Xem Nhiều 2/2023 #️ Soạn Bài: Muốn Làm Thằng Cuội – Ngữ Văn 8 Tập 1 # Top 2 Trend | Maiphuongus.net

Xem Nhiều 2/2023 # Soạn Bài: Muốn Làm Thằng Cuội – Ngữ Văn 8 Tập 1 # Top 2 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài: Muốn Làm Thằng Cuội – Ngữ Văn 8 Tập 1 mới nhất trên website Maiphuongus.net. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả (các em tham khảo phần giới thiệu tác giả Tản Đà trong SGK Ngữ văn 8 tập 1).

2. Tác phẩm

* Xuất xứ: Bài thơ Muốn làm thằng cuội nằm trong quyển Khối tình con I, xuất bản năm 1917.

* Thể thơ: Bài thơ Muốn làm thằng cuội được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú. Đây vốn là thể thơ thường được sử dụng để thể hiện những nội dung trang trọng. Tuy nhiên, với bài thơ này, giọng điệu ngông nghênh và tư tưởng bất đắc dĩ của tác giả lại trái ngược với tính chất của thể thơ này.

* Bố cục:

Hai câu đề: Cuộc sống trần gian nhàm chán, buồn tẻ.

Hai câu thực: Cõi mộng tưởng của tác giả

Hai câu luận: Ước mơ thoát li khỏi thực tại

Hai câu kết: Viễn cảnh cuộc sống hạnh phúc.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

Hai câu thơ đầu là tiếng than và lời tâm sự của Tản Đà với chị Hằng. Tản Đà có tâm trạng “chán trần thế” là do ông cảm thấy bế tắc và bất hòa sâu sắc với xã hội lúc bầy giờ. Bởi xã hội ta thời đó rất tù hãm, uất ức, đất nước bị mất chủ quyền, người dân phải sống trong xã hội thực dân phong kiến tàn ác, bất nhân. Bên cạnh đó, Tản Đà còn buồn vì phận tài hoa mà lận đận, không đủ sức thay đổi hiện thực bi kịch.

Câu 2:

* Nhiều người đã nhận xét một cách xác đáng rằng, Tản Đà là một hồn thơ “ngông”. “Ngông” ở đây chính là thái độ bất cần đời, dám làm những điều trái với lẽ thường mà không sợ người đời đàm tiếu, đó chính là thái độ phóng túng, coi thường khuôn phép.

* Cái “ngông” của Tàn Đà trong ước muốn được làm thằng cuội:

Muốn thoát khỏi cõi trần buồn chán, xấu xa để lên cõi mộng

Xưng hô suồng sã với chị Hằng, muốn được chị coi là bạn.

Cách lên trời, lên trăng bộc lộ chất “ngông”: muốn chị Hằng ghì cành đa xuống

Câu 3 là sự ướm hỏi thì câu thơ thứ 4, Tản Đà tự tin về bản thân, khi lên được cung quế sẽ làm cho chị Hằng bớt lẻ loi, buồn tủi.

Câu 3:

Hình ảnh cuối bài thơ : “Tựa nhau trông xuống thế gian cười”. Cái cười ở đây mang nhiều ý nghĩa:

Cười thể hiện niềm vui được thỏa mãn ước mơ lên cõi mộng tưởng

Cười vì nhà thơ nhìn thấy thế gian ông từ bỏ vẫn là trần tục tầm thường, buồn chán

Cười để thể hiện sự mỉa mai, giễu cợt khi Tản Đà ở vị trí cao hơn cõi trần ông đang sống.

Câu 4:

Những yếu tố nghệ thuật đã tạo nên sức hấp dẫn của bài thơ:

Trí tưởng tượng sáng tạo, tâm hồn bay bổng của nhà thơ

Thể thơ thất ngôn bát cú mà lời thơ tự nhiên, giản dị, phóng khoáng

Giọng điệu khi thì than thở, khi thì cầu xin, khi lại đắc ý làm cho bài thơ trở nên vui tươi, linh hoạt.

Có những cách tân mới khi thể hiện cái “tôi”, khác với những bài thơ Đường cổ điển.

