Ngũ Lão là bậc anh hùng của dân tộc, dưới thời Trần ông đã lập rất nhiều chiến công và là đấng quân tử đáng được người đời sau tôn trọng. Tuy nhiên, ông vẫn thấy “thẹn” bởi ông thấy những điều mình làm chưa được coi là lớn lao như Vũ Hầu đã từng giúp Lưu Bị. Nhưng nỗi “thẹn” ấy không làm cho hình tượng của Phạm Ngũ Lão nhỏ bé đi mà nó còn khiến người đời thêm hiểu về tấm lòng của ông- luôn muốn được làm những điều tốt đẹp, lớn lao dành cho nhân dân, đất nước

Câu 5 (trang 116 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):

– Nam nhi thời nhà Trần mang trong mình vẻ đẹp của ý chí chiến đấu bên trong và tầm vóc bên ngoài sánh ngang với vũ trụ, một hào khí được cả dân tộc noi gương – hào khí Đông A. Đó là vẻ đẹp của tinh thần chiến đấu, sự đoàn kết khi đất nước có giặc ngoại xâm đô hộ, là tinh thần luôn muốn đem sức lực của mình để cống hiến, bảo vệ quê hương.

– Từ bài thơ này, ta hiểu thêm về một thời kì lịch sử của những vị anh hùng như Phạm Ngũ Lão – những con người dành cả đời mình để bảo vệ nền độc lập dân tộc. Thế hệ trẻ hôm nay như được củng cố, động viên tinh thần bảo vệ tổ quốc. Để làm được điều đó, ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường, chúng ta cần học tập và không ngừng học hỏi để giúp đất nước ngày càng phát triển hơn nữa.

Bài giảng: Tỏ lòng (Thuật hoài) – Cô Trương Khánh Linh (Giáo viên VietJack)

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k5: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Giáo Án Bài Tỏ Lòng (Thuật Hoài)

2. Kĩ năng 3. Thái độ, phẩm chất 1. Giáo viên 2. Học sinh

Sĩ số: …………………………………….

2. Kiểm tra bài cũ 3. Bài mới

Hoạt động của GV và HS Kiến thức cần đạt

Hoạt động 2. Hình thành kiến thức mới

Tìm hiểu chung

I. Tìm hiểu chung:

1. Tác giả Phạm Ngũ Lão

Trình bày những nét chính về tác giả Phạm Ngũ Lão?

HS trả lời.

– GV gọi HS nhận xét

– GV chốt kiến thức

2. Văn bản

*GV tích hợp với kiến thức môn lịch sử

Bài thơ ra đời trong bối cảnh lịch sử như thế nào? Bằng việc tích hợp với môn lịch sử, hãy tái hiện lại hoàn cảnh lịch sử lúc đó.

– HS trình bày sản phẩm

a. Hoàn cảnh sáng tác

Bài thơ ra đời trong không khí quyết chiến, quyết thắng giặc Mông – Nguyên của quân đội nhà Trần

Yêu cầu hs đọc VB.

– Cho HS đọc bài thơ (HS có thể ngâm bài thơ?)

b. Nhan đề

– Thuật: Bày tỏ

– Hoài: nỗi lòng

→ Bày tỏ nỗi lòng

– Bài thơ viết theo thể thơ nào? Theo em thể thơ đó có những cách chia bố cục ra sao? Từ đó em hãy nêu bố cục văn bản?

Gợi ý

Hs có thể đưa ra 2 cách phân chia bố cục:

– 4 phần: khai – thừa – chuyển- hợp

– 2 phần: 2 câu đầu (tiền giải) và hai câu sau (hậu giải).

Gv hướng hs đến cách 2 – cách phân tích thơ tứ tuyệt của Kim Thánh Thán: phần tiền giải- thường nêu sự việc, câu chuyện, cảnh vật; phần hậu giải- thường là cảm nghĩ của tác giả.

c. Thể loại, bố cục

– Thể thơ: thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.

– Bố cục: 2 phần.

+ Hai câu đầu: Hình tượng con người và quân đội thời Trần.

+ Hai câu sau: Chí làm trai- tâm tình của tác giả

– Câu hỏi nhóm : So với nguyên tác (qua bản phiên âm và dịch nghĩa), em hãy so sánh nghĩa của từ “hoành sóc” với “múa giáo”, “khí thôn ngưu” với “nuốt trôi trâu”? Các cách dịch đó đạt và chưa đạt ở điểm nào?

– HS lên bảng trình bày

So sánh giữa bản dịch và nguyên tác

– Hoành sóc: cắp ngang ngọn giáo→ thế tĩnh→ tư thế chủ động, tự tin, điềm tĩnh của con người có sức mạnh, nội lực.

