Xem Nhiều 1/2023 #️ Soạn Bài: Những Đứa Trẻ – Ngữ Văn 9 Tập 1 # Top 6 Trend | Maiphuongus.net

Xem Nhiều 1/2023 # Soạn Bài: Những Đứa Trẻ – Ngữ Văn 9 Tập 1 # Top 6 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài: Những Đứa Trẻ – Ngữ Văn 9 Tập 1 mới nhất trên website Maiphuongus.net. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả ( các em tham khảo phần giới thiệu tác giả Mác-xim Go-rơ-ki trong SGK Ngữ văn 9 Tập 1).

2. Tác phẩm

* Xuất xứ: Văn bản Những đứa trẻ được trích trong chương IX của tác phẩm Thời thơ ấu (gồm 13 chương).

* Tóm tắt:

Truyện kể về 3 anh em con nhà Ốp-xi-an-ni-cốp lại ra chơi với A-li-ô-sa sau một tuần xảy ra sự kiện đứa em nhỏ bị ngã xuống giếng. Chúng nói với nhau rất nhiều thứ chuyện. Bỗng nhiên lão đại tá bắt gặp và đuổi khỏi nhà, cấm các con của ông chơi với cậu. Nhưng không vì thế mà lũ trẻ chịu xa nhau, chúng vẫn tìm mọi cách để chơi với nhau một cách vụng trộm.

* Bố cục: Văn bản Những đứa trẻ có thể được chia làm 3 phần:

Phần 3: còn lại : Sự bền chặt của tình bạn vượt qua rào cản ngăn cấm.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

* Bố cục: mục trên

* Những chi tiết xuất hiện ở cả phần 1 và phần 3 tạo nên sự kết nối chặt chẽ là: ba đứa trẻ hàng xóm, chuyện về những con chim, những chuyện cổ tích, người bà hiền hậu.

Câu 2:

* Hoàn cảnh của chú bé A-li-ô-sa và 3 đứa con ông đại tá: là hàng xóm của nhau nhưng địa vị xã hội khác nhau tạo ra rào cản ngăn cách mối quan hệ tự nhiên giữa những đứa trẻ mồ côi. Do trong một lần, A-li-ô-sa đã góp sức cứu đứa trẻ là con nhà ông đại tá bị rơi xuống giếng nên 3 đứa mới rủ A-li-ô-sa sang chơi cùng. Có thể nói, chính hoàn cảnh sống thiếu tình thương đã tạo nên tình bạn trong sáng giữa lũ trẻ.

Câu 3:

* Một số hình ảnh của ba đứa trẻ hàng xóm qua sự cảm nhận tinh tế của A-li-ô-sa: Vẻ ngoài của chúng giống nhau (mặc áo xanh và quần dài màu xám, cùng đội mũ như nhau, khuôn mặt tròn, mắt sáng, phải phận biệt theo tầm vóc. Chúng ngồi sát vào nhau giống như những chú gà con, những con ngỗng con ngoan ngoãn.

Câu 4:

Chuyện đời thường và truyện cổ tích được lồng vào nhau trong nghệ thuật kể chuyện của Go-rơ-ki:

Có thể nói, đoạn trích đã thể hiện đặc sắc trong nghệ thuật kể chuyện đan xen giữa chuyện đời thường và truyện cổ tích. Những chi tiết về “dì ghẻ”, “mẹ khác” khiến người đọc liên tưởng đến mụ dì ghẻ độc ác trong những truyện cổ tích. Rồi đến khi những đứa trẻ nói về “mẹ thật”, A-li-ô-sa cũng có những suy tưởng như độc thoại nội tâm, lạc ngay vào thế giới truyện cổ tích. Hơn thế nữa, chi tiết người bà nhân hậu cũng được kể lại bằng giọng của truyện cổ tích.

5

/

5

(

6

bình chọn

)

Soạn Bài Những Đứa Trẻ Sgk Ngữ Văn 9 Tập 1

Hướng dẫn Soạn Bài 17 sách giáo khoa Ngữ văn 9 tập một. Nội dung bài Soạn bài Những đứa trẻ sgk Ngữ văn 9 tập 1 bao gồm đầy đủ bài soạn, tóm tắt, miêu tả, phân tích, cảm nhận, thuyết minh, nghị luận,… đầy đủ các bài văn mẫu lớp 9 hay nhất, giúp các em học tốt môn Ngữ văn 9, ôn thi vào lớp 10.

VĂN BẢN

NHỮNG ĐỨA TRẺ(*)

(Trích Thời thơ ấu)

Có đến gần một tuần(1) không thấy ba anh em nhà ấy(2) ra sân chơi, nhưng sau đó chúng lại xuất hiện, ồn ào hơn trước. Thằng anh lớn nhìn thấy tôi(3) trên cây(4), nó gọi, giọng thân mật:

– Xuống đấy chơi với chúng tớ!

Chúng tôi trèo lên cái xe trượt tuyết(5) cũ để ở dưới mái hiên nhà kho rồi vừa ngắm nghía nhau, vừa nói chuyện rất lâu.

– Các cậu có bị ăn đòn không?(6)

– Có – Thằng anh lớn trả lời.

Tôi thấy khó mà tin được rằng những đứa trẻ này cũng bị đánh đòn như tôi(7), tôi thấy tức thay cho chúng.

– Sao anh lại bắt chim? – Thằng bé nhất hỏi.

– Vì chúng nó hót hay lắm.

– Không nên bắt, cứ để cho chúng muốn bay đi đâu thì bay.

– Được, mình sẽ không bắt nữa!

– Nhưng anh hãy bắt cho em một con đã.

– Em muốn chim gì?

– Chim gì hót vui ấy. Để nhốt vào lồng.

– Mèo nó bắt mất – Thằng thứ hai nói – Mà bố cũng chẳng cho nuôi.