2.5

/

5

(

2

bình chọn

)

Soạn Bài Muốn Làm Thằng Cuội Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1

A – Thoát li, xa lánh cõi trần mà nhà thơ cảm thấy chán ngán

B – Bầu bạn cùng chị Hằng để trốn tránh nỗi cô đơn nơi trần thế

C – Chiêm ngường, tận hưỏng vẻ đẹp của cuộc sống nơi trần thế

D – Ngạo đời, cười những kẻ còn đang ngụp lặn giữa dòng đời ô trọc

Giải:

Bài tập có tính chất củng cố những kiến thức đã học. Em hãy đọc kĩ bài thơ, tìm hiểu những cảm xúc mà tác giả đã gửi gắm trong đó rồi lựa chọn những phương án thích hợp.

Chú ý : Có thể chọn nhiều phương án, vì nhà thơ muốn lên cung trăng không hẳn chỉ do một khát vọng, mặt khác, những khát vọng đó thực ra đều thống nhất trong tâm hồn lãng mạn của nhà thơ.

2. Bút pháp lãng mạn thường phát huy cao độ trí tưởng tượng để tạo ra những hình ảnh nghệ thuật bay bổng, khác thường, gây ấh tượng và sự thích thú đặc biệt cho người đọc. Em hãy chỉ ra và phân tích những hình ảnh thơ như thế trong bài thơ này.

Giải:

Bài tập này nhằm giúp em bước đầu làm quen với một trong những đặc trưng quan trọng của bút pháp lãng mạn và biết vận dụng để phân tích những hình ảnh thơ cụ thể.

– Phân tích những hình ảnh thơ đó. Có thể theo gợi ý sau :

+ Trí tưởng tượng của tác giả dựa trên cơ sở nào ?

+ Hình ảnh thơ có ý nghĩa gì ? Nó biểu hiện khát vọng của nhà thơ như thế nào ?

+ Giá trị biểu cảm của hình ảnh thơ đó. Em thấy nó lí thú và gợi cảm như thế nào ?

– Viết một đoạn văn ngắn diễn tả những điều em cảm nhận được.

3*. Liên hệ bài thơ này với bài Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan (đã học ở lớp 7), hãy tìm hiểu sự giông và khác nhau về tâm trạng hai nhà thơ và cách thức của mỗi người để giải toả tâm sự riêng. Giải thích vì sao có sự khác nhau đó.

Giải:

Bài tập này nhằm giúp em liên hệ kết nối giữa các kiến thức đã học ở các bài khác nhau. Có thể làm bài tập theo trình tự sau :

– Đọc lại bài thơ Qua Đèo Ngang của. Bà Huyện Thanh Quan.

– Tâm trạng hai nhà thơ ở hai thời đại có gì đồng điệu ? Bà Huyện Thanh Quan (sống vào khoảng nửa đầu thế kỉ XIX, triều Nguyễn) và Tản Đà sống ở hai thời đại tuy xa nhau gần một thế kỉ, nhưng cả hai đều mang tâm sự thương nước lo đời, đều cảm thây buồn bã, cô đơn trong cuộc đời đáng chán. Nội dung cảm xúc cụ thể ở mỗi bài mỗi khác nhưng đều giống nhau ở tâm trạng chung đó. Hãy bám sát vào văn bản hai bài thơ để nêu lên và phân tích nét giống nhau đó.

– Cách thức giải toả nỗi niềm và tâm trạng của hai nhà thơ có gì khác nhau ?

Tuy cùng buồn chán, cô đơn nhưng trong Qua Đèo Ngang, tâm trạng Bà Huyện Thanh Quan có phần lặng lẽ, sâu lắng hơn. Bà bước lên đèo cao ngắm cảnh và bỗng thấy nhớ nước thương nhà khi nghe tiếng chim kêu khắc khoải, thấy cô độc khi một mình đối diện với trời, non, nước bao la ; cảnh nước non kì thú trước mắt không làm bà vơi đi nỗi niềm riêng.

