Xem Nhiều 2/2023 #️ Soạn Bài: Nhàn – Nguyễn Bỉnh Khiêm – Ngữ Văn 10 Tập 1 # Top 8 Trend | Maiphuongus.net

Xem Nhiều 2/2023 # Soạn Bài: Nhàn – Nguyễn Bỉnh Khiêm – Ngữ Văn 10 Tập 1 # Top 8 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài: Nhàn – Nguyễn Bỉnh Khiêm – Ngữ Văn 10 Tập 1 mới nhất trên website Maiphuongus.net. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả: Nguyễn Bỉnh Khiêm (các em tham khảo phần giới thiệu tác giả trong SGK Ngữ Văn 10 Tập 1).

2. Tác phẩm

Nhàn là một bài thơ Nôm nằm trong Bạch Vân quốc ngữ thi. Nhan đề bài thơ do người sau đặt.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

* Cách dùng số từ, danh từ trong câu thơ thứ nhất và nhịp điệu 2 câu thơ đầu có những điểm đáng chú ý là:

Số từ trong câu thơ là “một…một…một…”: cho thấy tác giả là một con người biết chủ động trong công việc.

Nhịp thơ 2/2/3 tạo nên sự thảnh thơi và nhàn nhã

Chữ “ai” ở câu thơ thứ hai dùng để nói với người: cho dù người ta có “vui thú nào” thì ông vẫn luôn vui vẻ với cuộc sống thôn dã của mình

* Qua 2 câu thơ đầu, cho ta thấy hoàn cảnh sống và tâm trạng của tác giả ở nơi thôn quê dân dã. Ông luôn cảm thấy vui vẻ với cuộc sống “tự cung tự cấp” của mình. Đồng thời, hai câu thơ đầu cũng cho thấy sự ngông ngạo trước thói đời. Ngông ngạo mà không ngang tàn, ông vẫn cứ thuần hậu và nguyên thủy.

Câu 2:

* Nơi “vắng vẻ” và chốn “lao xao”:

Nơi “vắng vẻ”: là nơi không có người cầu cạnh ta và ta cũng không cầu cạnh người. Đó là nơi tĩnh tại của thiên nhiên và là nơi thảnh thơi của tâm hồn.

Chốn “lao xao”: là chốn quan trường, là những nơi sang trọng, đầy những thủ đoạn, bon chen, luồn lọt, sát phạt.

* Chúng ta thấy quan niệm của tác giả về “dại” và “khôn” là: tác giả tự nhận mình là người “dại”, chấp nhận mọi điều tiếng xấu của người đời để tìm về những nơi “vắng vẻ”. Còn những người “khôn” họ đến chốn “lao xao”. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã quá trải đời, ông đã chứng kiến sự bon chen và trói buộc của vòng danh lợi chật hẹp. Tác giả tự nhận mình là “dại”, nhưng thực chất ông lại là “khôn”, điều đó cũng giống như những con người cứ luẩn quẩn trong vòng danh lợi, cứ mãi bon chen, nghĩ rằng mình là “khôn” nhưng thực chất lại là “dại”.

* Tác dụng biểu đạt ý của nghệ thuật đối trong hai câu thơ 3 và 4: tạo nên sự so sánh giữa hai triết lí sống, qua đó khẳng định triết lí sống của tác giả.

Câu 3:

* Các sản vật và khung cảnh trong hai câu thơ 5, 6 có những điểm đáng chú ý là:

Thức ăn, sản vật dân dã: măng trúc, giá đỗ

Cảnh sinh hoạt: thích tắm hồ, tắm ao như bao người dân quê khác

Câu 4:

* Hai câu thơ cuối thể hiện vẻ đẹp trí tuệ của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông là một bậc thức giả uyên thâm, là người đã từng vào ra chốn quan trường, đã quá hiểu được cái quy luật biến dịch của cuộc đời, hiểu được rằng danh lợi chỉ là phù du. Do đó, ông đã phủi tay với vòng danh lợi, tìm đến sự tĩnh lặng cho tâm hồn và cùng hòa hợp với thiên nhiên. Có thể nói, đây là cái nhìn của một nhân cách lớn, của một con người có trí tuệ lớn.