Thằng anh lớn tán thành:

– Đúng đấy, bố chẳng cho nuôi đâu…

– Thế các cậu có mẹ không?

– Không – Thằng anh lớn đáp.

Nhưng thằng thứ Hai chữa lại:

– Có, nhưng là mẹ khác, không phải là mẹ chúng tớ, chúng tớ không còn mẹ, mẹ chúng tớ chết rồi.

– Mẹ khác thì gọi là dì ghẻ – tôi nói.

Thằng anh lớn gật đầu:

– Ừ.

Và cả ba đứa có vẻ nghĩ ngợi, gương mặt sầm lại.

Qua những truyện cổ tích của bà tôi, tôi đã biết thế nào là dì ghẻ, nên tôi rất thông cảm với sự im lặng, nghĩ ngợi của bọn nó. Chúng ngồi sát vào nhau, giống như những chú gà con. Tôi nhớ lại truyện mụ dì ghẻ phù thuỷ đã dùng mưu đánh lừa để giả làm mẹ thật, tôi liền bảo chúng:

– Mẹ thật của các cậu thế nào cũng sẽ về, rồi các cậu xem!

Thằng anh lớn nhún vai:

– Chết rồi cơ mà, về làm sao được…

Không được ư? Trời ơi, biết bao nhiêu lần những người chết, thậm chí đã bị xả(9) ra từng mảnh, mà chỉ cần vẩy cho ít nước phép(10) là sống lại; có biết bao nhiêu người chết mà không phải là chết thật, vì phép của bọn phù thủy.

Tôi bèn kể lại một cách sôi nổi cho chúng nghe những câu chuyện của bà tôi. Lúc đầu, thằng anh lớn chỉ mỉm cười, sau đó nhẹ nhàng bảo:

– Những chuyện ấy chúng tớ biết cả rồi, đấy là những truyện cổ tích…

Hai em nó im lặng nghe, thằng bé nhất mím chặt môi và phồng má lên, còn thằng kia thì chống khuỷu tay lên đầu gối, cúi về phía tôi, tay kia quàng lên vai em nó, ấn em nó xuống.

Trời đã bắt đầu tối, những đám mây đỏ treo lơ lửng trên các mái nhà, bỗng trước mắt chúng tôi hiện ra một ông già(11) với bộ ria trắng, mình vận chiếc áo dài thùng thùng màu nâu nhạt như của thầy tu, đội chiếc mũ xù lông.

– Đứa nào đây? – Ông ta hỏi và chỉ vào tôi.

Thằng anh lớn đứng dậy, hất đầu về phía nhà ông nói:

– Nó ở … bên kia sang …

– Đứa nào gọi nó sang?

Tức thì cả mấy đứa trẻ lặng lẽ bước ra khỏi chiếc xe đi vào nhà, khiến tôi lại nghĩ đến những con ngỗng ngoan ngoãn(12).

Ông già nắm chặt lấy vai tôi và dẫn tôi qua sân ra cổng; ông ta làm tôi sợ đến phát khóc, nhưng ông bước dài và nhanh đến nỗi tôi chưa kịp khóc òa lên thì đã ở ngoài đường rồi, còn ông ta đứng trước cổng, giơ ngón tay dọa tôi và nói:

– Cấm không được đến nhà tao!

[…] Tôi vẫn tiếp tục chơi với mấy đứa trẻ ấy và cảm thấy rất vui thích. Trong một ngách hẹp giữa bức tường nhà tôi và hàng rào nhà Ốp-xi-an-ni-cốp có một cây du, một cây bồ đề và bụi hương mộc rậm rạp. Nấp sau bụi cây đó, tôi khoét một lỗ hổng hình bán nguyệt ở hàng rào, mấy thằng bé, lần lượt từng đứa hay hai đứa một, lại gần, và chúng tôi ngồi xổm hoặc quỳ nói chuyện khe khẽ với nhau. Một đứa trong số ba anh em chúng phải luôn đứng canh để đề phòng ông đại tá bất chợt bắt gặp chúng tôi.

Chúng kể cho tôi nghe cuộc sống buồn tẻ của chúng, và những chuyện đó làm tôi buồn lắm; chúng kể cho tôi nghe về những con chim tôi bẫy được đang sống ra sao và những chuyện trẻ con khác, nhưng tôi nhớ lại thì chưa bao giờ chúng nói một lời nào về bố và về dì ghẻ. Thường thì chúng chỉ đề nghị tôi kể truyện cổ tích; tôi kể lại những truyện bà tôi đã kể, và nếu quên chỗ nào, tôi bảo chúng đợi, rồi chạy về nhà hỏi lại bà tôi. Thấy thế bà tôi thường rất hài lòng.

Tôi kể cho chúng nghe nhiều về bà tôi; một hôm thằng lớn thở dài nói:

– Có lẽ tất cả các bà đều rất tốt, bà tớ ngày trước cũng rất tốt…

Nó thường nói một cách buồn bã: ngày trước, trước kia, đã có thời… dường như nó đã sống trên trái đất này một trăm năm chứ không phải mười một năm. Tôi còn nhớ nó có đôi bàn tay nhỏ nhắn, những ngón tay thon thon và người mảnh dẻ, yếu ớt, cặp mắt rất sáng, nhưng dịu dàng như ánh sáng của những ngọn đèn trong nhà thờ. Hai em nó cũng rất dễ thương, tôi tin yêu lắm, tôi luôn muốn làm cho chúng vui thích, nhưng tôi ưa thằng lớn hơn cả…

(M. Go-rơ-ki(*), Thời thơ ấu, theo bản dịch

của Trần Khuyến – Cẩm Tiêu, NXB Văn học, Hà Nội, 1976.