Tản Đà sống ở thời đại “mưa Âu gió Mĩ” đầu thê kỉ XX, tâm hồn lãng mạn của nhà thơ táo bạo hơn, nỗi buồn chán cũng sâu sắc, mạnh mẽ hơn. Khát vọng lãng mạn của nhà thơ cũng “ngông” hơn. Trong đêm rằm, tuy ông cảm thấy “buồn lắm” đòi lên chơi cung trăng với chị Hằng để bầu bạn tri kỉ với chị, thả hồn với gió với trăng và còn để nhìn xuống trần giới cười nhạt người đời đang bon chen…

chúng tôi

Bài tiếp theo

Soạn Văn 8 Bài Muốn Làm Thằng Cuội

A. Hoạt động hình thành kiến thức.

Đọc một số thông tin sau về hai tác giả Tản Đà và Trần Tuấn Khải, nêu những nét riêng trong hai sáng tác của tác giả Xét trên phương diện thể loại:

Tản Đà, Trần Tuấn Khải đã làm một cuộc tổng duyệt về các thể loại của văn học dân gian. Ở thể loại nào các ông cũng vận dụng thành công vào trong thơ mình, không những thế còn có những cách tân đáng trân trọng. Trong đó các thể hát là phần tinh túy nhất, tập trung những nét tài hoa của hai nghệ sĩ.

Những nét sáng tác rất riêng đã tạo nên phong cách thơ ca rất đặc sắc cho mỗi tác giả. Tản Đà say hát nói, hát xẩm; Trần Tuấn Khải say “hát vặt”. Chùm thơ ba bài làm theo thể “hát vặt” về anh Khóa của Á Nam; các bài hát nói của Tản Đà làm cho người đọc bao thế hệ vô cùng thích thú và kinh ngạc. Đặc biệt, phong dao của Tản Đà, Trần Tuấn Khải chẳng khác gì ca dao cổ truyền, đến mức nhà nghiên cứu tài ba Vũ Ngọc Phan cũng không ít lần sưu tầm phong dao của Tản Đà, Trần Tuấn Khải vào trong “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam” – một công trình sưu tầm, khảo cứu về văn học dân gian của

B. Hoạt động hình thành kiến thức

1. Đọc văn bản Muốn làm thằng cuội

2. Tìm hiểu văn bản

a. Bài thơ được viết theo thể thơ nào? So với những bào cùng thể thơ đã học, bài thơ này có điểm già khác (về ngôn ngữ,cách thể hiện)

b. Nhận xét về giọng điệu của hai câu thơ mở đầu. Theo em vì sao Tản Đà có tâm trạng chán trần như thế?

c. Nhiều người đã nhận xét một cách xác đáng rằng, Tản Đà là một hồn thơ “ngông”. Em hiểu “ngông” nghĩa là gì? (bộc lộ một thái độ như thế nào đối với cuộc sống)? Hãy phân tích cái “ngông” của Tản Đà trong ước muốn được làm thằng Cuội (chú ý các câu 3 – 4, 5 – 6).

d. Phân tích hình ảnh cuối bài thơ: Tựa nhau trông xuống thế gian cười. Em hiểu cái cười ở đây có ý nghĩa gì?

e. Theo em, những yếu tố nghệ thuật nào đã tạo nên sức hấp dẫn của bài thơ?

a. Thể thơ: thất ngôn bát cú

Điểm khác :

Ngôn ngữ: giản dị, trong sáng, dễ hiểu như lời nói hàng ngày

Cách thể hiện: hóm hỉnh, nhẹ nhàng

b.

Hai câu thơ đầu này là tiếng than và lời tâm sự của Tản Đà với chị Hằng trong một đêm thu. Tác giả đem nỗi buồn ấy tâm sự với một người bạn rất đặc biệt chị Hằng – khoảng cách xa vời nhưng có lẽ đó là người bạn cùng chung nỗi niềm cô đơn với tác giả.

Nguyên nhân của nỗi buồn:

Nỗi buồn của Tản Đà là do sự cộng hưởng của nỗi buồn đôm thu với nỗi chán đời, chán trần thế. Nỗi buồn đêm thu là cái buồn thường tình của thi sĩ.

