Xem Nhiều 1/2023 #️ Soạn Bài: Nhưng Nó Phải Bằng Hai Mày – Ngữ Văn 10 Tập 1 # Top 8 Trend | Maiphuongus.net

Xem Nhiều 1/2023 # Soạn Bài: Nhưng Nó Phải Bằng Hai Mày – Ngữ Văn 10 Tập 1 # Top 8 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài: Nhưng Nó Phải Bằng Hai Mày – Ngữ Văn 10 Tập 1 mới nhất trên website Maiphuongus.net. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

Tính kịch tính trong đoạn: “Cải vội xòe năm ngón tay… bằng hai mày”:

a) Quan hệ giữa nhân vật Cải và thầy lí là mối quan hệ đã được dàn xếp. Vì đã đút lót tiền cho thầy lí nên Cải cứ nghĩ rằng mình sẽ được thắng kiện nên rất ung dung. Tuy nhiên, Cải không ngờ khi xử kiện thì mình lại bị đánh 10 roi. Từ thế chủ động chuyển sang bị động nên Cải phải chịu đòn.

b) Sự kết hợp giữa lời nói và hành động của 2 nhân vật trên: là sự kết hợp giữa 2 thứ “ngôn ngữ”. Đó là ngôn ngữ bằng lời nói (ngôn ngữ công khai), Cải và thầy lí nói cho tất cả mọi người ở đấy nghe. Còn ngôn ngữ thứ hai là thứ ngôn ngữ bằng động tác thì chỉ có Cải và thầy lí mới hiểu được.

Lẽ phải – Cải xòe năm ngón tay.

Lẽ phải được nhân đôi – thầy lí xòe năm ngón thay trái úp lên năm ngón tay phải

Câu 2:

Nghệ thuật gây cười qua lời nói của thầy lí:

Khi Cải khăng khăng “xin xét lại, lẽ phải về con mà!”, thì khi đó, thầy lí đã không hề phủ nhận điều đó nhưng thầy đưa ra lí lẽ “Tao biết mày phải… nhưng nó lại phải… bằng hai mày!”. Và tiếng cười của người đọc bật ra từ đó. Đối với thầy lí, lẽ phải được đo bằng tiền. Tiền quyết định lẽ phải. Bởi thế năm đồng là “lẽ phải” nhưng mười đồng là “lẽ phải gấp đôi”.

Câu 3:

Như chúng ta đều thấy, nhân vật bị thất bại trong vụ kiện là nhân vật Cải. Vì bất ngờ nên Cải đã không kịp trở tay nên đã bị rơi vào một tình trạng thảm hại, vừa mất tiền lại vừa bị đánh.

Thế nhưng, ở đây, câu chuyện chính là lời phê phán cả 2 nhân vật Cải và Ngô, phê phán những tên quan lại ngày càng trở nên tráo trở hơn nếu còn có những người như Ngô và Cải. Chính hành vi tiêu cực của họ đã khiến cho họ trở nên thảm hại hơn. Nói chung, Cải và Ngô đều là những con người vừa đáng thương lại vừa đáng trách.

5

/

5

(

1

bình chọn

)

Soạn Bài Nhưng Nó Phải Bằng Hai Mày

Soạn bài Nhưng nó phải bằng hai mày

Câu 1 (trang 80 sgk ngữ văn 10 tập 1)

Quan hệ giữa Cải và thầy lí: đã được sắp đặt trước khi Cải hối lộ thầy lí 5 đồng, Cải ung dung nghĩ mình thắng kiện tuy nhiên khi xử kiện Cải bị phạt mười roi.

– Sự độc đáo, tính hài hước của truyện sự kết hợp lời nói với hành động (Nhưng nó lại phải bằng hai mày- thầy lý xòe năm ngón tay trái úp lên năm ngón tay phải)

+ Mối quan hệ logic được người đọc nhìn nhận ra: giữa lẽ phải, những ngón tay và tiền tạo ra tiếng cười

Ý nghĩa tố cáo của truyện: lẽ phải được mua bằng tiền, càng nhiều tiền thì lẽ phải thuộc về người đó.

