Xem Nhiều 2/2023 #️ Soạn Bài: Lẽ Ghét Thương (Trích Truyện Lục Vân Tiên) – Ngữ Văn 11 Tập 1 # Top 5 Trend | Maiphuongus.net

Xem Nhiều 2/2023 # Soạn Bài: Lẽ Ghét Thương (Trích Truyện Lục Vân Tiên) – Ngữ Văn 11 Tập 1 # Top 5 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài: Lẽ Ghét Thương (Trích Truyện Lục Vân Tiên) – Ngữ Văn 11 Tập 1 mới nhất trên website Maiphuongus.net. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả: Nguyễn Đình Chiểu (1882 – 1888), ông là một người rất tài năng, nhưng do những năm 50 ông bị mù nên đã về quê dạy học ở Gia Định.

2. Tác phẩm

* Hoàn cảnh sáng tác: Truyện Lục Vân Tiên được sáng tác vào khoảng đầu những năm 50 của thế kỉ XIX.

* Thể loại: Tác phẩm Truyện Lục Vân Tiên thuộc thể loại truyện thơ Nôm bác học nhưng mang nhiều tính dân gian.

3. Đoạn trích Lẽ ghét thương

Đoạn trích Lẽ ghét thương là đoạn thơ trích từ câu 473 đến câu 504 của Truyện Lục Vân Tiên, kể lại cuộc đối thoại giữa ông Quán và bốn chàng nho sinh (Vân Tiên, Từ Trực, Trịnh Hâm, Bùi Kiệm) khi họ cùng uống rượu, làm thơ trong quán của ông trước lúc vào trường thi.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

Điểm chung giữa những đời vua mà ông Quán ghét và những con người mà ông Quán thương:

* Những đời vua mà ông Quán ghét: đời Kiệt, đời Trụ, U, Lệ, đời Ngũ bá thời Xuân Thu, đời thúc quý.

* Những con người mà ông Quán thương: đức thánh nhân, thầy Nhan Tử, ông Gia Cát, thầy Đồng Tử, người Nguyên Lượng, ông Hàn Dũ, thầy Liêm, Lạc.

Câu 2:

Cách dùng phép đối và phép điệp ở cặp từ ghét – thương trong đoạn thơ này:

Câu 3:

Dựa vào cảm xúc của tác giả, giải thích câu thơ ở phần đầu đoạn trích:

Vì chưng hay ghét cũng là hay thương

Câu thơ mang tính chất triết lý, đạo đức mà giàu chất trữ tình và dạt dào cảm xúc. Đó là biểu hiện của sự trong sáng, phân minh và sâu sắc trong tâm hồn tác giả.

Thương và ghét là hai tình cảm có mối quan hệ khăng khít với nhau không thể tách rời. Càng yêu thương nhân dân, càng tiếc thương cho những con người tài đức thì tác giả lại càng căm ghét những kẻ hại dân, hại đời.

Tình cảm thương, ghét cứ đan xen nối tiếp nhau, hòa cùng một nhịp với cuộc đời, với nhân dân. Đó chính là tư tưởng tình cảm của Nguyễn Đình Chiểu.

5

/

5

(

1

bình chọn

)

Soạn Bài Lẽ Ghét Thương ( Trích Truyện Lục Vân Tiên)

Ông Quán có dáng dấp của nhà nho, làu thông kinh sử, trải đời bộc trực, yêu ghét phân minh rõ ràng. Ông Quán tiêu biểu cho trí tuệ, tình cảm và tư tưởng của nhân dân Nam Bộ.

– Lẽ ghét: Điểm chung giữa các triều đại: có chung bản chất là sự suy tàn, vua chúa thì luôn đắm say tửu sắc, không chăm lo đến đời sống của dân

+ Đời Trụ, Kiệt: Hoang dâm vô độ.

+ Đời U, Lệ: Đa đoan lắm chuyện rắc rối.

+ Đời Ngũ Bá,Thúc Quý: lộn xộn, chia lìa, chiến tranh liên miên…

Điệp từ Ghét: Tăng sức mạnh cảm xúc, thái độ ghét sâu sắc của tác giả.