Nỗi chán đời, chán trần thế là căn nguyên sâu xa của nỗi buồn Tản Đà. Sự chán chường trần thế vì cuộc sống bế tắc, tù túng của xã hội thực dân phong kiến bóp nghẹt sự sống của con người. Thân phận người dân nô lệ làm sao mà vui được mà không chán – chán còn bởi vì Tản Đà mang một niềm đau riêng tài cao nhưng phận thấp.

Vì không đủ sức để thay đổi hiện thực bi kịch ấy nên ông muốn thoát ra khỏi nó, muốn làm thằng Cuội lên chơi trăng.

Tản Đà với cá tính sống mà dường như nằm giữa cõi mộng và cõi thực, giữa cái tỉnh và cái điên, không giống như một ai như thế. Từ lâu, ông đã được mệnh danh là một hồn thơ “ngông”, vua ngông. “Ngông” là thái độ bất cần đời, là dám làm điều trái lẽ thường, không sợ dư luận khen chê. Trong xã hội phong kiến “ngông” là thái độ phóng túng coi thường khuôn phép trói buộc cá tính.

Cái “ngông” của Tản Đà được thể hiện:

Là ước muốn được làm thằng Cuội ở trên cung trăng, vượt ra khỏi trái đất, lên tận trời cao để làm bạn tri âm với chị Hằng, để giãi bày những nỗi niềm sâu kín của mình. Ước nguyện của nhà thơ được diễn tả qua tứ thơ lãng mạn, hình ảnh thơ mơ mộng và tình tứ.

Đầu tiên là một câu ướm hỏi, thăm dò “Cung quế đã ai ngồi đó chửa?”. Sau đó là một lời cầu xin “Cành đa xin chị nhắc lên chơi”, thể hiện sự tự tin của tác giả. Nếu Cung quế chưa có ai thì chị cũng buồn, cũng cô đơn lắm nên hãy để em lên chơi cùng, em đỡ buồn mà chị cũng bớt cô đơn

Cái “ngông” của Tản Đà còn được thể hiện cả ở cách xưng hô với chị Hằng, đó là cách xưng hô với “người cõi tiên” bằng lời lẽ thân mật, suồng sã: chị – em.

Trong cõi trần, tác giả luôn cảm thấy buồn vì sự cô đơn, trống vắng. Ông khắc khoải đi tìm những tâm hồn tri âm, tri kỉ.

Ước mơ thoát khỏi cuộc sống tù túng, buồn chán hiện tại nơi trần thế để đến với một không gian mộng tưởng. Nơi có một tâm hồn hồn cô đơn, đồng điệu với mình trên bầu trời. Sự gặp gỡ hội ngộ biến từ tủi phận thương thân thành niềm vui phơi phới cùng nhau bay lượn với gió, với mây một hồn thơ thật lãng mạn bay bổng.

Bài thơ được viết như một lời tâm sự, trả lòng của tác giả và những yếu tố nghệ thuật về ngôn ngữ, sức tưởng tượng… đã tạo nên sức hấp dẫn cho bài thơ:

Làm nên sức hấp dẫn của bài thơ là ở hồn thơ lãng mạn bay bổng ở cái “ngông”, trí tưởng tượng lại phong phú, kì diệu. Chất mộng ảo, chất ngông thấm đẫm bài thơ.

Lời thơ giản dị, trong sáng, giàu sức biểu cảm, đa dạng trong lối biểu hiện (khi than, khi nhắn hỏi, khi cầu xin). Thơ còn đậm đà tính dân tộc, hầu hết là những từ thuần Việt gần gũi với đời sống.

Sức tưởng tượng phong phú, táo bạo đã tạo được giấc mộng kì thú với những chi tiết gợi cảm và bất ngờ.

Luật thơ Đường vẫn được tuân thủ một cách nghiêm ngặt nhưng hoàn toàn không còn gò bó, chứa đựng sự phóng túng thoải mái.