Tên bài do NBS đặt)

Chú thích:

(*) Mác-xim Go-rơ-ki (1868 – 1936) là bút danh của A-lếch-xây Pê-scốp, một trong những nhà văn lớn của Nga và của thế giới trong thề kỉ XX. Pê-scốp mồ côi bố khi mới ba tuổi và sống với ông bà ngoại; lớn lên, lại phải đi làm rất nhiều nghề để kiếm ăn. Bút danh “Go-rơ-ki”, theo tiếng Nga, có nghĩa là “cay đắng”. Co-rơ-ki là tác giả của bộ ba tiểu thuyết tự thuật, loại tiểu thuyết nhà văn dùng ngôi thứ nhất (xưng “tôi”) kể chuyện đời mình: Thời thơ ấu (1913 – 1914), Kiếm sống (1916), Những trường đại học của tôi (1923). Một tác phẩm quan trọng khác của ông là Người mẹ (1906 – 1907), tiểu thuyết viết về sự chuyển biến tư tưởng của nhân vật chính, một bà mẹ Nga, về phía chủ nghĩa xã hội.

Văn bản Những đứa trẻ trích ở chương IX tác phẩm Thời thơ ấu (gồm mười ba chương). Dạo ấy, dưới thời Nga hoàng, A-li-ô-sa (tên thân mật thường gọi ở nhà của Mác-xim Go-rơ-ki) ở với ông bà ngoại vì bố mất sớm, mẹ đi lấy chồng khác. Bên hàng xóm là nhà ông đại tá Ốp-xi-an-ni-cốp đã già, sống với người vợ kế và ba đứa con nhỏ mồ côi mẹ khoảng trên dưới mười tuổi, trạc tuổi với A-li-ô-sa. Do tình cờ có lần A-li-ô-sa cùng hai đưa con lớn của ông đại tá kéo dây gàu lên cứu được thằng nhỏ chơi nghịch nhảy vào gàu rơi xuống giếng, nên mấy đứa trẻ chơi thân với A-li-ô-sa, bất chấp sự cấm đoán của bố. Đoạn trích Những đứa trẻ tiếp theo sự kiện ấy.

(1) Sau sự kiện thằng bé ngã xuống giếng (xem chú thích *).

(2) Ba đứa trẻ con đại tá Ốp-xi-an-ni-cốp (xem chú thích *)

(3) Nhân vật người kể chuyện; ở đây là Mác-xim Go-rơ-ki.

(4) Cái cây bên nhà A-li-ô-sa sát ngay hàng rào nhà đại tá Ốp-xi-an-ni-cốp.

(5) Xe trượt tuyết: loại xe không có bánh, di chuyển bằng cách trượt trên tuyết ở những miền băng giá.

(6) Bị đòn vì chơi đùa nghịch ngợm để thằng em ngã xuống giếng.

(7) Ông ngoại của A-li-ô-sa là người rất khó tính, nên A-li-ô-sa thường bị đe nẹt và ăn đòn một cách oan uổng.

(8) Chim bạch yến: loài chim yến lông trắng muốt, hót rất hay.

(9) Xả: chặt ra thành từng mảnh lớn (thường nói về thịt gia súc).

(10) Nước phép: loại nước uống có thể làm cho người chết sống lại (theo mê tín hoặc trong các truyện dân gian).

(11) Đại tá Ốp-xi-an-ni-cốp, bố của ba đứa trẻ.

(12) Ở đoạn trước khi xảy ra chuyện thằng bé bị ngã xuống giếng, A-li-ô-sa đang ngồi trên cành cây nhìn mấy đứa trẻ chơi ngoài sân thì nghe tiếng đại tá ở trong nhà gọi các con vào, Go-rơ-ki kể: “Chúng thong thả và ngoan ngoãn đi vào hệt như những chú ngỗng”.

ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

Một tuần vắng bóng sau sự kiện đứa em nhỏ ngã xuống giếng, ba anh em con nhà Ốp-xi-an-ni-cốp lại ra chơi với A-li-ô-sa. Chúng nói với nhau nhiều thứ chuyện. Bỗng nhiên lão đại tá bắt gặp và đuổi khỏi nhà, cấm các con ông chơi với cậu. Nhưng không vì thế mà lũ trẻ chịu xa nhau, chúng vẫn tìm cách chơi với nhau một cách vụng trộm.

Đoạn trích Những đứa trẻ đã thuật lại hết sức sinh động tình bạn thân thiết nảy sinh giữa ông hồi còn nhỏ với mấy đứa trẻ sống thiếu tình thương bên hàng xóm, bất chấp những cản trở trong quan hệ xã hội lúc bấy giờ.

1. Câu 1 trang 233 sgk Ngữ văn 9 tập 1

Thử chia bài văn này thành ba phần và đặt tiêu đề cho mỗi phần. Tìm những chi tiết xuất hiện ở cả phần 1 và phần 3 tạo nên sự kết nối chặt chẽ.

Trả lời:

Đoạn trích có thể chia làm ba phần:

– Phần một (Từ đầu đến “em nó cúi xuống”): Tình bạn tuổi thơ trong sáng.

– Phần hai (tiếp theo đến “cấm không được đến nhà tao”): Tình bạn bị cấm đoán.

– Phần ba (đoạn còn lại): Tình bạn vẫn được duy trì.

Những chi tiết: những đứa trẻ, những con chim, truyện cổ tích, người dì ghẻ, người bà hiền hậu đã xuất hiện ở phần đầu lại xuất hiện ở phần thứ ba, tạo nên mối quan hệ kết nối thống nhất và chặt chẽ, gây được ấn tượng sâu sắc trong người đọc.

2. Câu 2 trang 233 sgk Ngữ văn 9 tập 1

Xem xét hoàn cảnh của chú bé A-li-ô-sa, ba đứa con của đại tá Ốp-xi-an-ni-cốp và quan hệ giữa hai gia đình để lí giải vì sao tình bạn tuổi thơ trong trắng ấy để lại ấn tượng sâu sắc cho nhà văn, khiến hơn ba mươi năm sau ông vẫn còn như in và thuật lại hết sức xúc động.