– Lẽ thương: Đối tượng thương: Khổng Tử, Nhan Tử, Gia Cát Lượng, Đổng Trọng Thư, Nguyên Lượng (Đào Tiềm, Hàn Dũ, Thầy Liêm, Lạc,… Điểm chung: họ là những bậc tiên hiền, thánh nhân, ngời sáng về tài năng và đạo đức, có chí muốn hành đạo giúp đời, giúp dân, nhưng đều không đạt sở nguyện.

Hai tình cảm ghét thương trong một tâm hồn nhà thơ có mối quan hệ khắng khít với nhau: bởi thương dân thương người có đức nên ông căm ghét những kẻ hại dân hại người. Tóm lại lẽ ghét thương của Nguyễn Đình Chiểu xuất phát từ tình cảm yêu thương nhân dân, mong muốn cho dân được sống yên bình hạnh phúc, những người có tài có đức có điều kiện thể hiện chí nguyện của mình.

Câu 2:

Đoạn trích nổi bật ở phép điệp và phép đối giữa hai từ “ghét” và “thương”. Chính sự đặc sắc đó đã tạo nên giá trị nghệ thuật chính cho bài thơ.

– Bài thơ đã sử dụng phép điệp từ với tần ần số sử dụng lớn: ghét 12 lần = thương 12 lần

Câu 3:

Ý nghĩa của câu “Vì chưng hay ghét cũng là hay thương” đó là thể hiện sự biểu hiện sự trong sáng, phân minh, sâu sắc trong tâm hồn tác giả. Tình cảm ghét thương cùng xuất phát từ một trái tim đa cảm. Thương là cội nguồn của cảm xúc, ghét cũng là từ thương mà ra. Thương và ghét đan cài không thể tách rời. Thương ra thương, ghét ra ghét, không mập mờ lẫn lộn, không nhạt nhòa chung chung. Yêu thương và căm ghét đều đạt đến độ tột cùng. Người ta biết ghét bởi người ta biết thương. Căn nguyên của nỗi ghét là lòng thương, vì thương dân nên mới ghét kẻ hại dân.

Đó là một mối quan hệ khăng khít không thể tách rời. Càng yêu thương nhân dân, tiếc thương những người tài đức lại càng căm ghét những kẻ hại dân hại đời. Tình cảm đó rõ ràng, dứt khoát, nồng nàn, mãnh liệt. Thương ghét đều chân thành, sắc nhọn mà mộc mạc bình dị.

Luyện tập:

Câu thơ trong đoạn trích thể hiện rõ nhất toàn bổ ý nghĩa và tư tưởng của cả đoạn đó là câu: “Vì chưng hay ghét cũng là hay thương” (phân tích thêm câu “Nửa phần lại ghét nữa phần lại thương”).

Căn nguyên của sự ghét là lòng thương, thương chính là gốc. Hai tình cảm đối lập nhưng thực chất là sự thống nhất, bổ sung và hổ trợ cho nhau. Đây chính là mối quan hệ khăng khít không thể tách rời giữa hai tình cảm ghét-thương. Tình cảm đó rõ ràng, dứt khoát, nồng nàn, mãnh liệt. Thương ghét đều chân thành, sắc nhọn mà mộc mạc bình dị. Yêu thương nhất mực, căm ghét đến điều. Tình cảm của con người miền Nam.

chúng tôi

Soạn Văn Mẫu Bài Lẽ Ghét Thương (Trích Truyện Lục Vân Tiên)

3. Phân tích tác phẩm

3.1.Ông quán bàn về lẽ ghét thương.

+ Những điều ông Quan ghét:

– Ông là một người chính nghĩa luôn biết lo cho dân cho nước mở đầu bài ông đã nêu lên quan điểm ghét thương của mình, ông rất ghét những chuyện vu vơ tầm phào không có lợi ích cho dân cho nước, một người phục vụ cho sự nghiệp của dân tộc luôn lấy tinh thần trọng nghia là chính. Hàng loạt những câu thơ tiếp theo ông đã nói về nổi ghét của mình để cho dân chúng lầm than xa chân lỡ bước, để dân nhọc nhằn, những lời ghét của ông đã bộc lộ một chế độ cai trị thối nát, ăn chơi, vô độ hoang dâm tà, không lo gì tới lợi ích của nhân dân. Nguyễn Đình Chiểu là một người rất chính trực ông đã nêu rõ quan điểm của mình, phê phán bọn cai trị thối tha, để khiến dân thường phải chịu những đau khổ, những điều mà ông Quán ghét đó là những gì ảnh hưởng tới lợi ích của nhân dân.