C. Hoạt động luyện tập

Đọc và tìm hiểu văn bản Hai chữ nước nhà:

1. Tìm hiểu văn bản.

a. Đọc diễn cảm đoạn thơ. Em có nhận xét gì về giọng điệu của đoạn thơ này?

b. Đọc 8 câu thơ đầu, tìm và phân tích những chi tiết nghệ thuật biểu hiện:

Bối cảnh không gian

Hoàn cảnh éo le và tâm trạng của hai nhân vật cha con

Trong bối cảnh không gian và tâm trạng ấy, lời khuyên của người cha có ý nghĩa như thế nào?

c) Đọc 20 câu thơ tiếp theo và cho biết tâm sự yêu nước của tác giả được diễn tả như thế nào, qua đó thể hiện tâm trạng gì của người đương thời vào đầu những năm 20 của thế kỷ XX?

d) Trong phần cuối đoạn thơ, người cha nói đến sự bất lực của mình và sự nghiệp của tổ tông nhằm mục đích gì?

a. Giọng điệu của đoạn thơ: lâm li, chan chứa tình cảm, thể hiện nỗi lòng đau đớn, thống thiết đối với đất nước và giống nòi.

b.

Từ điểm chia li này, người cha sẽ ra đi vĩnh viễn, vĩnh biệt tổ quốc, vĩnh biệt những người ruột thịt. Cảnh vật sầu thảm thê lương (ải Bắc, mây sầu, gió thảm, hổ thét, chim kêu…) càng gợi buồn đau cho lòng người.

Hoàn cảnh éo le và tâm trạng của nhân vật trữ tình (4 câu thơ tiếp): Nguyễn Phi Khanh phải vĩnh viễn rời xa Tổ quốc cho tới ngày trở thành nắm xương tàn nơi đất khách quê người. Nguyễn Trãi phải vĩnh viễn xa cha, chữ hiếu của phận làm con dang dở, để về gánh vác chữ trung. Con muốn theo cha để làm tròn đạo hiếu nhưng thù nhà nợ nước còn đấy, cha đành dằn lòng khuyên con ở lại vì nghĩa lớn.

Tâm trạng: đau đớn, xót xa vì chia li và cũng vì thù nhà nợ nước chưa trả. Buồn đau tê tái cha bước đi âm thầm lặng nhìn con, con nhìn cha đau đớn, thảm sầu.

Trong bối cảnh không gian và tâm trạng ấy, lời khuyên của người cha có ý nghĩa:

Lời khuyên răn, dặn dò có ý nghĩa như một lời trăng trối.

Nó thiêng liêng, xúc động khiến người nghe phải khắc cốt ghi tâm, bàn tay phải nắm chặt chuôi gươm, trái tim phải có nhịp đập mạnh hơn lúc nào hết.

c.

Tác giả nhập vai vào người cha (Nguyễn Phi Khanh) khuyên con mình (Nguyễn Trãi) để gợi nhắc về truyền thống đánh giặc của cha ông, nói về hiện tình của đất nước và kể tội ác của quân xâm lược. Qua đó, tác giả đã thể hiện được những tình cảm:

Lòng tự hào về truyền thống của dân tộc, đấu tranh chống giặc ngoại xâm.

Căm phẫn trước tội ác tàn bạo của kẻ thù: tội ác tày trời của bọn giặc Minh gây ra thảm cảnh núi sông xương máu, gia đình li tán, vợ con chia lìa xiết bao thảm họa xương rừng máu sông…

Nỗi đau đớn khi quê hương bị giặc tàn phá: Đó là nỗi đau đớn vò xé tâm can, những lời thơ như được viết ra từ gan ruột.

Nghệ thuật thể hiện: tác giả sử dụng biện pháp tu từ như ẩn dụ, nhiều hình ảnh, từ ngữ diễn tà cảm xúc mạnh, diễn tả nỗi đau thương. Các từ ngữ như vong quốc, cơ đồ, đất khóc, giời than, nòi giống… đã góp phần nâng tầm vóc của nỗi đau thương này.

d.

Trong phần cuối đoạn thơ, người cha nói đến cái thế bất lực của mình (tuổi già sức yếu, lỡ sa cơ, dành chịu hố tay, thân lươn) và sự nghiệp của tổ tông nhằm mục đích khơi dậy trách nhiệm, ý chí gánh vác non sông của người con, khích lệ để người con nối gót tổ tông làm nên nghiệp lớn.