Câu 2 (trang 80 sgk ngữ văn 10 tập 1)

Nghệ thuật gây cười ở cuối truyện nằm ở việc:

Lời nói của thầy Lí có sự đồng nhất giữa “lẽ phải” với số tiền nhận hối lộ, lẽ phải có thể đong đếm được

+ Thầy lí nhận hối lộ nhưng vẫn trơ trẽn úp bàn tay trái lên bàn tay phải biện minh cho hành động nhận đút lót.

– Xây dựng tình huống gây cười đặc sắc: Cải đút lót tiền mà vẫn bị bị đánh, thầy lí đánh đòn

– Truyện tạo ra tiếng cười sảng khoái khi kết truyện có cả ngôn ngữ nói và cả hành động của thầy lý:

+ Chi tiết thâm thúy, sâu cay khi cười vào thứ được coi là công lí của chính quyền phong kiến trước kia ở nông thôn.

Câu 3 (Trang 80 sgk ngữ văn 10 tập 1)

Nhân vật Ngô và Cải:

+ Là những người nông dân tội nghiệp, đáng thương

+ Họ đánh nhau nhưng không chịu nhận sai lại muốn đổ tội cho nhau nên đều đút lót cho thầy lí

+ Nhân vật Cải: vừa đáng thương lại vừa đáng trách- đáng thương khi đã hối lộ mà vẫn bị ăn đòn. Đáng trách là vì đã tiếp tay cho thói tham lam của quan lí.

+ Nhân vật Ngô: mất tiền, lâm vào kiện cáo

→ Tựu chung họ vừa đáng thương, vừa đáng trách.

Luyện tập

Đặc trưng của truyện cười thông qua hai truyện Nhưng nó phải bằng hai mày và Tam đại con gà:

– Nội dung: thường châm biếm, chế giễu thói hư tật xấu trong một bộ phận người. Tạo mâu thuẫn trái tự nhiên để gây cười.

+ Truyện Tam đại con gà chế giễu thầy đồ dốt nát nhưng huênh hoang, ngụy biện

+ Truyện Nhưng nó phải bằng hai mày tố đả kích thói tham những của bọn quan tham thời xưa

– Nghệ thuật tạo tiếng cười:

+ Kết cấu truyện ngắn gọn, mạch lạc, logic, mâu thuẫn được đẩy lên đỉnh điểm tạo tiếng cười

+ Mâu thuẫn trong truyện Tam đại con gà là sự dốt nát được che đậy, biện mình

+ Truyện Nhưng nó phải bằng hai mày: việc phân xử, công lý được đong đếm bằng tiền.

Bài giảng: Nhưng nó phải bằng hai mày – Cô Trương Khánh Linh (Giáo viên VietJack)

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k5: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Soạn Bài: Nhưng Nó Phải Bằng Hai Mày

Soạn bài (truyện cười)trang 80 SGK ngữ văn lớp 10 tập 1. Để học tốt hơn danh sách các bài tập trong bài Nhưng nó phải bằng hai mày, sau đây là hướng dẫn soạn bài đầy đủ, ngắn gọn và chi tiết nhất.

NHƯNG NÓ PHẢI BẰNG HAI MÀY

(Truyện cười) VĂN BẢN

Làng kia có một viên lí trưởng nổi tiếng xử kiện giỏi.

Một hôm nọ, Cải với Ngô đánh nhau, rồi mang nhâu đi kiện. Cải sợ kém thế lót trước cho thầy lí năm đồng. Ngô biện (1) chè lá những mười đồng. Khi xử kiện thầy lí nói:

– Thằng Cải đánh thằng Ngô đau hơn, phạt một chục roi.

Cải vội xoè năm ngón tay, ngẩng mặt nhìn thầy lí, khẽ bẩm:

– Xin xét lại, lẽ phải về con mà!

Thầy lí cũng xoè năm ngón tay trái úp lên trên năm ngón tây mặt (2), nói:

– Tao biết mày phải… nhưng nó lại phải… bằng hai mày!

(Theo Tiếng cười dân gian Việt Nam, Sđd)

Hướng dẫn soạn bài – Nhưng nó phải bằng hai mày

I. Tóm tắt Cải và Ngô đánh nhau, rồi mang nhau đi kiện. Cải lót trước cho thày lí năm đồng, Ngô biện những mười đồng. Khi xử kiện, Cải bị phạt chịu roi. Nó vội xòe năm ngón tay cho ra hiệu cho thày lí rằng mình là phải. Thày lí cũng xòe năm ngón tay trái úp lên năm ngón tay mặt, nói: “…Nhưng… nó lại phải… bằng hai mày!”.