+ Những điều ông Quan thương:

– Ông thương cho dân chúng lầm than, ông thương những bậc hiền tài luôn phải chịu những lận đận ví dụ như Gia Cát Lượng tài trí nhưng không gặp thời vận, Đào Uyên Minh không chịu luồn cúi quan trên lùi về ở ẩn, Nguyễn Trãi cũng như vậy… toàn những người có đức và có tài những đều gặp những đau thương, ông quan thương cho những nhân vật đó, và chính bản thân ông cũng muốn phụng sự cho đất nước rất nhiều những gặp bất hạnh ông đã bị mù và phải lui về dạy học, những người tài chí phải chịu những bất hạnh chua được đóng góp công sức của mình nhiều cho đất nước đây là một mong ước rất chính đáng của những người chính nghĩa.

3.2. Cách dùng phép đối, phép điệp ở cặp từ ghét- thương trong đoạn thơ.

– Tác giả đã rất thành công trong việc nêu ra quan điểm ghét thương của mình mở đầu bài thơ là hàng loạt những lý do mà ông ghét tiếp theo cũng là những câu thơ bộc lộ những niềm xót thương của ông.

– Biện pháp đối bằng nhau đã được tác giả sử dụng nếu 10 câu thơ đầu có 8 câu ghét được tác giả sử dụng thì tiếp theo cũng 8 câu thương cũng được tác giả sử dụng, tác giả ghét vì những tên quan làm hại dân chúng để cho dân chúng đau khổ lầm than, tiếp theo tác giả lại thương cho những vị anh hùng thánh nhân có tài năng nhưng lại phải chịu những đau thương bất hạnh, tác giả cũng đau xót cho chính bản thân mình. Hàng loạt những câu thơ được sử dụng với những ý nghĩa rất rõ dàng qua đây chúng ta thấy được tinh thần vì dân vì nước của ông, một vị anh hùng cao cả của dân tộc luôn vì nước vì dân vì sự nghiệp lớn của đất nước, những phép đối lập và cả những cung bậc cảm xúc dối lập nhau được hiện lên thật đậm nét lòng căm thù của tác giả rất lớn và hững xót thương cũng rất dạt dào cảm xúc.

3.3 Ý nghĩa của câu thơ: Vì chưng hay ghét cũng là đau thương.

– Con người luôn có những cũng bậc cảm xúc riêng, và những luân lý luân thường đó là nỗi ghét và niềm thương xót, một vị anh hùng có tài đức và có tấm lòng yêu thương dân chúng cao cả do có tấm lòng thương dân nên tác giả đã căm ghét những người hại dân, đó là những điều rất bình thường trong một con người có chí khí và khí phách luôn bảo vệ cho lợi ích của nhân dân.

3.4. Đặc sắc nghệ thuật được tác giả sử dụng:

– Tác giả đã sử dụng hàng loạt những điển tích điển cố nhằm nêu cao tinh thần vì dân vì nước những lời lẽ rất rõ dàng và đầy cảm xúc, những câu thơ nói về nỗi ghét thì mang đầy cảm xúc căm giận, những câu thơ về lẽ thương thì cảm xúc lại dạt dào và đầy cảm xúc.

– Tác giả dã rất thành công trong việc sử dụng biện pháp đối trong câu nó làm tăng thêm giá trị nghệ thuật cho tác phẩm.

– Ngôn ngữ mà tác giả sử dụng mang đầy cảm xúc một con người chính nghĩa không trực tiếp đấu tranh để bảo vệ cho nhân dân nhưng những lời văn của ông có giá trị tố cáo sâu sắc.

– Ngôn từ mộc mạc không trau chuốt gần gũi với nhân dân, lời nói và ngôn ngữ trong văn của ông thấm đậm chất dân tộc.

Hướng dẫn soạn văn mẫu Ngữ văn lớp 11 bài Lẽ ghé thương

A. Mục tiêu bài học

– Nhận thức được tình cảm yêu ghét phân minh mãnh liệt và tấm lòng thương dân sâu sắc của NĐC.

– Hiểu được đặc trưng cơ bản của bút pháp trữ tình NĐC: cảm xúc trữ tình_đạo đức nồng đậm, sâu sắc ; vẻ đẹp bình dị, chân chất của ngôn từ.