Bài thơ không mang tính chất hoài cổ mà mượn cổ để nói nay. Khép lại đoạn thơ là hình ảnh ngọn cờ độc lập vừa là của cha ông dặn dò con cháu phải kế tục truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm, vừa là niềm tin vào thế hệ trẻ và tương lai của đất nước.

D. Hoạt động vận dụng

1. Vận dụng kiến thức đã học để làm bài kiểm tả cuối kì

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

Hôm sau lão Hạc sang nhà tôi………… Lão hu hu khóc…

(1) Đoan trích trên tác giả đã kết hợp những phương thức biểu đạt nào?

(2) Nội dung chính của đoạn trích

(3) Từ nào là từ tượng thanh trong các từ sau: ầng ậng, móm mém, hu hu. xót xa, vui vẻ

(4) Tình cảm của nhân vật “tôi” đối với lão Hạc được biểu hiện như thế nào?

(5) Viết đoạn văn (8-10 dòng) nêu cảm nhận của em về nhân vật lão Hạc

(1) Đoan trích trên tác giả đã kết hợp những phương thức biểu đạt: tự sự kết hợp miêu tả biểu cảm

(2) Nội dung chính: tâm trạng của lão Hạc xung quanh việc bán chó

(3) Từ tượng thanh: hu hu. xót xa, vui vẻ

(4) Khi nghe lão Hạc kể chuyện, “ông giáo” ái ngại cho tình cảnh của lão. Ông đồng cảm với nỗi đau đớn tột cùng của lão khi phải nuốt nước mắt bán đi những gì mà bản thân ông trân quý, coi trọng. Nhìn khuôn mặt đau đớn tột cùng ấy, ông nhận ra so với nỗi đau bán sách, nỗi đau của lão Hạc còn gấp bội lần.

(5) Truyện ngắn Lão Hạc của nhà văn Nam Cao là một trong những tác phẩm tiêu biểu thể hiện chân thực nhất về sô phận người nông dân trong xã hội cũ.- nghèo khổ, bần hàn, biến chất…Lão Hạc đại diện cho bộ phận nông dân nghèo, bị đè nén, tài sản chả có gi, luôn sống cô đơn sợ sệt. Số phận của Lão bế tắc, cay nghiệt quá đến mức lão phải tự tìm đến cái chết- một cái chết quằn quại, đau đớn chả khác nào một con chó dính bả. Nhân vật Binh Tư lại đại diện cho tầng lớp nghèo khổ quá đến mức biến chất, việc gi cũng làm, bất chấp mọi việc để có tiền. Số phận của hai người họ, chính là số phận của những người nông dân trong xã hội cũ. Những số phận khiến người xem không thể không xót xa, thương cảm. Thương thay con người dù có tốt đẹp đến đâu cũng đều phải quỵ ngã trước cái xã hội đầy bất công, oan trái này

Phần 2: Tạo lập văn bản

Học sinh chọn một trong hai đề bài sau:

Đề 1: Câu chuyện về một con vật nuôi có nghĩa có tình

Đề 2: Thuyết minh về một loài hoa em yêu thích

……………………………………..

Ngữ Văn Lớp 8: Soạn Bài Muốn Làm Thằng Cuội Của Tản Đà

Ngữ văn lớp 8: Soạn bài Muốn làm thằng Cuội của Tản Đà

Soạn bài Muốn làm thằng Cuội của Tản Đà

– Nhà thơ muốn làm thằng Cuội, lên chơi cung trăng cùng với chị Hằng là vì ông buồn, chán cuộc sống nơi trần thế, thích làm bạn cùng gió, cùng mây.

“Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!

Trần thế em đây chán nửa rồi”.

– Nhà thơ nói chuyện muốn lên chơi trăng, nhưng thực ra ông muốn giãi bày tâm sự của mình:

+ Cái buồn, chán ở đây là có thực trong tâm trạng của Tản Đà.

+ Khi đó cuộc sống có nhiều điều đáng buồn chán, nhất là đối với một tâm hồn thi sĩ như ông.