Câu 5:

* Quan niệm sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là: sống hòa hợp với thiên nhiên và xa lánh nơi quyền quý, chốn quan trường để giữ cốt cách thanh cao.

* Quan niệm sống của ông là quan niệm hoàn toàn tích cực. Với ông, sống nhàn không có nghĩa là không quan tâm đến xã hội, chỉ lo cuộc sống nhàn tản của bản thân mà sống nhàn là cuộc sống xa lánh nơi quyền quý, rời khỏi vòng danh lợi, sống hòa hợp với tự nhiên. Cuộc sống như vậy mặc dù sẽ vất vả nhưng nó đem đến cho ông sự thoải mái trong tâm hồn, giữ được nhân cách thanh cao trong đời mình.

5

/

5

(

1

bình chọn

)

Soạn Bài Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trang 129 Sgk Ngữ Văn 10, Tập 1

Soạn bài Nhàn để thấy được lối sống rất đỗi giản dị nhưng không kém phần thanh cao của nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm khi ông từ bỏ chốn quan quyền với những danh lợi tầm thường để về ở ẩn, sống cuộc đời thanh đạm, hòa hợp cùng thiên nhiên, giữ gìn cốt cách của mình, đây cũng chính là quan điểm sống đẹp được nhiều nhà Nho xưa chọn lựa.

SOẠN BÀI NHÀN ngắn 1

– Câu thơ đầu tiên được ngắt nhịp 2/2/3 🡪 lạc quan, thư thái, ung dung

– Câu thơ thứ hai được ngắt nhịp 4/3 🡪 tâm trạng ung dung tự do trong công việc 🡺 Hai câu thơ đầu đã cho thấy tâm trạng của Nguyễn Bỉnh Khiêm khi cáo quan về quê ở ẩn với một cuộc sống tuy nghèo về vật chất nhưng tự do, thư thái trong tâm hồn

🡪 Qua đây tác giả đã khẳng định triết lí sống “nhàn” của mình. Nơi “vắng vẻ” không phải là lối sống của những bậc tu hành, ép xác mà ở đây là lối sống hòa nhập với thiên nhiên, tự do, thoải mái. “Chốn lao xao” chính là chốn quan trường nhiều thị phi, bon chen, giành giật.

🡪Tác giả tự nhận mình “dại” nhưng thực chất lại là “khôn” 🡪 Cái khiêm tốn, không khoe khoang của bậc trí thức

Cảnh vật và khung cảnh sinh hoạt trong hai câu thơ 5 và 6 hiện lên bình dị, đạm bạc, thanh cao, gần gũi với thiên nhiên

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.

Mỗi mùa lại có những đặc trưng riêng tạo nên nét chấm phá trong bức tranh phong cảnh thiên nhiên ⇒ Tâm hồn lạc quan, ung dung, thư thái của tác giả

Hai câu 7 và 8 tác giả có ý dẫn điển tích của Thuần Vũ với hàm nghĩa coi phú quý chỉ là một giấc mộng phù du, một giấc chiêm bao trong cuộc đời.

⇒ Nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm: bậc trí nhân quân tử có cốt cách thanh cao trong tâm hồn, xem nhẹ danh vọng, vinh hoa phú quý đối với ông cũng chỉ tựa như giấc mộng chiêm bao.

Nguyễn Bỉnh Khiêm không lãng quên quá khứ, không rũ bỏ thế sự. Ông tuy ở ẩn nhưng một lòng vẫn luôn hướng về nhân dân, lo lắng nỗi lo của nhân dân. Ông xa lánh nơi quyền quý chọn cách sống hòa hợp với thiên nhiên cốt để giữ lấy nhân cách thanh cao, đối với ông phú quý chỉ là một giấc mộng “chiêm bao”.