– Rút ra nhũng bài học đạo đức về tình cảm yêu ghét chính đáng.

a/ Hoàn cảnh sáng tác

– Khoảng đầu những năm 50 của thế kỉ XIX khi ông bị mù về dạy học và chữa bệnh cho dân ở Gia Định.

b/ Thể loại và nội dung

– Thể loại: truyện Nôm bác học nhưng mang nhiều tính chất dân gian

– Nội dung: xoay quanh cuộc xung đột giữa thiện và ác nhằm đề cao tinh thần nhân nghĩa, thể hiện khát vọng lí tưởng của tác giả và nhân dân đương thời về 1 xã hội tốt đẹp

2. Đoạn trích

a/ Đọc

b/ Xuất xứ và nội dung đoạn trích

– Nội dung: kể lại cuộc đối thoại giữa ông Quán và 4 chàng nho sinh (Vân, Tử Trực, Trịnh Hâm, Bùi Kiệm) khi họ cùng uống rượu và làm thơ trong quán của ông trước lúc vào trường thi.

c/ Bố cục

– Phần 1: 6 câu đầu – đối thoại giữa ông Quán và Vân Tiên

– Phần 2: 10 câu tiếp – Lời ông Quán bàn về lẽ ghét

– Phần 3: 14 câu còn lại – Lời ông Quán bàn về lẽ ghét

– Phần 4: 2 câu kết – tấm lòng và tư tưởng của tác giả

II. Đọc hiểu văn bản

Đối thoại giữa ông Quán và Vân Tiên

– Hình tượng ông Quán:

+ Kinh sử đã từng

+ Lòng hằng xót xa

+ Hỏi…phải nói

– Quan niệm thương ghét của ông Quán:

“vì chưng hay ghét cũng là hay thương” – mối quan hệ giữa thương và ghét. Thương là gốc, vì thương mà ghét.

Lời ông Quán bàn về lẽ ghét

– Lời trực tiếp của ông Quán:

+ Ghét việc tầm phào: việc vu vơ, chẳng có nghĩa lí gì, chẳng đâu vào đâu.

+ Ghét vào tận tâm: ghét đến mức tột cùng

– Đối tượng ghét:

+ Đời Kiệt, Trụ: mê dâm, hoang dâm vô độ. Vua Kiệt (cuối đời Hạ), Trụ (cuối đời Thương)cho đào ao rượu, núi thịt, đào hầm để bày trò dâm loạn.

+ Đời U, Lệ: đa đoan, lắm chuyện rắc rối. U, Lệ vương đa đoan (cuối thời Tây Chu) đã sai đốt lửa hiệu trên núi Li Sơn để quân chư hầu tưởng Kinh Đo có biến cùng kéo đến ứng cứu, cốt để người đẹp Bao Tự bật cười, cho người xé lụa cả ngày để Bao Tự nghe.

+ Đời Ngũ bá, thúc quý: lộn xộn, chia lìa, đổ nát, chiến tranh liên miên. 5 vua chư hầu thời Xuân Thu tranh giành ngôi bá chủ gây nên cảnh binh lửa loạn lạc khiến dân lành khốn đốn.

– Nghệ thuật:

+ Điệp từ, điệp ngữ: dân, ghét đời

+ Liệt kê: các triều đại chính quyền Trung Quốc

Lẽ thương của ông Quán

– Đối tượng thương:

+ Khổng Tử: lận đận việc truyền đạo Nho.

+ Nhan Tử: hiếu học, đức độ nhưng chết sớm dở dang.

+ Gia Cát Lượng: có tài mưu lược lớn mà chí nguyện không thành, đến lúc mất đất nước vẫn bị chia ba.

+ Đổng Trọng Thư: có tài đức hơn người mà không được trọng dụng.

+ Nguyên Lượng (Đào Tiềm): cáo thượng, không cầu danh lợi, giỏi thơ văn nhưng phải chịu cảnh sống ẩn dật để giữ gìn khí tiết

+ Hàn Dũ: có tài văn chương chỉ vì dâng biểu can vua đừng quá mê tín đạo Phật mà bị đi đày…

+ Thầy Liêm, Lạc (Chu Đôn Di và Trình Di, Trình Hạo): làm quan nhưng không được tin dùng đành lui về dạy học.