+ Đất nước không có chủ quyền, những kẻ hãnh tiến thi nhau ganh đua, bon chen mà quên đi nỗi nhục mất nước.

+ Mặt khác, ông buồn vì mình là người tài hoa nhưng số phận nhiều rủi ro, lận đận trong đường đời.

+ Vì không đủ sức để thay đổi hiện thực bi kịch ấy nên ông muốn thoát ra khỏi nó, muốn làm thằng Cuội lên chơi trăng.

Câu 2. Có nhận xét, Tản Đà là một hồn thơ “ngông”. Em hiểu “ngông” nghĩa là gì? Hãy phân tích cái “ngông” của Tản Đà trong ước muốn được làm thằng Cuội.

Tản Đà với cá tính sống mà dường như nằm giữa cõi mộng và cõi thực, giữa cái tỉnh và cái điên, không giống như một ai như thế. Từ lâu, ông đã được mệnh danh là một hồn thơ “ngông”, vua ngông. Nhưng thực chất của cái ngông đó là gì?

“Thế gian có bác Tản Đà Quê hương thì có, cửa nhà thì không Nửa đời Nam, Bắc, Tây, Đông Bạn bè sum họp, vợ chồng biệt li”.

+ Sống giữa cảnh đất nước lầm than và nhố nhăng thời đó, Tản Đà không phải không đủ sức tạo cho mình một cuộc sống sung túc, thậm chí giàu sang.

+ Tản Đà lánh đục theo trong, tự mình tìm kế sinh nhai để rồi gánh chịu sự túng quẫn suốt một đời, nhất là trong những năm cuối đời.

+ Tản Đà sẵn sàng đánh đổi cái nghèo vật chất để lấy cái giàu tinh thần.

+ Giữa cái ác, Tản Đà tách ra để đi đến cái thiện.

+ Giữa cái xấu, Tản Đà còn có ý thức vươn lên cái đẹp. Đẹp của đất trời. Đẹp của con người. Đẹp của văn chương. Đẹp cả trong cách sống.

Cho nên, đúng là trong cái “ngông” của Tản Đà mà người đời từ lâu đã tinh ý nhận ra để không những không ghét, không khó chịu, lại còn cảm thấy vui, làm quý, bởi ở trong đó, đằng sau đó là nhân cách, là đạo lí làm người, là giá trị nhân bản.

Cái “ngông” của Tản Đà một phần là cá tính tự nhiên, nhưng một phần cũng là do Tản Đà phải tự tạo để phản ứng lại với thứ ô trọc giữa cuộc đời.

(Theo Nguyễn Đình Chú – Thơ văn Tản Đà)

Câu 3. Phân tích hình ảnh cuối bài thơ:

“Tựa nhau trông xuống thế gian cười” Em hiểu cái cười ở đây có nghĩa là gì?

Cái “ngông” của Tản Đà trong bài thơ này tập trung chủ yếu ở hai câu cuối:

“Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám

Tựa nhau trông xuống thế gian cười”.

Ở đây ông tự cho mình là người ở vị trí cao hơn tất cả, còn cuộc sống nơi trần thế chỉ là trần tục, thấp hèn, đáng cười. Ông cười tất cả. Đó chính là cái “ngông” của Tản Đà.

Câu 4. Theo em những yếu tố nghệ thuật nào đã tạo nên sức hấp dẫn của bài thơ?

Bài thơ Muốn làm thằng Cuội là bài thơ độc đáo, thú vị, giọng thơ nhẹ nhành, thanh thoát, chơi vơi. Trí tưởng tượng lại phong phú, kì diệu. Chất mộng ảo, chất ngông thấm đẫm bài thơ.

Yếu tố tạo nên sức hấp dẫn của bài thơ chính là sự tưởng tượng bay bổng của một tâm hồn thi sĩ lãng mạn.

Bài thơ có cái kết thoát li. Một cách nói phong tình tài hoa: “Thơ của ông là chất thơ trong như lọc với những cảnh tượng không rõ rệt, những hình ảnh mờ mờ, ông vẽ những bức tranh tuyệt bút; với những tư tưởng lâng lâng, với những cảm giác mơ mộng, ông làm nên những câu thơ tuyệt mĩ”.