SOẠN BÀI NHÀN ngắn 2

A. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Cuộc đời và sự nghiệp– Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) sinh tại Vĩnh Bảo, Hải Phòng, đỗ trạng nguyên năm 1535,làm quan dưới triều Mạc.– Ông dâng sớ vạch tội và xin chém 18 lộng thần. Vua không nghe, ông cáo quan về quê dạy học, lấy tên hiệu là Bạch Vân Cư Sĩ. Học trò ông có nhiều người thành đạt.– Ông là người có học vấn uyên thâm. Vua Mạc, các chúa Trịnh, Nguyễn thường hỏi ý kiến ông về các việc hệ trọng. Ông được nhà Mạc phong tước Trình Quốc công nên có tên gọi là Trạng Trình.– Ông là nhà thơ lớn, ông để lại hai tập thơ: Bạch Vân am thi tập (chữ Hán) bao gồm khoảng 700 bài và tập thơ chữ Nôm Bạch Vân quốc ngữ thi (khoảng 170 bài).2. “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm– Trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, những biểu hiện của chữ “nhàn” xuất hiện nhiều và đa dạng: thân nhàn, phận nhàn, thanh nhàn…– Bản chất của chữ “nhàn” ở đây là sống thuận theo tự nhiên, “nhàn” đối lập với “danh lợi”, thể hiện tâm trạng lo âu thời thế và phong cách thanh cao của một nghệ sĩ lớn trước thời cuộc rối ren của đất nước.3. Nhịp điệu và cách dùng số từ của hai câu đầu bài thơ – Chỉ có một số từ và được lặp lại ba lần: một… một… một. Biện pháp nghệ thuật này cho ta thấy tinh thần tự tại, vật dụng lao động đã sẵn sàng và con người cũng sẵn sàng sống cuộc sống lao động chân tay ấy.– Việc lặp lại số từ một (là số ít) đã hàm chứa trong nó sự giản dị. Chủ thể trữ tình không có ao ước gì nhiều hơn một. Dấu ấn của sự xa cách danh lợi đã lộ rõ.– Câu thứ hai khẳng định thêm ý ở câu một: Dù có cách vui thú nào cũng mặc, tôi cứ thơ thẩn với cuộc đời (lối sống) này.– Chữ “ai” hàm nghĩa là người khác. Tác giả đã nêu một sự đối lập: ta thích lao động, thích cuộc sống điền viên nơi thôn dã – người khác thích danh lợi, cuộc sống bon chen chốn đô thành.– Câu 1 nhịp thơ ngắt: 2 /2 /3; câu 2 nhịp thơ ngắt: 4 / 3. Điều đó cho thấy sự sáng tạo so với thơ Đường luật (thường ngắt nhịp 4 / 3). Cách ngắt nhịp cho thấy sự khoan thai, tự tại của chủ thể trữ tình.4. “Nơi vắng vẻ” và “chốn lao xao”, quan niệm của tác giả về “dại”, “khôn” qua hai câu 3, 4– Nơi “vắng vẻ” là nơi bình yên trong tự nhiên, nơi thư thái tâm hồn.– Chốn “lao xao” là chốn đô hội, cửa quyền, nơi con người bon chen danh lợi,– Ý hai câu thơ có sự đối lập: ta đi tìm sự tĩnh tại – người ta đi tìm sự náo động, phiền phức vô bổ của cuộc đời.– Chữ “dại” tác giả tự vận vào mình lại hóa ra là “không dại” vì thời thế khi những kẻ lộng quyền xấu xa (mà Nguyễn Bỉnh Khiêm dâng sớ đòi chém) hoành hành thì việc rút lui khỏi trốn quan quyền là điều đúng đắn.– Đối lập lại, chữ “khôn” tác giả dùng cho “người ta” lại là “không khôn”. Trong sự nhiều nhưỡng của thế sự, nếu cứ một mực bon chen để đạt được danh vọng bằng mọi cách thì con người sẽ đánh mất nhân phẩm, trở thành kẻ xấu như bao kẻ xấu kia. Xã hội càng loạn lạc, rối ren hơn là vì những sự giành giật ấy.5. Thời gian, sản vật và ý nghĩa của chúng trong hai câu thơ 5, 6– Thời gian là mùa thu, mùa xuân, mùa đông và mùa hạ được đặt trong thế đối hàm chỉ một khoảng thời gian dài. Việc đưa ra bốn mùa cho thấy sự chủ động của con người trước thời gian và góp phần khẳng định sự thoải mái, dễ chịu của con người trong môi trường thiên nhiên.– Các sản vật bao gồm “măng trúc” và “giá”, những thực phẩm bằng thực vật dễ tìm trong thiên nhiên và đời thường.– Hai câu thơ sử dụng hai động từ được lặp lại là “ăn” và “tắm”. Đối tượng của hai động thái (ăn cái gì và tắm ở đâu?) thì luôn sẵn có bên cạnh, có thể lấy và thực hiện bất cứ lúc nào nhà thơ muốn. Cuộc sống vì thế đã đầy đủ không cần phải nhọc công tìm kiếm, tranh đấu.– Hai câu thơ cho thấy sự đầy đủ, sung túc của cuộc sống nơi thôn dã. Sự đầy đủ đó là do con người quan niệm (với người khác có lẽ đó là sự thiếu thốn lớn). Phải có một bản lĩnh lớn, một tình yêu thiên nhiên mãnh liệt thì nhà thơ mới tạo được cho mình sự ung dung, giản dị đó.6. Hình ảnh và suy nghĩ của thi nhân qua hai câu thơ cuối – Hiện lên với động thái “uống rượu”. Đáng chú ý là uống rượu một mình. Điều này cho ta thấy sự tự tin vào bản thân. Niềm vui, niềm hạnh phúc không chỉ được tạo dựng từ thiên nhiên mà còn từ chính bản thân mình.– Phong thái của một tiên ông: ngồi dưới cội cây uống rượu một mình và nhìn phú quý tựa chiêm bao.