Truyện cười Nhưng nó phải bằng hai mày đả kích vào cách hành xử chốn công đường – nơi xưa nay vẫn nảy sinh nhiều vấn đề “nhạy cảm”. Với yếu tố gây cười độc đáo: hành động và ngôn ngữ xử kiện kì cục của tên lí trưởng, câu chuyện ngắn gọn này phê phán thói ăn bẩn của những kẻ có quyền thế và lối xử kiện của quan lại, lẽ phải ở đây phụ thuộc vào tiền tài. Đây là câu chuyện giàu kịch tính.

II. Hướng dẫn soạn chi tiết bài Nhưng nó phải bằng hai mày

Giải câu 1 (Trang 80 SGK ngữ văn 10 tập 1)

Phân tích tính kịch trong đoạn “Cải vội xoè năm ngón tay… bằng hai mày”.

a) Quan hệ giữa hai nhân vật: Cải và thầy lí.

b) Sự kết hợp giữa lời nói và động tác của hai nhân vật trên.

a) Quan hệ giữa Cải và thầy lí trước khi xử kiện là mối quan hệ đã được dàn xếp (Cải đã lót tiền trước cho thầy lí năm đồng). Cải cứ nghĩ là quan sẽ cho mình được thắng kiện nên rất ung dung. Tuy nhiên không ngờ khi xử kiện, Cải lại bị thầy lí tuyên bố đánh mười roi. Cải từ thế chủ động chuyển hoàn toàn sang bị động nên đành chịu đòn.

b) Sự độc đáo của câu chuyện chính là sự kết hợp giữa hai thứ “ngôn ngữ”. Ngôn ngữ bằng lời nói (ngôn ngữ công khai), nói cho tất cả những người có mặt ở đó nghe. Nhưng thứ “ngôn ngữ” bằng động tác thì chỉ có thầy lí và Cải mới hiểu được.

+ Lẽ phải – Cải xòe năm ngón tay.

+ Lẽ phải được nhân đôi – thầy lí xòe năm ngón thay trai úp lên năm ngón tay phải.

Ý nghĩa tố cáo của truyện chính là: lẽ phải đối với người xử kiện được tính bằng tiền. Đồng tiền đo lẽ phải, tiền càng nhiều thì lẽ phải càng nhiều. Đặc biệt hơn, thầy lí dùng năm ngón tay trái đập vào năm ngón tay phải – hình ảnh ẩn dụ cho việc cái sai trái úp lên cái phải, cái đúng và ở đây cái phải bị che mất.

Giải câu 2 (Trang 80 SGK ngữ văn 10 tập 1)

Phân tích nghệ thuật gây cười qua lời nói của thầy lí ở cuối truyện.

Khi Cải khăng khăng “xin xét lại, lẽ phải về con mà!”, thầy lí đã không hề phủ nhận điều đó nhưng thầy đưa ra lí lẽ “Tao biết mày phải… nhưng nó lại phải…. bằng hai mày!”. Tiếng cười bật ra từ đó. Đối với thầy lí, lẽ phải được đo bằng tiền. Tiền quyết định lẽ phải. Bởi thế năm đồng là “lẽ phải” nhưng mười đồng là “lẽ phải gấp đôi”.

Giải câu 3 (Trang 80 SGK ngữ văn 10 tập 1)

Anh (chị) đánh giá như thế nào về nhân vật Ngô và Cải.

Nhân vật bị thất bại trong vụ kiện là nhân vật Cải. Cải bị bất ngờ nên không kịp trở tay vì thế mà bị rơi vào tình trạng thảm hại (vừa mất tiền lại vừa bị đánh). Thế nhưng câu chuyện chính là lời phê phán cả hai nhân vật. Sự tham lam của bọn quan lại sẽ càng ngày càng tráo trở hơn nếu còn có những người như Ngô và Cải. Hành vi tiêu cực của chính họ là nguyên nhân làm cho họ trở nên thảm hại. Trong sự việc này, họ là những kẻ đáng thương nhưng cũng là những người đáng giận.