(Thi sĩ Tản Đà – Lê Thanh)

Câu 5. Ý nghĩa.

Tác giả khát khao được sống trong sạch hơn, thanh cao hơn để giữ mãi thiên lương cao đẹp.

Bài thơ tuy có nói đến buồn, đến chán, đến thoát li, nhưng vẫn thấm đượm phong tình… Toàn bài thơ toát lên một tinh thần phủ định thực tại xã hội nửa thực dân, nửa phong kiến xấu xa, mục nát. Sức hấp dẫn của bài thơ chính là sự tưởng tượng bay bổng của một tâm hồn thi sĩ lãng mạng.

Đó là giá trị của bài thơ Muốn làm thằng Cuội.

II. Luyện tập

Câu 1. Nhận xét về phép đối trong 2 câu 3, 4 và 5, 6.

– Phép đối trong 2 câu 3, 4.

Nhà thơ cất tiếng hỏi: Cung quế đã ai ngồi đó chửa?

Nhưng không đợi trả lời, mà là để ngỏ lời:

Cành đa, xin chị nhắc lên chơi.

Phép đối ở đây không phải là sự trao đổi giữa hai người mà chỉ có nhà thơ. “Cung quế…”, “Cành đa” là nơi tượng trưng ở thiên giới, nơi tượng trưng ở trần gian.

– Phép đối trong 2 câu 5, 6.

Phép đối ở đây cũng diễn ra rất tế nhị:

Có bầu có bạn, ca chi tủi, Cùng gió, cùng mây thế mới vui.

+ “Có bầu có bạn” với “cùng gió, cùng mây”.

+ “Can chi tủi” với “thế mới vui”.

Lời thơ tuy có phong tình ỡm ờ một chút mà vẫn không buông thả. Cạnh người đẹp, thi sĩ sẽ thoát khỏi cuộc đời trần thế ngột ngạt, tầm thường. Ở nơi trần thế, thi sĩ cô đơn không có bầu bạn, không có tri âm tri kỉ, điều đó thật tủi cực. Nay lên cung trăng với chị Hằng là tha hồ mở lòng ra “cùng gió, cùng mây” và theo ông “thế mới vui”, nghĩa là giải tỏa được nỗi buồn chán trong lòng.

Phép đối ở những câu thơ trên rất tế nhị, nhẹ nhàng mà vẫn làm nổi bật được sắc thái biểu cảm.

Trong cách nói ở hai câu 5, 6 không có dấu hiệu về ham muốn vật chất tầm thường, chỉ có ý nghĩa trân trọng những giá trị tinh thần cao đẹp.

Câu 2. So sánh ngôn ngữ và giọng điệu ở bài thơ này với bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan ta thấy có những điều rất thú vị:

– Ở bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan, ta thấy giàu nhạc điệu, tạo nên vẻ đài các, trang nhã rất chuẩn của thơ Đường. Nghệ thuật dùng từ và diễn tả tài tình, đọc lên lòng ta có một cảm giác bâng khuâng, một nỗi buồn man mác.

Nhà thơ đã sử dụng thành thạo các từ láy, từ tượng hình, tượng thanh và cách chơi chữ đồng âm trong thơ.

– Ở bài thơ Muốn làm thằng Cuội ta thấy giai điệu thật nhẹ nhàng, thanh thoát, pha chú tình tứ hóm hỉnh, có nét phóng túng, ngông nghênh của một hồn thơ lãng mạn. Lời thơ giản dị, trong sáng, gần với những lời nói thường ngày.

Vần luật vẫn chặt chẽ nhưng không còn là thứ trói buộc hồn thi sĩ, tâm sự cứ tự nhiên tuôn chảy như không hề câu nệ một khuôn sáo nào. Sức hấp dẫn bài thơ chính là ở đó.

Vẫn số câu, số chữ ấy, ý tứ vẫn hàm súc, chất chứa tâm trạng, nhưng nó không mực thước, trang trọng, đăng đối như bài Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan.

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài: Muốn Làm Thằng Cuội – Ngữ Văn 8 Tập 1 trên website Maiphuongus.net. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!