7. Chủ đề “nhàn” trong bài thơ– Thể hiện qua quan niệm của nhà thơ: thích cảnh sống điền viên, gần gũinhiên và không màng danh lợi (xem phú quý tựa chiêm bao).– Thể hiện sự “đầy đủ” các vật dụng và thực phẩm, đồ uống:+ Vật dụng: mai, cuốc, cần câu.+ Thực phẩm: trúc, giá.+ Đồ uống: rượu.+ Phương tiện sinh hoạt: hồ sen, ao (để tắm), gốc cây (nghỉ ngơi).8. Nguyễn Bỉnh Khiêm quan niệm về danh lợi, phú quý– Trong bài thơ, ông phủ nhận danh lợi, phú quý và ngợi ca cuộc sống hòa hợp với tự nhiên, xa lánh nơi quyền quý để giữ cốt cách thanh cao,– Tuy nhiên, trong cuộc sống nếu phủ nhận danh lợi, phú quý hoàn toàn thì sẽ rất cực đoan và không tạo động lực để cá nhân, xã hội phấn đấu vươn lên– Nguyễn Bỉnh Khiêm đề cao triết lí “nhàn” là để phản kháng với thời đại nơi cái xấu hoành hành, ông không hợp tác với cái xấu đó.– Còn nếu xã hội không do kẻ xấu lãnh đạo thì Nguyễn Bỉnh Khiêm sẽ hợp tác để giúp đỡ dân tộc, đất nước.