Soạn phần luyện tập bài Nhưng nó phải bằng hai mày

Giải câu hỏi – Luyện tập (Trang 80 SGK ngữ văn 10 tập 1)

Hãy phân tích cả hai truyện cười đã học để làm rõ các đặc trưng của thể loại truyện cười.

Có thể thấy rõ đặc trưng thể loại của truyện cười qua việc phân tích lời nói và hành động của nhân vật trong hai truyện Tam đại con gà và Nhưng nó phải bằng hai mày.

a) Đối với truyện Tam đại con gà

Câu chuyện có nhiều hành động và lời nói của thầy đồ có tác dụng gây cười:

– Các hành động của “Ông thầy”:

Bảo học trò đọc khe khẽ (vì chưa biết mình dạy đúng hay sai nên phải “thận trọng” để giấu dốt).

Xin đài âm dương 3 lần (hành động ngược đời – đúng ra phải hỏi lại người có hiểu biết hơn mình để giảng giải cho học trò rõ). Hành động này hàm ý “Ông thầy” coi cái chuyện dạy học hệ trọng này chẳng khác gì chuyện đánh bạc cầu may.

Ngồi bệ vệ trên giường, bảo học trò đọc to (đắc chí với sự ngốc nghếch của mình mà không biết).

– Lời nói của thầy:

Dủ dỉ là con dù dì.

Dạy cho cháu biết đến tận tam đại con gà.

Dủ dỉ là chị con công, con công là ông con gà.

Tất cả các lời nói này đều cho thấy sự ngốc nghếch và phi lí trong những ‘bài học” và lời nói của “Ông thầy”. Xét về mức độ, ta thấy hành động và lời nói của nhân vật được nhà văn sắp xếp theo trật tự tăng tiến. Mức độ phi lí và sự nực cười của lời nói và hành động ngày càng được đẩy lên cao.

b) Đối với truyện Nhưng nó phải bằng hai mày

– Hành động của nhân vật Cải và Ngô: hai người đều tìm cách đưa đút lót trước cho thày lí mà không rõ hành động của người kia.

– Thày lí thì tham lam nên nhận tiền của cả hai người. Khi xử kiện lại lấy bàn tay để ra hiệu.

– Lời nói hài ước của các nhân vật: ” Xin xét lại, lẽ phải về con mà!”(Cải nói). “Tao biết mày phải…nhưng nó lại phải…bằng hai mày!” (lời đáp của thầy lí)

c) Từ hai truyện trên, có thể khái quát mấy đặc trưng chung của thể loại truyện cười:

– Khai thác những sự việc, hành vi, thói xấu của một bộ phận đối tượng trong dân gian.

– Chứa đựng những mâu thuẫn trái quy luật tự nhiên và tiềm ẩn những yếu tố gây cười.

– Dung lượng ngắn, kết cấu lôgíc chặt chẽ và kết thúc bằng những sự việc hoặc liên tưởng bất ngờ.

Câu 1. Phân tích tính kịch trong đoạn “Cải vội xòe năm ngón tay… bằng hai mày”.

a) Quan hệ giữa hai nhân vật: Cải và thầy lí.

b) Sự kết hợp giữa lời nói và động tác của hai nhân vật trên.

– Cải đã đút lót cho thầy lí năm đồng trước khi xử kiện và chắc mẩm rằng mình sẽ thắng kiện. Giữa hai nhân vật này là quan hệ đôi bên cùng có lợi.

– Cải vừa nói vừa xòe năm ngón tay, ý nhắc đến năm đồng đút lót từ trước. Thầy lí lại xòe năm ngón tay trái úp lên năm ngón tay mặt, ý chỉ mười đồng, nghĩa là số tiền mà Ngô đút lót gấp đôi Cải. Hai nhân vật có thể hiểu được ý nhau thông qua hành động được kết hợp trong lời nói.

Câu 2. Phân tích nghệ thuật gây cười qua lời nói của thầy lí ở cuối truyện.

– Lời nói của thầy lí kết hợp với hành động úp bàn tay trái lên bàn tay phải, ám chỉ việc hối lộ.

– Câu nói của thầy lí ngập ngừng, do dự, dùng cách nói tránh đi “nhưng nó lại phải…bằng hai mày”. Từ “phải” trong lẽ phải được dùng để chỉ hành động hối lộ.