– Múa giáo→ thế động→ gợi trình độ thuần thục của nghề cung kiếm trong thao tác thực hành, có chút phô trương, biểu diễn.

→ Dịch chưa thật đạt→ Thơ Đường luật chữ Hán rất hàm súc, uyên bác, khó dịch cho thấu đáo.

→ Dịch giả muốn giữ đúng luật thơ (nhị tứ lục phân minh: chữ 2, 4, 6 đối thanh, bài thơ có luật trắc→ thanh 2, 4, 6: T-B-T)

– Khí thôn ngưu- “nuốt trôi trâu” → phù hợp với hình ảnh so sánh phóng đại: “ba quân như hổ báo”

– Vẻ đẹp của con người thời Trần và quân đội thời Trần được tác giả thể hiện như thế nào trong 2 câu thư đầu?

– Vẻ đẹp của con người thời Trần – chân dung tự họa của tác giả:

+ Tư thế: “cầm ngang ngọn giáo” → chủ động, hiên ngang, oai hùng.

+ Tầm vóc: con người đối diện với non sông đất nước→ lớn lao, kì vĩ, mang tầm vóc vũ trụ, sánh ngang, thậm chí như át cả ko gian bát ngát mở ra theo chiều rộng của núi sông trong thời gian dằng dặc (“mấy thu”- con số tượng trưng chỉ thời gian dài).

*GV mở rộng bình về 2 hình ảnh: khí thôn ngưu

HS nhóm trình bày?

GV gọi HS nhận xét và chốt ý

– Ba quân: 3 đạo quân (tiền- trung- hậu quân) → chỉ quân đội nhà Trần.

– Biện pháp nghệ thuật: so sánh phóng đại.

Sức mạnh của quân đội nhà Trần – Sức mạnh của hổ báo (có thể nuốt trôi trâu)

→ Sức mạnh vật chất và tinh thần quyết chiến quyết thắng, khí thế hào hùng của quan đội nhà Trần- đội quân mang hào khí Đông A, mang âm hưởng sử thi.

→ Cách nhìn của tác giả: vừa mang nhãn quan hiện thực khách quan vừa là cảm nhận chủ quan, kết hợp yếu tố hiện thực và lãng mạn.

GV chia lớp thành 3 nhóm và yêu cầu HS thực hiện kĩ thuật KWL:

Hãy nói về những điều em đã biết? Điều em muốn biết và điều em học được qua 2 câu thơ?

GV có thể gợi ý để HS chú ý vào:

+ Khái niệm công danh và quan niệm về chí làm trai trong VH.

→ Công danh được coi là món nợ với cuộc đời mà những trang nam nhi thời PK phải trả. Trả xong nợ công danh có nghĩa là đã hoàn thành nghĩa vụ với đời, với dân, với nước, để lại tiếng thơm được mọi người ngợi ca…

2. Hai câu sau

– Công danh trái: món nợ công danh.

– Công danh nam tử: sự nghiệp công danh của kẻ làm trai.

– Công danh: + lập công (để lại sự nghiệp)

+ lập danh (để lại tiếng thơm)

→ Công danh biểu hiện chí làm trai của trang nam nhi thời PK: phải làm nên sự nghiệp lớn, vì dân, vì nước, để lại tiếng thơm cho đời, được mọi người ngợi ca, tôn vinh.

Đó là lí tưởng sống tích cực, tiến bộ→ Sự nghiệp công danh của cá nhân thống nhất với sự nghiệp chung của đất nước – sự nghiệp chống giặc ngoại xâm cứu dân, cứu nước, lợi ích cá nhân thống nhất với lợi ích của cộng đồng.

→ Chí làm trai của Phạm Ngũ Lão có tác dụng cổ vũ con người từ bỏ lối sống tầm thường, ích kỉ, sẵn sàng chiến đấu hi sinh cho sự nghiệp cứu nước, cứu dân để “cùng trời đất muôn đời bất hủ”.

– Nêu một số câu ca dao, câu thơ của các nhà thơ trung đại nói về chí làm trai: “Làm trai…đoài yên”(ca dao), ” Chí…hồng mao”(Chinh phụ ngâm), “Đã…núi sông”(Đi thi tự vịnh),…

GV có thể gợi ý: Canh cánh bên lòng quyết tâm trả món nợ công danh, thực hiện lí tưởng chí làm trai cao đẹp như vậy, tại sao vị tướng văn võ toàn tài, con rể của bậc đại thần (Trần Quốc Tuấn) lại thẹn khi nghe kể chuyện về Vũ Hầu? Vũ Hầu là người ntn? ý nghĩa của nỗi thẹn đó?