– Nghệ thuật:

+ Điệp từ: thương (8 lần)

+ Liệt kê: bậc thánh nhân có tấm lòng vì dân

Tấm lòng và tư tưởng của tác giả

– Nghệ thuật:

– Cơ sở của 2 tình cảm này xuất phát từ cuộc đời, từ thực tế, từ tình cảm yêu thương nhân dân, mong muốn nhân dân được sống tự do thái bình.

– Soạn văn mẫu Ngữ văn lớp 11 bài Lẽ ghé thương –

Soạn Bài Lẽ Ghét Thương (Trích Truyện Lục Vân Tiên) Trang 48 Sgk Ngữ V

“Ghét” và “thương” vốn là hai trạng thái cảm xúc quen thuộc của con người, cùng soạn bài Lẽ ghét thương trang trang 48 SGK Ngữ văn 11 tập 1 để em hiểu hơn hai trạng thái tưởng như tương phản này thực chất là thống nhất trong tình cảm của mỗi chúng ta.

Soạn bài Lẽ ghét thương (trích truyện Lục Vân Tiên) trang 48 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Soạn bài Lẽ ghét thương, Ngắn 1

Câu 1:– Lẽ ghét: Điểm chung giữa các triều đại: có chung bản chất là sự suy tàn, vua chúa thì luôn đắm say tửu sắc, không chăm lo đến đời sống của dân.⟹ Cơ sở của lẽ ghét: thái độ của ông Quán vì dân. Luôn đứng về phía nhân dân.– Lẽ thương: những bậc tiên hiền, thánh nhân, ngời sáng về tài năng và đạo đức, có chí muốn hành đạo giúp đời, giúp dân, nhưng đều không đạt sở nguyện.⟹ Cơ sở của tình cảm thương : Xuất phát từ tấm lòng thương dân sâu nặng, mong muốn cho dân được sống yên bình, hạnh phúc, người tài đức sẽ thực hiện được lí tưởng.Tóm lại lẽ ghét thương của Nguyễn Đình Chiểu xuất phát từ tình cảm yêu thương nhân dân, mong muốn cho dân được sống yên bình hạnh phúc, những người có tài có đức có điều kiện thể hiện chí nguyện của mình.Câu 2:– Bài thơ đã sử dụng phép điệp từ với tần ần số sử dụng lớn: ghét 12 lần = thương 12 lần. Từ đó biểu hiện sự trong sáng phân minh, sâu sắc trong tâm hồn tác giả. Thương là cội nguồn cảm xúc, ghét cũng từ thương mà ra.– Biệp pháp đối: Ghét ghét đối lập với thương thương; Hay ghét đối lập với hay thương; Thương ghét đối lập với ghét thương; lại ghét đối lập với lại thương.⟹ Trong trái tim tác giả, ghét và thương rành rọt, không mập mờ, lẫn lộn và đều sâu nặng, không nhạt nhòa, chung chung.Câu 3:Ý nghĩa của câu “Vì chưng hay ghét cũng là hay thương” đó là thể hiện sự biểu hiện sự trong sáng, phân minh, sâu sắc trong tâm hồn tác giả. Đó là một mối quan hệ khăng khít không thể tách rời. Càng yêu thương nhân dân, tiếc thương những người tài đức lại càng căm ghét những kẻ hại dân hại đời. Tình cảm đó rõ ràng, dứt khoát, nồng nàn, mãnh liệt. Thương ghét đều chân thành, sắc nhọn mà mộc mạc bình dị.

Câu thơ trong đoạn trích thể hiện rõ nhất toàn bổ ý nghĩa và tư tưởng của cả đoạn đó là câu: “Vì chưng hay ghét cũng là hay thương” . Căn nguyên của sự ghét là lòng thương, thương chính là gốc. Hai tình cảm đối lập nhưng thực chất là sự thống nhất, bổ sung và hổ trợ cho nhau.