Trả lời:

– Ông bà ngoại của A-li-ô-sa là hàng xóm với đại tá Ốp-xi-an-ni-cốp, nhưng hai gia đình thuộc những thành phần xã hội khác nhau, một bên là dân thường, một bên là quan chức giàu sang, nên Ốp-xi-an-ni-cốp không cho những đứa con của mình chơi với A-li-ô-sa (“Đứa nào gọi nó sang?”, “Cấm không được đến nhà tao!”).

– Do sự tình cờ, A-li-ô-sa góp sức cứu đứa nhỏ bị rơi xuống giếng, nên ba đứa trẻ nhà Ốp-xi-an-ni-cốp biết được tấm lòng của A-li-ô-sa và rủ A-li-ô-sa sang chơi.

– A-li-ô-sa mất bố, mẹ lại đi lấy chồng khác, có mẹ mà như không, lại thường bị ông ngoại đánh đòn, chỉ có bà ngoại là người hiền hậu. Qua trò chuyện, A-li-ô-sa biết mấy đứa bạn mới quen kia tuy sống trong cảnh giàu sang, nhưng cũng chẳng sung sướng gì, mẹ chết, sống với dì ghẻ, lại cũng bị bố cấm đoán, đánh đòn…

– Hoàn cảnh sống thiếu tình thương giống nhau khiến A-li-ô-sa thân thiết với mấy đứa trẻ kia và để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng Go-rơ-ki khiến mấy chục năm sau ông vẫn còn nhớ như in và kể lại hết sức xúc động.

3. Câu 3 trang 233 sgk Ngữ văn 9 tập 1

Trả lời:

– Trước khi quen thân, nhìn sang hàng xóm, A-li-ô-sa chỉ biết: “Ba đứa cùng mặc áo cánh và quần dài màu xám, cùng đội mũ như nhau. Chúng có khuôn mặt tròn, mắt xám và giống nhau đến nỗi tôi chỉ có thể phân biệt được chúng theo tầm vóc”.

– Khi mấy đứa trẻ kể chuyện mẹ chết, chỉ còn dì ghẻ mà chúng gọi là “mẹ khác” rồi lặng đi, Go-rơ-ki kể: “Chúng ngồi sát vào nhau giống như những chú gà con”. So sánh chính xác khiến ta liên tưởng cảnh lũ gà con sợ hãi co cụm vào nhau khi nhìn thấy diều hâu, đồng thời toát lên sự thông cảm của A-li-ô-sa với nỗi bất hạnh của các bạn nhỏ.

– Khi đại tá Ốp-xi-an-ni-cốp bất chợt xuất hiện, mắng: “Đứa nào gọi nó sang?”, Go-rơ-ki viết: “Tức thì cả mấy đứa trẻ lặng lẽ bước ra khỏi chiếc xe và đi vào nhà, khiến tôi lại nghĩ đến những con ngỗng ngoan ngoãn”. Đây là lần thứ hai nhà văn dùng hình tượng so sánh này. So sánh chính xác vừa thể hiện dáng dấp bên ngoài của ba đứa trẻ, vừa thể hiện thế giới nội tâm của chúng. Chúng bị bố áp chế, lẳng lặng vào nhà, chẳng dám hé răng. Tác giả còn kể ở đoạn dưới: “… tôi nhớ lại thì không bao giờ chúng tôi nói một lời nào về bố và về dì ghẻ”. Một lần nữa A-li-ô-sa thông cảm với cuộc sống thiếu tình thương của các bạn nhỏ.

4. Câu 4 trang 233 sgk Ngữ văn 9 tập 1

Trả lời:

Chuyện đời thường và truyện cổ tích:

– Chuyện đời thường và truyện cổ tích lồng vào nhau qua chi tiết dì ghẻ. Mấy đứa trẻ hàng xóm vừa nhắc đến chuyện dì ghẻ mà chúng gọi là “mẹ khác”, A-li-ô-sa liên tưởng ngay đến nhân vật mụ dì ghẻ độc ác trong các truyện cổ tích.

– Chuyện đời thường và chuyện cố tích lồng vào nhau qua chi tiết người “mẹ thật”: “Mẹ thật của các cậu thế nào rồi cũng sẽ về, rồi các cậu…”

– “Chết rồi cơ mày về làm sao được…”. A-li-ô-sa như lạc ngay vào ông khí truyện cổ tích, nói với chính bản thân mình: “Không được ư? Trời ơi, biết bao nhiêu lần những người chết, thậm chí đã bị xả ra từng mảnh mà chỉ cần vẩy cho ít nước phép là sống lại; có biết bao nhiêu người chết mà không phải là chết thật, vì phép của bọn phù thủy”.

– Chuyện đời thường và chuyện cổ tích lồng vào nhau qua hình ảnh người bà nhân hậu. Ta biết bà ngoại của A-li-ô-sa là người rất nhân hậu.

Trong bài văn này, mỗi lần A-li-ô-sa nhắc đến bà ngoại là để nói bà thường kể chuyện cổ tích cho chú nghe và bây giờ chú kể lại cho các bạn, chỗ nào quên lại chạy về hỏi bà. Khi đứa lớn con đại tá Ôp-xi-an-ni-cốp khái quát: “Có lẽ tất cả các bà đều tốt, bà mình trước cũng rất tốt…” thì nước mắt chúng ta như hiện lên hình ảnh các nhân vật bà nội, bà ngoại trong truyện cổ tích rồi. Nhất là thằng bé “thường nói một cách buồn bã: ngày trước, trước kia, đã có thời… dường như nó đã sống trên trái đất: này một trăm năm chứ không phải mười một năm”

– Không thấy A-li-ô-sa nhắc đến tên mấy đứa bạn. Chắc khi chơi thân với nhau, thế nào chúng cũng hỏi tên nhau; A-li-ô-sa còn biết thằng lớn mười một tuổi cơ mà! Hay chuyện xảy ra mấy chục năm rồi, Go-rơ-ki: không còn nhớ tên chúng nữa? Song, có lẽ nhà văn chủ tâm không nhắc tên những đứa trẻ kia, như thế câu chuyện tình bạn của bọn trẻ sông thiếu tình thương mang ý nghĩa khái quát hơn và đậm màu sắc cổ tích nhiều hơn.