– Vũ Hầu- Khổng Minh Gia Cát Lượng- bậc kì tài, vị đại quân sư nổi tiếng tài đức, bậc trung thần của Lưu Bị thời Tam Quốc.

+ Sự hổ thẹn của Phạm Ngũ Lão là quá đáng kiêu kì? (Hổ thẹn vì mình ko được như Khổng Minh là ko biết tự biết mình).

– Thẹn→ hổ thẹn→ Phạm Ngũ Lão thẹn chưa có được tài mưu lược lớn như Gia Cát Lượng đời Hán để trừ giặc, cứu nước.

Các nhà thơ trung đại mang tâm lí sùng cổ (lấy giá trị xưa làm chuẩn mực), thêm nữa từ sự thật về Khổng Minh→ Nỗi tự thẹn của Phạm Ngũ Lão là hiển nhiên.

Song xưa nay, những người có nhân cách lớn thường mang trong mình nỗi thẹn với người tài hoa, có cốt cách thanh cao→ cho thấy sự đòi hỏi rất cao với bản thân.

→ Hoài bão lớn: ước muốn trở thành người có tài cao, chí lớn, đắc lực trong việc giúp vua, giúp nước.

→ Đó là nỗi thẹn tôn lên vẻ đẹp tâm hồn tác giả, thể hiện cái tâm vì nước, vì dân cao đẹp. GV tích hợp với bài

Câu hỏi tình huống: Đó là biểu hiện của một hoài bão lớn lao? Em có cho rằng đó là khát vọng tự hoàn thiện bản thân không? Nó còn ý nghĩa với các em hôm nay không?

* Bài học đối với thế hệ thanh niên ngày nay

– Sống phải có hoài bão, ước mơ và biết mơ ước những điều lớn lao.

– Nỗ lực hết mình và ko ngừng để thực hiện hoài bão và hoàn thiện bản thân.

– Gắn khát vọng, lợi ích của bản thân với lợi ích của tổ quốc, nhân dân.

*Tổng kết.

– Nêu nhận xét khái quát về nội dung và nghệ thuật của bài thơ?

III. Tổng kết

1. Nội dung

Bài thơ là bức chân dung tinh thần của tác giả đồng thời cũng là vẻ đẹp của con người thời Trần- có sức mạnh, lí tưởng, nhân cách cao đẹp, mang hào khí Đông A.

2. Nghệ thuật

– Thủ pháp gợi, thiên về ấn tượng bao quát, hàm súc.

– Bút pháp nghệ thuật hoành tráng có tính sử thi với hình tượng thơ lớn lao, kì vĩ.

Hoạt động 3. Hoạt động thực hành

Tìm hiểu lí tưởng của người xưa qua bài ” Tỏ lòng “và bài

” Nợ nam nhi “của Nguyễn Công Trứ.

IV. Luyện tập

– Giống: Chí làm trai phải trả nợ công danh, trung quân ái quốc là lẽ sống và ước mơ lập công.

– Khác:

+ PNLão: Nói ngắn gọn, lấy gương lịch sử.

+ NCTrứ : Nói cụ thể, không dựa tấm gương cổ nhân, tự tin ở tài trí của mình

” Tang bồng hồ thỉ nam nhi trái

Cái nợ công danh là cái nợ nần

Nặng nề thay đôi chữ quân thân

Đạo vi tử vi thần đâu có nhẹ

Cũng rắp điền viên vui thú vị

Trót đem thân thế hẹn tang bồng

Xếp bút nghiên theo việc kiếm cung

Hết hai chữ trung chinh báo quốc

Một mình để vì dân vì nước

Túi kinh luân từ trước để nghìn sau

Hơn nhau một tiếng công hầu “

( Nợ nam nhi – NCTrứ)

Hoạt động 4: Hoạt động ứng dụng

4. Củng cố 5. Dặn dò

KHÓA HỌC GIÚP TEEN 2005 ĐẠT 9-10 THI THPT QUỐC GIA

Tổng hợp các video dạy học từ các giáo viên giỏi nhất – CHỈ TỪ 199K cho teen 2k5 tại chúng tôi

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k5: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Loạt bài Giáo án Ngữ văn lớp 10 chuẩn nhất của chúng tôi được biên soạn bám sát nội dung sgk Ngữ văn 10 Tập 1 và Tập 2 theo chuẩn Giáo án của Bộ GD & ĐT.

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài: Tỏ Lòng (Thuật Hoài) – Ngữ Văn 10 Tập 1 trên website Maiphuongus.net. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!