Chú ý tìm hiểu trước nội dung chi tiết phần Nêu cảm nhận về cuộc sống, nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ Nhàn, một nội dung quan trọng mà các em cần nắm vững nếu muốn cải thiện kỹ năng làm văn của mình.

Chi tiết nội dung phần Uy-lít-xơ trở về đã được hướng dẫn đầy đủ để các em tham khảo và chuẩn bị nhằm ôn luyện môn Ngữ Văn tốt hơn.

https://thuthuat.taimienphi.vn/soan-bai-nhan–38350n.aspx

Soạn Bài Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm

Soạn bài Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm)

I. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1 (trang 129 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):

– Cách dùng số từ, danh từ trong câu thơ thứ nhất:

+ Số từ “một” được lặp lại ba lần: tư thế sẵn sàng lao động.

– Nhịp điệu hai câu thơ đầu:

+ Câu 1 nhịp thơ ngắt 2/2/3

+ Câu 2 nhịp thơ ngắt: 4/3

– Cuộc sống của nhà thơ khi cáo quan về quê ở ẩn: ung dung, thanh thản gắn liền với những công cụ lao động quen thuộc, giản dị.

Câu 2 (trang 129 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):

– Nơi “vắng vẻ: là nơi bình yên trong tự nhiên, nơi thư thái tâm hồn.

– Chốn “lao xao” là chốn đô hội, cửa quyền, nơi con người bon chen danh lợi.

– Quan điểm của tác giả về dại – khôn:

+ Chữ “dại” tác giả tự vận vào mình hóa ra là “không dại” vì thời thế khi những kẻ lộng quyền xấu xa hoành hành thì việc rút lui khỏi chốn quan quyền là điều đúng đắn.

+ Chữ “khôn” tác giả dùng cho “người ta” lại là “không khôn”: xã hội lọan lạc, rối ren con sẽ đánh mất nhân phẩm, một mực bon chen, giành giật để đạt danh vọng, trở thành những kẻ xấu như bao kẻ xấu kia.

– Nghệ thuật đối trong hai câu thơ 3 và 4:

Câu 3 (trang 129 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):

– Các sản vật và khung cảnh sinh hoạt trong hai câu thơ 5, 6:

– Giá trị nghệ thuật:

+ Hình ảnh dung dị, mộc mạc, chân tình.

Câu 4 (trang 130 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):

– Điển tích: Thuần Vu Phần uống rượu nằm dưới gốc cây hòe để thức tỉnh, nhận ra chân lý cuộc sống: Phú quý chỉ là một giấc chiêm bao, ảo mộng.

– Tác giả khẳng định cái tồn tại vĩnh hằng là thiên nhiên và nhân cách con người. Phủ nhận danh lợi, vật chất đều là hư vô.

Câu 5 (trang 130 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):

Quan niệm sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm: không màng phú quý. Ông xa lánh nơi quyền quý để giữ cốt cách thanh cao, sống hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ. Đó là lối sống không vướng bận, không bon chen.

II. Luyện tập

Cảm nhận chung về cuộc sống, nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ Nhàn:

Gợi ý:

a. Mở bài: giới thiệu về tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm và tác phẩm Nhàn.

b. Thân bài:

– Giới thiệu hoàn cảnh sáng tác bài thơ.

– Phân tích bài thơ:

1. Hai dòng thơ đề: Cuộc sống lao động giản dị nơi thôn quê dân dã.

– “thơ thẩn” gợi ra trạng thái thảnh thơi, tâm thế ung dung, thanh thản không vướng bận ưu tư, phiền muộn, danh lợi.

– Quan niệm nhàn: ung dung, tự tại, bình dị.

2. Hai dòng thơ thực: quan niệm về dại khôn của nhà thơ.

– “Nơi vắng vẻ” và “chốn lao xao” mang ý nghĩa biểu tượng.

+ “Tìm nơi vắng vẻ” không phải là xa lánh cuộc đời mà là tìm nơi mình thích thú được sống thoải mái an nhàn .