Xem trước và xem lại các bài học gần đây để học tốt Ngữ Văn lớp 11 hơn

– Soạn bài Luyện tập thao tác lập luận phân tích– Soạn bài Chạy giặc– Soạn bài Bài ca phong cảnh Hương Sơn

Soạn bài Lẽ ghét thương, Ngắn 2

I. Vài nét về tác phẩm

1. Tác phẩm Lục Vân Tiên– Hoàn cảnh sáng tác: Khoảng đầu những năm 50 của thế kỉ XIX.– Thể loại: Truyện thơ Nôm bác học nhưng mang nhiều tính dân gian.– Nội dung: Cốt truyện xoay quanh cuộc xung đột giữa thiện và ác, nhằm đề cao tinh thần nhân nghĩa, thể hiện khát vọng lí tưởng của tác giả và nhân dân đương thời về một xã hội tốt đẹp, ở đó mối quan hệ giữa con người với con người đều thấm đượm tình cảm yêu thương, nhân ái.2. Đoạn trích Ghét lẽ thương là đoạn thơ trích từ câu 473 đến câu 504 của truyện Lục Vân Tiên, kể lại cuộc đối thoại giữa ông Quán và bốn chàng nho sinh (Vân Tiên, Từ Trực, Trịnh Hâm, Bùi Kiệm) khi họ cùng uống rượu, làm thơ trong quán của ông trước lúc vào trường thi.

II. Hướng dẫn soạn bài

II. Luyện tập

(trang 48 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1): Theo anh (chị) …Câu thơ thâu tóm toàn bộ ý nghĩa tư tưởng và tình cảm của đoạn trích là câu:Vì chưng hay ghét cũng là hay thươngBởi thương và ghét là hai tình cảm có mối quan hệ khăng khít, không thể tách rời trong tâm hồn nhà thơ. Bởi càng thương thì càng ghét. Tình cảm ghét và thương cứ đan xen, nối tiếp nhau. Ghét suy cho cùng cũng chỉ là một biểu hiện khác của tình yêu thương.

Soạn bài Lẽ ghét thương, Ngắn 3

– Những điều ông Quán ghét:

Ghét việc tầm phào, ghét đời Kiệt, trụ mê dâm, ghét đời U, Lệ đa đoan, ghét đời Ngũ Bá phân vân, ghét đời thúc quý phân băng

– Những điều ông Quán thương: Ông thương đức thánh nhân, thương thầy Nhan Tử, thương Gia Cát Lượng, thương Đồng Tử, Nguyên Lượng, Hàn Dũ, thầy Liêm, Lạc,… những bậc hiền tài chính nhân quân tử trong xã hội.

– Cơ sở của lẽ ghét thương:

Nguồn gốc của cái ghét chính là tấm lòng yêu nước thương dân, ông ghét những kẻ đẩy nhân dân vào cảnh lầm than, cơ cực.

Ông tiếc thương những bậc hiền tài cũng là sự tiếc thương cho cuộc đời

⇒ Ông đã tìm thấy bóng dáng của bản thân thông qua những hình ảnh đó: cũng ước mơ khát khao cống hiến cho nhân dân nhưng lại phải chịu cảnh bất hạnh.

Câu 2: Nhận xét về cách dùng phép đối và điệp ngữ ở các cặp từ ghét, thương trong đoạn thơ:

“Ghét” và “thương” được đặt sóng đôi, lặp lại 12 lần trong bài thơ

⇒ Cho thấy sự yêu ghét rành rọi trong tình cảm của tác giả. Với Nguyễn Đình Chiểu “thương” và “ghét” là những tình cảm hết sức sâu nặng, không mập mờ chung chung.

Câu 3: Giải thích câu thơ: Vì chưng hay ghét cũng là hay thương

“Thương” và “ghét” là hai tình cảm có mối quan hệ gắn bó khăng khít không thể tách rời.

Chính vì thương trước cảnh nhân dân phải chịu cảnh lầm than cực khổ mà ông căm ghét những kẻ làm hại dân, đẩy nhân dân vào cảnh lầm than.

⇒ Qua đây cho ta thấy tấm lòng thương dân sâu sắc của Nguyễn Đình Chiểu

Tìm hiểu chi tiết nội dung phần Thương vợ để học tốt môn Ngữ Văn lớp 11 hơn.

https://thuthuat.taimienphi.vn/soan-bai-le-ghet-thuong-trich-truyen-luc-van-tien-37702n.aspx

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài: Lẽ Ghét Thương (Trích Truyện Lục Vân Tiên) – Ngữ Văn 11 Tập 1 trên website Maiphuongus.net. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!