Câu 3. Anh (chị) đánh giá như thế nào về nhân vật Ngô và Cải.

Ngô và Cải là hình ảnh của người lao động. Họ đã phải làm mọi cách để có được cuộc sống thuận lợi hơn tuy nhiên, họ vẫn gặp phải những trở ngại, lâm vào tình cảnh bi hài. Hành động của Ngô và Cải vừa đáng thương vừa đáng trách.

Soạn phần luyện tập bài Nhưng nó phải bằng hai mày (trang 80 SGK ngữ văn 10 tập 1)

Hãy phân tích cả hai truyện cười đã học để làm rõ các đặc trưng của thể loại truyện cười.

Phân tích hai truyện dựa trên đặc trưng chung của truyện cười dân gian và đặc điểm riêng (tình huống gây cười) của từng truyện.

– Nội dung: Thường châm biếm, chế giễu những thói hư, tật xấu trong nội bộ nhân dân, hoặc đả kích những thói hư khác trong xã hội.

Truyện ” Tam đại con gà” chế giễu thầy đồ dốt nát nhưng lại sĩ diện hão. Truyện ” Nhưng nó phải bằng hai mày” đả kích thói tham nhũng của bọn tham quan ô lại trong xã hội cũ.

– Nghệ thuật: Truyện cười thường tạo ra những mâu thuẫn trái với tự nhiên để gây cười.

Truyện ” Tam đại con gà” tạo ra mâu thuẫn giữa sự dốt nát (bên trong) với cái làm ra vẻ ta đây là giỏi (bên ngoài) của thầy đồ. Truyện ” Nhưng nó phải bằng hai mày” t ạo ra mâu thuẫn là việc phân xử phải trái lại được “đo, đếm” như đốì với đồng tiền.

(BAIVIET.COM)

Soạn Bài Hai Đứa Trẻ Sbt Ngữ Văn 11 Tập 1

Giải câu 1, 2, 3, 4, 5 trang 73 SBT Ngữ văn 11 tập 1. Cảnh vật trong truyện đã được miêu tả trong thời gian và không gian như thế nào ?

1. Bài tập 1, trang 101, SGK.

Cảnh vật trong truyện đã được miêu tả trong thời gian và không gian như thế nào ?

Trả lời:

Các nhân vật có thể gây ấn tượng sâu sắc là : Liên, An, chị Tí, bác Siêu, bà cụ Thi,… Những chi tiết nghệ thuật tịêu biểu là : đoàn tàu, bóng tối và ánh sáng, âm thanh, hình ảnh Hà Nội xa xăm, ngọn đèn ở hàng nước của chị Tí,…

Ví dụ, phân tích hình ảnh ngọn đèn ở hàng nước của chị Tí:

– Chị em Liên “lại cúi nhìn về mặt đất, về quầng sáng thân mật chung quanh ngọn đèn lay động trên chõng hàng của chị Tí”.

– “Giờ chỉ còn ngọn đèn con của chị Tí, và cả cái bếp lửa của bác Siêu, chiếu sáng một vùng đất cát; trong cửa hàng, ngọn đèn của Liên, ngọn đèn vặn nhỏ, thưa thớt từng hột sáng lọt qua phên nứa”.

– “Liên thấy mình sống giữa bao nhiêu sự xa xôi không biết như chiếc đèn con của chị Tí chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ”.

Hình ảnh ngọn đèn ở hàng nước của chị Tí “chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ” trước hết có ý nghĩa như một biểu tượng về những kiếp người nhỏ bé, sống leo lét, quẩn quanh, không tương lai, không hạnh phúc trong đêm trường tăm tối của xã hội cũ. Ngoài ra, hình ảnh này còn có tác dụng tô đậm thêm sự tối tăm, nghèo khổ của những cư dân nơi phố huyện.

2. Bài tập 2*, trang 101, SGK.

Thạch Lam đã miêu tả cuộc sống và hình ảnh những người dân phố huyện ra sao ?