+ “Chốn lao xao”: là nơi quan trường, chốn vụ lợi giành giật lẫn nhau.

+ Biện pháp nói ngược: ta dại và người khôn.

+ Biện pháp ẩn dụ: lối sống gán bó với thiên nhiên, lối sông thanh bạch.

3. Hai dòng thơ luận: Cuộc sống sinh hoạt nơi thôn dã vô cùng bình dị và thanh cao.

4. Hai dòng thơ cuối: chân lý về cuộc sống.

– Phú quý chỉ là một giấc chiêm bao, ảo mộng.

– Thái độ coi thường, phú quý, danh lợi.

c. Kết bài: Bài thơ thể hiện được quan niệm “nhàn” của nhà thơ và tình yêu thiên nhiên tha thiết.

Bài giảng: Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm) – Cô Trương Khánh Linh (Giáo viên VietJack)

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k5: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Soạn Bài Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm)

Soạn bài Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm)

Bố cục

– 6 câu đầu: cuộc sống và lẽ sống “nhàn”của tác giả

– 2 câu cuối: Chiêm nghiệm về cuộc đời

Câu 1 (Trang 129 sgk ngữ văn 10 tập 1)

Nhịp điệu của câu thơ gợi lên sự ung dung, thong thả:

Một mai/ một cuốc,/một cần câu (2/2/3)

Thơ thẩn dầu ai/ vui thú nào (4/3)

– Tâm trạng ung dung tự tại trong những công việc lao động hàng ngày

– Cuộc sống nghèo, thanh nhã, đạm bạc cho thấy nhà thơ có nhu cầu sống khiêm tốn, bình dị.

– Quan điểm sống của tác giả, có chút mỉa mai, ngạo nghễ

+ Tác giả tự nhận mình “ngu” dại, đây là cái ngu dại của bậc đại trí (đại trí như ngu), thực chất là “khôn”

+ Ông khiêm tốn, không khoe khoang đây là cái thức của người trí nhân

– Vắng vẻ: không phải xa lãnh cuộc đời mà là được tìm nơi thoải mái, sống hòa nhập với thiên nhiên, xa chốn quan trường để giữ nhân cách thanh cao

– Chốn lao xao: ý nói chốn quan trường tuy quyền quý, cao sang xong phải đối chọi, bon chen

→ Nghệ thuật đối lập khẳng định triết lý sống của tác giả, ông mượn cách nói đời thường để diễn đạt quan niệm sống của mình- xa lánh vinh hoa phú quý để sống an yên, tự tại

Câu 3 (Trang 129 sgk ngữ văn 10 tập 1)

Cảnh vật, khung cảnh bình dị, đạm bạc mà thanh cao hòa nhập với đời sống thiên nhiên

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

Nhịp thơ: 1/3/1/2 gợi tả khung cảnh sinh hoạt của tác giả trong từng mùa, cách sống nhàn là hòa với tự nhiên

+ Mỗi mùa một thức: thu- trúc, đông- giá, xuân- hồ sen, hạ- ao

+ Mọi sinh hoạt đều gắn liền với cuộc sống ở quê chất phác, đạm bạc mà thanh cao

+ Tác giả thấy hứng thú, vui vẻ khi hòa nhịp với thiên nhiên

→ Sự thanh thản, ung dung trong cuộc sống nhàn ấy tỏa sáng nhân cách của bậc trí nhân

– Cảnh thú cảnh sống nhàn ẩn dật mang triết lí của nho sĩ: trong lúc loạn lạc, người có nhân cách thanh cao là người xa lánh cuộc bon chen tầm thường để tìm đến nơi yên tĩnh

Sự vui thú sống hòa mình với thiên nhiên, vũ trụ và giữ được nhân cách thanh cao, trong sạch.

