Xem Nhiều 12/2022 #️ Soạn Bài Hạnh Phúc Của Một Tang Gia Trang 122 Sgk Ngữ Văn 11 / 2023 # Top 21 Trend | Maiphuongus.net

Xem Nhiều 12/2022 # Soạn Bài Hạnh Phúc Của Một Tang Gia Trang 122 Sgk Ngữ Văn 11 / 2023 # Top 21 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài Hạnh Phúc Của Một Tang Gia Trang 122 Sgk Ngữ Văn 11 / 2023 mới nhất trên website Maiphuongus.net. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Soạn bài Hạnh phúc của một tang gia trang 122 SGK Ngữ Văn 11

Vũ Trọng Phụng (1912 – 1939) quê ở làng Hảo (Bần Yên Nhân), huyện Mỹ Hào, tỉnh Hư­ng Yên, nh­ưng ông sinh ra, lớn lên và mất ở Hà Nội. Ông viết văn sớm, có truyện đăng báo từ 1930. Vũ Trọng Phụng viết nhiều thể loại như­ng nổi tiếng với hai thể tiểu thuyết và phóng sự

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN

Vũ Trọng Phụng (1912 – 1939) quê ở làng Hảo (Bần Yên Nhân), huyện Mỹ Hào, tỉnh Hư­ng Yên, nh­ưng ông sinh ra, lớn lên và mất ở Hà Nội. Ông viết văn sớm, có truyện đăng báo từ 1930. Vũ Trọng Phụng viết nhiều thể loại như­ng nổi tiếng với hai thể tiểu thuyết và phóng sự

Tác phẩm của Vũ Trọng Phụng tập trung vạch trần những ung nhọt thối tha trong xã hội Việt nam những năm ba m­ươi. Những lố lăng, kệch cỡm của lối sống Âu hoá nửa vời, những sản phẩm nhục nhã của văn hoá nô dịch đã đ­ược ghi nhận bằng một ngòi bút sắc sảo, cay nghiệt và đanh đá. Phóng sự, tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng thể hiện thái độ gay gắt của ông với xã hội đương thời. Vì lao động quá sức, nhà văn đã mắc bệnh lao và mất khi còn rất trẻ, lúc mới 27 tuổi.

Số đỏ là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Vũ Trọng Phụng. Tác phẩm là một vở đại hài kịch nhiều màn phản ánh chi tiết một Tấn trò đời. Mỗi ch­ương là một tiếng cư­ời sâu cay của tác giả ném vào mặt xã hội đương thời.

Đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia thuộc ch­ương XV của tác phẩm. Qua miêu tả một đám tang, nhà văn đã vạch trần thói đạo đức giả của một đại gia đình bất hiếu, từ đó phản ánh sự xuống cấp của đạo đức xã hội. Tính chất trào phúng của đoạn trích thể hiện :

+ Tình huống đầy mâu thuẫn: tang gia hạnh phúc. Cái chết của cụ tổ làm cho đám con cháu sung s­ướng. Niềm hạnh phúc lớn nhất, lâu bền nhất và chung nhất mà cái chết cụ Tổ mang lại cho mọi thành viên trong gia đình là được thừa hưởng tài sản. Thản nhiên khi miêu tả đám tang, nhà văn đã ném vào cái “xã hội chó đểu” những lời chửi cay nghiệt nhất.

+ Đám tang rất to, đầy đủ như­ng xô bồ, láo nháo, con cháu và ng­ười đi đưa đều chẳng chú ý gì đến ng­ười chết.

Qua đám tang nhà văn đã khái quát bộ mặt của xã hội Việt Nam trong một giai đoạn vô cùng phức tạp, giai đoạn có sự chuyển đổi mạnh mẽ về nhiều mặt do có sự giao lưu với văn hoá phương Tây. Vũ Trọng Phụng đã ghi lại một cách chi tiết và chân thực hiện thực xã hội qua đó thể hiện thái độ phản ứng gay gắt của nhà văn đối với những biểu hiện tiêu cực của xã hội đương thời.