Trả lời:

– Truyện Hai đứa trẻ rất tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Thạch Lam với những trang viết vừa đậm đà yếu tố hiện thực vừa phảng phất chất lãng mạn, chất thơ. Toàn bộ câu chuyện chỉ kể về nỗi buồn trước cảnh ngày tàn và tâm trạng thao thức của chị em Liên mong mỏi chờ đợi một chuyến tàu đêm, thế nhưng qua chuyện kể tưởng như quá đơn sơ, nhỏ nhặt ấy, Thạch Lam đã thể hiện khá chân thực khung cảnh nghèo nàn, đơn điệu của phố huyện nhỏ và thân phận khốn khổ, nhàm chán của những con người ở đó. Đan xen, hài hoà với chất hiện thực ấy, chất lãng mạn, chất thơ thể hiện ở cảm giác mơ hồ về thời gian, không gian, cái thăm thẳm mênh mông của vũ trụ, khung cảnh miền quê êm ả, đượm buồn, sự hồi tưởng về quá khứ và ước mơ kín đáo, xa xôi về tương lai…

– Đặc biệt, Hai đứa trẻ là minh chứng rõ nhất cho loại truyện tâm tình của Thạch Lam. Cuộc sống nghèo nàn nơi phố huyện chỉ là cái nền để tác giả nói tới quan hệ giữa những người dân mộc mạc trong cảnh sống bình thường ; cái tình người chân chất cứ nhẹ nhàng thấm sâu khắp thiên truyện, nó toả ra trong mọi mối quan hệ : giữa chị em Liên với nhau, giữa chị em Liên với chị Tí, bác Xẩm, bác Siêu, mấy đứa trẻ nhặt rác,… Ngay trong cách cư xử của chị em Liên với bà cụ Thi, người đọc cũng thấy sự ấm áp của tình thương và sự cảm thông. Khi miêu tả từng nhân vật, Thạch Lam ít quan tâm đến ngoại hình, hành động mà ông tập trung chú ý tới thế giói nội tâm, cái “hiện thực tâm hồn” với những cảm giác, cảm xúc mong manh, mơ hồ. Với nghệ thuật phân tích tâm lí nhân vật rất tinh tế, Thạch Lam đã khắc hoạ được những xao động trong tâm hồn cô bé Liên : lúc chiều về trên phố huyện “lòng buồn man mác” ; thấy mấy đứa trẻ bới rác mà “động lòng thương nhưng chính chị cũng không có tiền để mà cho chúng nó”; sự hãnh diện với chiếc xà tích và cái khoá “vì nó tỏ ra chị là người con gái lớn và đảm đang”; cái ước mơ chập chờn “thấy mình sống giữa bao nhiêu sự xa xôi”… khi đoàn tàu đã đi qua… Thạch Lam còn có giọng điệu rất riêng biệt, độc đáo – đó là giọng kể chuyện thủ thỉ như tâm sự vói người đọc, rất nhỏ nhẹ mà man mác, thi vị. Người đọc thấy ẩn hiện, kín đáo, lặng lẽ sau những hình ảnh, những dòng chữ một tâm hồn Thạch Lam đôn hậu, tinh tế, hết sức nhạy cảm với mọi biến thái của lòng người và tạo vật. Văn Thạch Lam rất tiêu biểu cho tính cách người Việt, những người “sống cảm nhiều hơn là suy nghĩ” (Hoài Thanh).

3. Anh (chị) hãy nêu nhận xét về cảm hứng thiên nhiên của Thạch Lam qua truyện ngắn Hai đứa trẻ.

Trả lời:

Trong truyện ngắn Hai đứa trẻ, nhà văn đã thể hiện khá rõ cảm hứng về thiên nhiên:

– Tác giả đã miêu tả khá thành công nhiều bức tranh thiên nhiên thơ mộng, đầy gợi cảm. Chẳng hạn, những âm thanh, hình ảnh quen thuộc của mùa hạ lúc chiều tà : “Tiếng trống thu không trên cái chòi của huyện nhỏ ; từng tiếng một vang ra để gọi buổi chiều” ; “Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào” ; hay không khí êm đềm, tĩnh lặng khi đêm xuống ở làng quê : “Trời đã bắt đầu đêm, một đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng qua gió mát”.