CÁC BÀI VĂN HAY

“Bài tập nào khó đã có giaibaisgk.com”

Soạn Văn 9 Vnen Bài 17: Những Đứa Trẻ

Soạn văn 9 VNEN Bài 17: Những đứa trẻ

A. Hoạt động khởi động

1. Kể tóm tắt truyện Cô bé bán diêm (đã học trong chương trình Ngữ văn lớp 8).

– Chỉ ra trong câu chuyện những chi tiết của cuộc sống đời thường và những chi tiết mang màu sắc cổ tích.

– Dụng ý của tác giả khi xây dựng các chi tiết mang màu sắc cổ tích đó? Câu chuyện đã khơi gợi trong em những cảm xúc như thế nào?

Tóm tắt câu chuyện Cô bé bán diêm:

Truyện kể về một cô bé bán diêm trong đêm giao thừa. Cô bé bán diêm có hoàn cảnh rất nghèo khó. Mẹ mất, bà đã qua đời, sống chui rúc ở một xó tối tăm, em luôn phải lắng nghe những tiếng chửi rủa của bố. Vào đêm giao thừa, trời rét mướt, tuyết phủ trắng xóa, em một mình đi bán diêm giữa đường phố vắng. Em rét quá không thể tiếp tục đi được nữa nên đã ngồi vào một xó nhỏ giữa hai bức tường. Em quẹt diêm để sưởi ấm. Cô bé đã ngồi và quẹt các que diêm lên và trước mắt cô lần lượt hiện lên cái lò sưởi, bàn ăn với một con ngỗng quay, cây thông Nô-en. Em cầu khẩn bà hãy cho em được đi cùng bà. Cuối cùng, hai bà cháu bay vút lên cao về chầu thượng đế. Mỗi lần que diêm tắt, thực tế lại hiện ra trước mắt, lần lượt em nghĩ đến cha sẽ mắng vì không bán được diêm, phố xá vắng teo lạnh buốt tuyết rơi, gió bấc vi vu và những người khách qua đường vội vàng thờ ơ trước sự đáng thương của cô bé. Sáng hôm sau, cô bé đã chết trong đêm giao thừa.

Những chi tiết của cuộc sống đời thường và những chi tiết mang màu sắc cổ tích trong câu chuyện:

– Chi tiết của cuộc sống đời thường:

+ Gia cảnh của cô bé bán diêm: Gia đình mới sa sút (bà chết, gia sản tiêu tán…). Cô bé ở với cha trên gác sát mái nhà, gió lùa rét buốt và những lời mắng nhiếc, chửi rủa của cha.

+ Khung cảnh đêm giao thừa: đêm giao thừa mọi người ở trong nhà quây quần đoàn tụ.

+ Không gian: ở trong mọi nhà đều rực sáng ánh đèn và sực nức mùi ngỗng quay, ngoài đường trời rét mướt cô bé bán diêm đầu trần chân đất, bụng đói dò dẫm trong bóng tối, đôi tay cứng đờ.

+ Tình cảnh: em không thể về nhà vì chưa bán được bao diêm nào và chưa có ai bố thí cho em xu nào đem về nên nhất định cha em sẽ đánh em. Em ngồi co ro trong góc tường tối tăm, gió rét căm căm.

– Những chi tiết mang màu sắc cổ tích của câu chuyện nằm ở những mộng tưởng mà cô bé thấy qua những lần quẹt diêm:

+ Lần quẹt diêm đầu tiên: trước mắt em hiện lên chiếc lò sưởi đang” tỏa ra hơi nóng dịu dàng” để sưởi ấm cơ thể trong giá lạnh căm căm của mùa đông, tuyết trắng đang bao trùm.

+ Lần thứ 2: Em có một bàn ăn thịnh soạn, khăn trải bàn trắng tinh, trên bàn toàn bát đĩa bằng sứ quý giá, và có cả một con ngỗng quay.

+ Lần thứ 3: Em thấy có một cây thông trang trí thật lộng lẫy, hàng ngàn ngọn nến sáng rực lấp lánh, rất nhiều bức tranh màu sặc sỡ .

+ Lần thứ 4 và 5: em đã thấy bà đang mỉm cười, bà em to lớn và đẹp lão. Bà cụ cầm lấy tay em, hai bà cháu bay vụt lên cao.

Xây dựng những chi tiết mang màu sắc cổ tích ấy, tác giả thể hiện sự trân trọng, cảm thông và ngợi ca những giấc mơ bình dị và cả kì diệu của trẻ thơ. Đó là ước mơ được ăn ngon, được vui chơi, được sống trong tình thương gia đình. Qua đó, nhà văn nhắc nhở mọi người hãy san sẻ tình yêu thương đối với những đứa trẻ bất hạnh.

Câu chuyện đã khơi gợi trong ta sự thương cảm và tình thương sâu sắc đối với những đứa trẻ có cảnh ngộ bất hạnh trong cuộc sống.

B. Hoạt động hình thành kiến thức

1. Đọc văn bản Những đứa trẻ 2. Tìm hiểu văn bản

a) Văn bản có thể chia làm mấy phần? Đặt tiêu đề cho mỗi phần. Những chi tiết nào tạo nên sự liên kết chặt chẽ về mặt nội dung giữa các phần?