Câu 4 (trang 130 sgk ngữ văn 10 tập 1)

Điển tích vua Thuần Vu, thể hiện quan điểm sống mang tính triết lý của tác giả- bậc trí giả uyên thâm, từng ra vào chốn quan trường hiểm ác.

– Tác giả muốn giữ sự thanh cao, trong sạch trong tâm hồn: xem phú quý tựa chêm bao, phù phiếm…

– Sự suy thịnh thuộc về quy luật của vũ trụ, triều đại, đất nước, vì vậy nhà Nho chân chính đều tự ý thức được sự cao quý của bản thân, vì vật cần giữ tâm hồn thanh sạch, không bị thói đời đua chen làm hoen ố.

– Hai câu cuối cho thấy tâm hồn, nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm là kẻ sĩ thanh cao, liêm khiết

Câu 5 (trang 130 sgk ngữ văn 10 tập 1)

Quan niệm sống Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm) không phải rũ bỏ thế sự để nhàn tản, không phải sự nhàn tản của bản thân mà phó mặc dân chúng

+ Ông sống hòa hợp với tự nhiên, thuận tự nhiên, rời bỏ danh lợi để giữ cốt cách thanh cao

+ Ông vẫn lo cho vận nước sức dân, nhà thơ tìm đến “say” nhưng để “tỉnh” nhận ra phú quý chỉ là phù du, phù phiếm

+ Ông luôn bộc trực, không thờ ơ trước tình cảnh của dân chúng ( ông dâng sớ xin vua chém mười tám lộng thần)

→ Quan niệm sống nhàn của ông chứa đựng yếu tố tích cực khác với lối sống “độc thiện kì thân”

Luyện tập

Bài 1 (Trang 130 sgk ngữ văn 10 tập 1)

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1549 -1585), chứng kiến cảnh sống ngang trái, bất công trong triều đại phong kiến Việt Nam.

– Ông là người ngay thẳng nên từng dâng sớ chém đầu những tên nịnh thần, vua không nghe nên ông cáo quan về quê với triết lý: Nhàn một ngày là tiên một ngày.

– Tư tưởng, triết lý sống của ông là tư tưởng của đạo nho, ứng xử trong thời loạn, sống chan hòa với thiên nhiên, giữ tâm hồn thanh cao.

– Nhân cách của Nguyễn Bình Khiêm: thanh cao, trong sạch

– Cuộc sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ Nhàn: giản dị, đạm bạc mà thanh cao, trong sạch

+ Vui thú với lao động, nguyên sơ, chất phác

+ Không ganh tị với đời, với người, vẫn ung dung, ngạo nghễ

– Những hình ảnh dân dã, đời thường trong lối sinh hoạt của tác giả:

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

+ Cuộc sống hòa mình với thiên nhiên, thanh tao trong cách ăn uống, sinh hoạt

+ Niềm vui, sự tự tại của tác giả thú vị vô cùng

– Hai câu thơ thực, thấy rõ tâm trạng, lối sống “nhàn” của tác giả:

+ Suy nghĩ của bậc đại trí, tránh xa chốn quan trường thị phi

+ Ý thơ ngược với câu chữ, liên tưởng hóm hỉnh, sâu cay

– Hai câu kết: tâm thế ung dung tự tại, xem thường phú quý

+ Sử dụng điển tích vua Nghiêu Thuấn để thể hiện nhãn quan tỏ tường của nhà thơ. Phú quý chỉ là phù du, hư ảo như giấc chiêm bao.

→ Bài thơ là lời tâm sự thâm trầm, sâu sắc, quan niệm sống nhàn hòa hợp với tự nhiên, giữ cốt cách, xem thường danh lợi.

Bài giảng: Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm) – Cô Trương Khánh Linh (Giáo viên VietJack)

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k5: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài: Nhàn – Nguyễn Bỉnh Khiêm – Ngữ Văn 10 Tập 1 trên website Maiphuongus.net. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!