– Điều đáng nói hơn là thiên nhiên và con người ở đây luôn được khắc hoạ trong sự hoà hợp với nhau. Hai đứa trẻ có thể phát hiện tinh tế những biến thái của đất trời, cây cỏ : “An và Liên lặng ngước mắt lên nhìn các vì sao để tìm sông Ngân Hà và con vịt theo sau ông Thần Nông”, “Qua kẽ lá của cành bàng, ngàn sao vẫn lấp lánh; một con đom đóm bám vào dưới mặt lá, vùng sáng nhỏ xanh nhấp nháy rồi hoa bàng rụng xuống vai Liên khe khẽ, thỉnh thoảng từng loạt một. Tâm hồn Liên yên tĩnh hẳn, có những cảm giác mơ hồ không hiểu”.

– Qua cảm hứng về thiên nhiên, Thạch Lam đã ít nhiều gọi được ở người đọc những tính cảm đối với quê hương xứ sở. Có lẽ đây cũng là điều góp phần tạo nên sự đặc sắc của thiên truyện này. Tiếc rằng, lâu nay cảm hứng ấy ít được chúng ta bàn tới.

4. Phân tích hình anh hai chị em Liên trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam.

Trả lời:

Đây là một đề thuộc kiểu bài phân tích nhân vật. cần phân tích hai mặt trong cuộc sống của chị em Liên :

+ Cuộc sống vật chất

+ Cuộc sống tinh thần

– Cần đặt chị em Liên vào khung cảnh chung – cuộc sống của cả phố huyện với những người cũng như Liên:

+ Nghèo khổ trong cuộc sống vật chất

+ Hạn hẹp, tù túng trong cuộc sống

– Cần nhận rõ những nét đẹp trong cách sống của chị em Liên (cách cư xử giữa hai chị em, tình cảm giữa những người nghèo). Và nhất là khát vọng tinh thần hướng về một cái gì mói lạ, về những chân trời mới tuy còn mơ hồ, mong manh.

– Thạch Lam viết văn rất tinh tế, gợi lên nhiều ấn tượng, nhiều ẩn ý hơn là nói rõ, nói trực tiếp. Vậy từ những chi tiết, những câu chữ trong văn bản có thể nói thêm những cảm nhận của mình.

5. Phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật Liên trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam.

Trả lời:

Có thể phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật Liên theo dòng chảy của thời gian từ chiều tối cho đến đêm khuya theo các ý sau :

+ Trong buổi chiều tà : Buồn man mác trước giờ khắc của ngày tàn, cảm thương với lũ trẻ con nhặt rác nơi góc chợ, cảm nhận được sự gắn bó sâu sắc của chị em Liên với phố huyện nghèo, buồn tẻ, tăm tối.

+ Khi trời tối hắn : Không muốn tính tiền hàng vì chảng được bao nhiêu ; sợ bà cụ Thi điên với tiếng cười khanh khách xa dần ; không còn sợ bóng tối ; trong đêm, Liên mải mê với những bí ẩn của vũ trụ đầy trăng sao, thao thức, ngóng chờ chuyến tàu đêm đi qua phô huyện mặc dù hai chị em đã buồn ngủ ríu cả mắt nhưng vẫn gượng để thức.

+ Khi đoàn tàu đến phố: Háo hức, vui mừng, thoả thích, say sưa nhìn ngắm và liên tưởng.

+ Khi đoàn tàu rời phố. Buồn man mác, lưu luyến và hoài niệm về quá khứ.

– Ý nghĩa của việc khắc hoạ tâm trạng nhân vật Liên.

+ Cho thấy bức tranh hiện thực về cuộc sống ở nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám.

+ Làm rõ hơn đời sống nội tâm của nhân vật để cảm thương, trân trọng hơn những khát khao, mong ước của họ.

+ Gióng lên hồi chuông báo động về nguy cơ bị nhấn chìm, bị chết mòn trong buồn chán, đói khổ, tù túng và bế tắc của những kiếp người nhỏ bé, mong manh trong xã hội cũ.

+ Khẳng định ngòi bút nhân đạo sâu sắc của Thạch Lam.

+ Chứng minh khả năng quan sát tinh tế, tâm hồn nhạy cảm của tác giả trước những biến thái của cảnh vật và lòng người.

chúng tôi

Bài tiếp theo

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài: Nhưng Nó Phải Bằng Hai Mày – Ngữ Văn 10 Tập 1 trên website Maiphuongus.net. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!