Văn bản có thể chia thành 3 phần

– Phần 1 (từ đầu…đến tay kia quàng lên vai em nó, ấn em nó cúi xuống): Tình bạn trong sáng

– Phần 2 (tiếp…đến Cấm không được đến nhà tao!): Tình bạn bị cấm đoán

– Phần 3 (Còn lại): Tình bạn vẫn tiếp tục.

Các chi tiết những con chim, câu chuyện cổ tích, người dì ghẻ, người bà hiền hậu được xuất hiện ở phần đầu và nhắc lại ở cuối đoạn trích đã tạo nên sự kết nối chặt chẽ về mặt nội dung giữa các phần.

b) Hoàn cảnh, mối quan hệ giữa chú bé A-li-ô-sa và ba đứa con đại tá Ốp-xi-an-ni-cốp có gì đồng cảm? Lí giải vì sao tình bạn tuổi thơ trong trắng ấy để lại ấn tượng sâu sắc cho nhà văn, khiến hơn ba mươi năm sau ông vẫn còn nhớ như in và thuật lại hết sức xúc động.

Sự đồng cảm Hư trong hoàn cảnh, mối quan hệ giữa chú bé A-li-ô-sa và ba đứa con đại tá Ốp-xi-an-ni-cốp:

– Hoàn cảnh gia đình:

+ Chú bé A-li-ô-sa: con nhà nghèo, mồ côi cha từ lúc ba tuổi, mẹ đi lấy chồng khác còn em ở cùng với ông bà ngoại. Tuy không được kể lại nhiều trong đoạn trích song người đọc vẫn có thể hiểu cuộc sống của chú bế A-li-ô-sa cũng không sung sướng gì, vì ông bà của chú vốn dĩ không hề giàu có. Họ chỉ là những người nông dân bình thường, làm việc chăm chỉ nhưng nghèo vẫn hoàn nghèo mà thôi.

+ Ba đứa con đại tá Ốp-xi-an-ni-cốp: là con nhà giàu, bố chúng đã từng làm đại tá, dù đã về hưu song cuộc sống của chúng vẫn rất sung túc và đủ đầy. Trước đó, tác giả đã miêu tả những đứa trẻ ấy bằng những dòng văn giàu sức gợi “Ba đứa cùng mặc áo cánh và quần dài màu xám, cùng đội mũ như nhau. Chúng có khuôn mặt tròn, mắt xám và giống nhau đến nỗi tôi chỉ phân biệt được chúng theo tầm vóc”.

– Mối quan hệ giữa hai gia đình: Mặc dù là hàng xóm nhưng hai gia đình có địa vị xã hội khác nhau nên cũng không thể thân thiết

Nhà văn ấn tượng sâu sắc với tình bạn tuổi thơ trong trắng ấy để rồi hơn ba mươi năm sau ông vẫn còn nhớ như in và thuật lại hết sức xúc động vì:

+ Tuy gia cảnh khác nhau, địa vị xã hội khác nhau là trời vực trở thành bức tường ngăn cách những đứa trẻ ấy lại nhưng giữa chúng có điểm tương đồng rất lớn đó là sự thiếu thốn tình cảm gia đình. Cả bốn đứa trẻ đều không nhận được sự chăm sóc, yêu thương và quan tâm từ cha mẹ chúng. A-li-ô-sa thì ở với ông bà ngoại, dù ông bà ngoại có yêu thương cậu bé nhưng với những đứa trẻ, tình thương của ông bà dù nhiều cũng không thể nào bằng bố mẹ của chúng được. Còn ba anh em con đại tá Ốp-xi-an-ni-cốp dù có cha, có mẹ nhưng chúng lại phải sống trong sự ghẻ lạnh, thờ ơ của họ. Chính những đứa trẻ ấy đã nhận xét cuộc sống của chúng là những ngày tháng nhàm chán và buồn tẻ.

+ Cả bốn đứa trẻ đều còn rất nhỏ, tuổi cũng ngang ngang nhau, đang ở trong độ tuổi nghịch ngợm và ưa khám phá. A-li-ô-sa trong một lần tình cờ đã cứu sống được đứa em nhỏ nghịch nhảy xuống giếng. Chính những kí ức và kỉ niệm này đã khiến cho bốn đứa trẻ thiếu thốn tình thương ấy xích lại gần nhau, thân nhau, tin tưởng và chia sẻ với nhau mọi việc trong cuộc sống, mặc cho bức tường ngăn cách giữa chúng có cao lớn và mạnh mẽ thế nào.

– Khi nhắc đến mẹ thật và mẹ khác trong câu chuyện của những đứa trẻ, nhân vật tối đã nghĩ ngay tới dì ghẻ – mẹ khác trong những câu chuyện cổ tích. Những gì mà mụ dì ghẻ hay làm trong chuyện cổ tích có lẽ ít nhiều những đứa trẻ kia đang phải gánh chịu, chính vì thế mà chúng mới im lặng, nghĩ ngợi còn gương mặt thì sầm lại.

– Hình ảnh người bà cũng xuất hiện trong câu chuyện đời thường và gắn liền với những câu chuyện cổ tích. Chú bé A-li-ô-sa ở cùng với ông bà ngoại, được nghe những câu chuyện cổ tích từ bà và mỗi khi kể chuyện cổ tích cho ba người bạn nghe, nếu quên chỗ nào thì chú sẽ chạy về nhà hỏi bà rồi lại tiếp tục kể. Hình ảnh của bà còn xuất hiện rất nhiều trong câu chuyện mà nhân vật tôi – chú bé A-li-ô-sa kể cho ba đứa trẻ nghe. Và thằng anh cả cũng trầm mặc nghĩ tới người bà trước đây của mình.

C. Hoạt động luyện tập

1. Luyện tập đọc hiểu đoạn trích Thời thơ ấu

Câu 1: Thời thơ ấu của M. Go-rơ-ki được viết theo thể loại nào?