II. SOẠN BÀI 1. Tóm tắt nội dung đoạn trích:

Đoạn 1: Cái chết của cụ già và những người có công lớn nhất gây ra cái chết ấy là Xuân tóc đỏ. Tác giả tái hiện lại quá trình chạy chữa để giải thích nguyên nhân cái chết của ông cụ. Nhữ ng bài thuốc khủng khiếp của các ông lang và sự bối rối của cụ cố Hồng khi cha chết cũng được nhà văn chu ý miêu tả trong đoạn này.

Đoạn 2: Đám con cháu vô cùng hạnh phúc trước cái chết của cụ Tổ vì họ đã phải chờ đợi quá lâu. Họ vô cùng sốt ruột vì việc chuẩn bị nghi lễ được tién hành quá chậm chạp. Mỗi người một tính toán, một niềm hạnh phúc riêng nên họ háo hức chờ đợi đám tang.

Đoạn 3: Tác giả tập trung miêu tả cảnh đám tang. Đặc biệt chú ý đến những người được hưởng hạnh phúc từ đám tang này, từ người được thuê trông coi, khách dự đám đến cô Tuyết và đám con cháu. Nổi bật nhất trong đám tang là cô Tuyết với phục tang mang tên Ngây thơ. Đám tang được tổ chức linh đình. Xuân xuất hiện vào giờ chót khiến cụ bà và Tuyết rất cảm động.

Đoạn 4: Cảnh đưa tang. Đám tang được giễu qua các phố, đi đến đâu làm nhốn nháo đến đó. Những người tham gia đám tang đều rất thời trang, họ thì thầm những câu chuyện đang là mốt của thời thượng, họ tántỉnh, chim chute nhau.

Đoạn 5: Cảnh hạ huyệt. Cậu Tú Tân say sưa chụp ảnh. Cụ cố Hồng cố tỏ vẻ đau khổ, ông Phán vừa khóc than thảm thiết vừa lén trả tiền công cho Xuân vì Xuân đã gây ra cái chết của ông cụ.

Niềm hạnh phúc chung mà cái chết cụ Tổ mang lại cho mọi thành viên trong gia đình là được thừa hưởng tài sản. Họ được chia tài sản và ai cũng được phần. Ngoài ra, cả người trong gia đình và những người ngoài gia đình đều được hưởng một niềm hạnh phúc riêng.

Trong gia đình:

Cụ cố Hồng, con trai của người chết thì hạnh phúc vì được mặc áo xô gai, chống gậy lụ khụ, để mọi người nhìn vào cụ mà trầm trồ. Đợi phát phục, cụ “nhắm nghiền mắt lại để mơ màng cái lúc cụ mặc đồ xô gai…”.

Đám con cháu thì được thể hiện tài hoặc được diện những bộ đồ tang thời trang nhất mà họ vừa sáng tạo ra để khai hoá văn minh. Đứng đầu là Văn Minh, cháu đích tôn của người chết.

Đám cháu gái, cháu dâu thì hạnh phúc vì được mặc những bộ đồ xô gai thời trang, được khoe mình còn “một nửa chữ trinh” với những người đến đưa tang.

Cậu Tú Tân, cháu nội người chết, thì sung sướng vì được trổ tài chụp ảnh.

Nhà văn nhận xét: “… một bầy con cháu chí hiếu chỉ nóng ruột đem chôn cho chóng cái xác chết của cụ Tổ”. Chúng đúng là “một bầy” thú chứ không phải con người. Chắc phải chứng kiến những điều ngang tai trái mắt lắm nhà văn mới có cái nhìn và thái độ cay nghiệt như vậy.

Ngoài gia đình:

Trước hết là nhà chức trách – hai viên cảnh sát thuộc bộ thứ 18 là Min Đơ và Min Toa, “Giữa lúc không có ai đáng phạt mà phạt, đương buồn rầu như nhà buôn sắp vỡ nợ, mấy ông cảnh binh này được có đám thuê thì sung sướng cực điểm…”. Những ông bạn của cụ cố Hồng, ngực đầy huân chương đến dự đám tang thì “ai nấy đều cảm động hơn những khi nghe tiếng kèn xuân nữ ai oán não nùng” khi “trông thấy làn da trắng thập thò trong làn áo voan trên cánh tay và ngực Tuyết”. Bộ mặt của xã hội được đại diện bởi những gia đình như thế, những người cầm quyền như thế. Những kẻ đi đưa đám thì tranh thủ chim chuột nhau, bình phẩm nhau. Cả một đám ma to, danh giá, không có lấy một người đau đớn hay buồn bã khi nghĩ đến người chết. Xuân Tóc Đỏ được hưởng nhiều hạnh phúc nhất: được thưởng tiền, được gia đình cụ cố Hồng biết ơn và nhất là được danh giá, nổi tiếng hơn.