A. Truyện ngắn trữ tình

C. Tiểu thuyết tự thuật

B. Tiểu thuyết lịch sử

D. Hồi kí

Câu 2. Vì sao nói, Thời thơ ấu được viết theo thể loại đó?

A. Vì các sự việc, chi tiết trong tác phẩm do nhà văn hư cấu, tưởng tượng nên

B. Vì tác phẩm dùng ngôi thứ nhất (tôi) kể lại những chuyện đời mình.

C. Vì tác phẩm kể lại những chuyện có thật, xảy ra trong lịch sử dân tộc Nga.

D. Vì tác phẩm ghi chép lại các sự việc xảy ra trong chuyến đi thực tế của nhà văn.

Câu 3. Nội dung của đoạn trích Những đứa trẻ là gì?

A. Kể lại những lần nhân vật “tôi” kể chuyện cổ tích cho bọn trẻ con hàng xóm nghe.

B. Kể lại sự việc nhân vật “tôi” cứu một đứa trẻ hàng xóm khi nó bị rơi xuống giếng.

C. Kể về tình bạn thân thiết nảy sinh giữa nhân vật “tôi” và bọn trẻ con hàng xóm sống thiếu tình thương, bất chấp sự ngăn cản của bố chúng.

D. Kể về cuộc đời của những đứa trẻ nghèo khổ sống cùng làng với nhân vật “tôi”.

Câu 4. Câu văn “Chúng tôi ngồi sát vào nhau, giống như những chú gà con” sử dụng phép tu từ gì?

A. Hoán dụ B. Nói quá C. So sánh D. Nhân hóa

Câu 5. Nhận định nào nói đúng nhất tác dụng của biện pháp tu từ ở câu 4?

A. Nói lên sự sợ hãi của những đứa trẻ

B. Nói lên sự ngây thơ non nớt của những đứa trẻ

C. Nói lên lòng thương cảm của nhân vật “tôi” với nỗi bất hạnh của các bạn

D. Nói lên hoàn cảnh sống giống nhau của những đứa trẻ.

Câu 6. Khi nhìn “mấy đứa trẻ lặng lẽ bước ra khỏi chiếc xe và đi vào nhà”, nhân vật “tôi” lại nghĩ đến những con vật nào?

A. Những chú gà con

C. Những chú ngỗng ngoan ngoãn

B. Những chú thỏ con

D. Những con dế

Câu 7. Nhận định nào nói đúng nhất tác dụng của sự liên tưởng ấy?

A. Thể hiện được dáng dấp của những đứa trẻ

B. Thể hiện được thế giới nội tâm của những đứa trẻ

C. Thể hiện được sự cảm thông của nhân vật “tôi” với những đứa trẻ

D. Thể hiện được sự hài hước trong liên tưởng của những đứa trẻ

Câu 8. Trong con mắt của nhân vật “tôi”. Đại tá Ốp-xi-an-ni-cốp hiện lên là một người như thế nào?

A. Nghiêm khắc với các con

B. Tàn nhẫn và thiếu tình thương

C. Hiểu rõ tâm lí trẻ con

D. Nhân hậu, hiền từ

Câu 9. Vì sao nhà văn không đặt tên cho những đứa trẻ?

A. Vì bản thân chúng không có tên

B. Vì nhân vật “tôi” đã quên mất tên của những đứa trẻ

C. Vì những đứa trẻ phải giấu tên của chúng

D. Để làm cho câu chuyện về những đứa trẻ trở nên khái quát và đậm đà chất cổ tích nhiều hơn.

Câu 10. Nhận định nào không phù hợp với nghệ thuật kể chuyện của tác giả trong đoạn trích Những đứa trẻ?

A. Kết hợp giữa tự sự và lập luận

B. Sử dụng nhiều độc thoại nội tâm

C. Đan xen câu chuyện đời thường với truyện cổ tích

D. Xây dựng tình huống độc đáo, bất ngờ

Câu 1: D

Câu 2: B

Câu 3: C

Câu 4: B

Câu 5: B

Câu 6: C

Câu 7: A

Câu 8: B

Câu 9: D

Câu 10: D

Soạn Văn 9 Ngắn Nhất Bài: Những Đứa Trẻ

Câu 1: Thử chia văn bản thành ba phần và đặt tiêu đề cho mỗi phần. Tìm những chi tiết xuất hiện ở cả phần 1 và phần 3 tạo nến sự kết nối chặt chẽ.

Câu 2: Xem xét hoàn cảnh của chú bé A-li-ô-sa, ba đứa con đại tá Ốp-xi-an-ni-cốp và quan hệ giữa hai gia đình để lí giải vì sao tình bạn tuổi thơ trong trắng ấy để lại ấn tượng sâu sắc cho nhà văn, khiến cho hơn ba mươi năm sau ông vẫn còn nhớ như in và thuật lại hết sức xúc động.

Câu 1: Văn bản có thể chia thành 3 phần

Phần 1 (từ đầu.. ấn em nó cúi xuống): tình bạn đẹp, trong sáng của những đứa trẻ

Phần 2 (tiếp… Cấm không được đến nhà tao!): Ông bố cấm không cho những đứa trẻ chơi với nhau

Phần 3 (Còn lại): Tình bạn vẫn tiếp tục, mặc cho ông bố ngăn cản

Có những chi tiết xuất hiện ở cả phần 1 và phần 3

Chi tiết: Những câu chuyện cổ tích, những con chim được nhắc lại từ ở đầu cho đến cuối đoạn trích

Tác dụng: Khiến cho đoạn trích có sự kết nối chặt chẽ từ đầu cho đến cuối.

Câu 2: Hoàn cảnh gia đình:

Chú bé A-li-ô-sa: con nhà nghèo, mồ côi cha từ lúc ba tuổi, mẹ đi lấy chồng khác còn em ở cùng với ông bà ngoại.

Ba đứa con đại tá Ốp-xi-an-ni-cốp: là con nhà giàu, bố chúng đã từng làm đại tá, dù đã về hưu song cuộc sống của chúng vẫn rất sung túc và đủ đầy.

Mối quan hệ giữa hai gia đình: Mặc dù là hàng xóm nhưng hai gia đình có địa vị xã hội khác nhau nên cũng không thể thân thiết

Nhà văn ấn tượng sâu sắc với tình bạn tuổi thơ trong trắng vì:

Tuy gia cảnh khác nhau, địa vị xã hội khác nhau nhưng giữa chúng có điểm tương đồng rất lớn đó là sự thiếu thốn tình cảm gia đình.

Cả bốn đứa trẻ đều còn rất nhỏ, tuổi cũng ngang ngang nhau, đang ở trong độ tuổi nghịch ngợm và ưa khám phá.

Những kí ức và kỉ niệm này đã khiến cho bốn đứa trẻ thiếu thốn tình thương ấy xích lại gần nhau.

Câu 3: Một số hình ảnh ba đứa trẻ hàng xóm qua sự cảm nhận tinh tế của tác giả:

1. Cả ba đứa có bẻ nghĩ ngợi, gương mặt sầm lại. Chúng ngồi sát vào nhau, giống như những chú gà con..

2. Tức thì cả mấy đứa trẻ lặng lẽ bước ra khỏi chiếc xe và đi vào nhà

3. Một trong số ba anh em chúng cứ phải luôn đứng canh để đề phòng ông đại tá bất chợt bắt gặp chúng tôi.

4. Chúng kể cho tôi nghe cuộc sống buồn tẻ của chúng, và những chuyện đó làm tôi buồn lắm.

5. Nó thường nói một cách buồn bã: ngày trước, trước kia, đã có thời,…

6 … nó có đôi bàn tay nhỏ nhắn, những ngón tay thon thon và người mảnh dẻ, yếu ớt, cặp mắt rất sáng, nhưng dịu dàng như ánh sáng của những ngọn đèn trong nhà thờ…

Cảm nhận về những hình ảnh:

Những đứa trẻ ấy cần được yêu thương, chăm sóc và bảo hộ.

Chúng nghe bị chi phối và áp đặt đến đáng thương.

Cuộc sống của chúng bị tù túng đến nỗi chúng không còn nhìn thấy và cảm nhận được niềm vui nữa.

Câu 4: Câu chuyện đời thường và câu chuyện cổ tích được lồng vào nhau:

Khi nhắc đến mẹ thật và mẹ khác trong câu chuyện của những đứa trẻ: nhân vật tối đã nghĩ ngay tới dì ghẻ ác độc trong truyện cổ tích

Hình ảnh người bà cũng xuất hiện trong câu chuyện đời thường và gắn liền với những câu chuyện cổ tích

Sự đan xen như một cách để ông tái hiện lại tâm hồn, suy nghĩ của trẻ thơ, những câu chuyện cổ tích và tình thưng giữa những đứa trẻ đã trở thành sợi dây gắn kết giữa chúng.

Câu 1: Văn bản có thể chia thành 3 phần: đầu tiên là tình bạn đẹp, trong sáng của những đứa trẻ (từ đầu…ấn em nó cúi xuống), tiếp là Ông bố cấm không cho những đứa trẻ chơi với nhau (tiếp…đến Cấm không được đến nhà tao) và Đoạn còn lại là tình bạn vẫn tiếp tục, mặc cho ông bố ngăn cản.

Câu 2: Hoàn cảnh Chú bé A-li-ô-sa và Ba đứa con đại tá Ốp-xi-an-ni-cốp hoàn toàn trái ngược nhau. Chú bé A-li-ô-sa là con nhà nghèo, mồ côi cha từ lúc ba tuổi, Ba đứa con đại tá Ốp-xi-an-ni-cốp là con nhà giàu, bố chúng đã từng làm đại tá, dù đã về hưu song cuộc sống của chúng vẫn rất sung túc và đủ đầy.

Tuy gia cảnh khác nhau, địa vị xã hội khác nhau là trời vực trở thành bức tường ngăn cách những đứa trẻ ấy lại nhưng giữa chúng có điểm tương đồng rất lớn đó là sự thiếu thốn tình cảm gia đình. Cả bốn đứa trẻ đều còn rất nhỏ, tuổi cũng ngang ngang nhau.

Câu 3: Một số hình ảnh ba đứa trẻ hàng xóm qua sự cảm nhận tinh tế của tác giả là “Cả ba đứa có bẻ nghĩ ngợi, gương mặt sầm lại. Chúng ngồi sát vào nhau, giống như những chú gà con.”; “Tức thì cả mấy đứa trẻ lặng lẽ bước ra khỏi chiếc xe và đi vào nhà”; “luôn đứng canh để đề phòng ông đại tá bất chợt bắt gặp chúng tôi”; “Chúng kể cho tôi nghe cuộc sống buồn tẻ của chúng, và những chuyện đó làm tôi buồn lắm” “Nó thường nói một cách buồn bã: ngày trước, trước kia, đã có thời,…”

Câu 1: Văn bản có thể chia thành 3 phần

Câu 2: Hoàn cảnh gia đình trái ngược giữa Chú bé A-li-ô-sa và Ba đứa con đại tá Ốp-xi-an-ni-cốp:

Tuy gia cảnh khác nhau, địa vị xã hội khác nhau nhưng giữa chúng có điểm tương đồng rất lớn:

Đó là sự thiếu thốn tình cảm gia đình

Tuổi cũng ngang ngang nhau, đang ở trong độ tuổi nghịch ngợm và ưa khám phá.

Câu 3: Một số hình ảnh ba đứa trẻ hàng xóm và cảm nhận về những hình ảnh:

Bà: Người bà luôn luôn chăm sóc lo lắng cho cháu

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài: Những Đứa Trẻ – Ngữ Văn 9 Tập 1 trên website Maiphuongus.net. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!