3. Khi miêu tả đám tang, tác giả đã kết hợp đầy dụng ý giữa tả cận cảnh và toàn cảnh.

Nhà văn đã lặp lại điệp húc “Đám cứ đi…”. Điệp khúc này có ý nghĩa châm biếm, hài hước. Một đám ma hỗn độn và hài hước, pha tạp đủ thứ, học đòi đủ kiểu để khoe khoang. Xe chở người chết cứ đi, người đưa cứ chim chuột nhau, con cháu cứ hưởng thụ niềm hạnh phúc sung sướng của mình. Mỗi người một tâm lí, một mục đích khác nhau, hội tụ lại để thực hiện “nghĩa tử là nghĩa tận” với người chết. Điểm nổi bật nhất và chung nhất của đám người này là sự giả dối, thói đạo đức giả.

4. Lời văn trong đoạn trích đậm tính chất trào phúng, từ cách miêu tả đến cách đặt tên đồ vật, lối so sánh ví von, cách tạo giọng văn… Ví dụ: cảnh sát thất nghiệp “buồn như nhà buôn vỡ nợ”, Hai ông lang “từ chối chạy chữa cũng như cá vị danh y biết tự trọng”, thuốc chữa bệnh thì “công hiệu đến nỗi họ mất mạng”, “Cái chết kia đã làm cho nhiều người sung sướng lắm”, “Thật là một đám ma to tát mà có thể làm cho…”

Cách đặt tên gọi nhân vật, đồ vật cũng rất hài hước: ông TYPN, Minđơ, Mintoa, lợn quay đi lọng, lốc bốc xoảng…

Tác giả đặc biệt chú ý miêu tả các chi tiết hài hước, dùng những câu văn miêu tả đầy tính châm biếm để đả kích, bóc trần bộ mặt đạo đức gia dối của đám con cháu đại bất hiếu và những kẻ đi đưa vô tình. Ví dụ: Những ông bạn thân của cụ cố Hồng… đều cảm động hơn khi nghe tiếng kèn xuân nữ ai oán, não nùng; Sư cụ Tăng Phú thì sung sướng và vênh váo… là cuộc đắc thắng đầu tiên của báo Gõ mõ vậy…

5. Qua đoạn trích, tác giả đã tập trung phê phán thói đạo đức giả của một lopws người trong xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX. Đó là thói hám danh, hám lợi, thói hợm hĩnh… Cảnh đám tang là một màn bi hài kịch. Nó gợi noĩi chua xót, cay đắng cho sự xuống cấp trầm trọng về đạo đức, nhất là đạo đức gia đình. Từ đầu đến cuối tác phẩm là tiếng cười châm biếm, chế giễu, một kiểu chế giễu rất cay độc của nhà văn đối với những kẻ học đòi một cách vô học.

III. TƯ LIỆU THAM KHẢO

1. Về tác giả

… “Sáng tác và thế giới quan Vũ Trọng Phụng khác phức tạp và có nhiều mâu thuẫn. Cuộc sống nghèo khổ bị hắt hủi, có thời kỳ ít nhiều chịu ảnh hưởng cách mạng, khiến Vũ Trọng Phụng rất căm ghét cái xã hội thực dân phong kiến đầy bất công, thối nát đương thời, do đó ông đã dựng lên nhiều bức tranh xã hội sinh động bằng ngoài bút đả kích sắc sảo. Nhưng sống trong cái môi trường chật hẹp, toàn những cái xấu xa đồi bại ở thành thị, xa cách nhân dân lao động, Vũ Trọng Phụng thiếu một căn bản nhân đạo vững vàng, dễ tiếp thu ảnh hưởng của những tư tưởng tiêu cực. Vì vậy, bên cạnh những giá trị hiện thực có sức mạnh tố cáo hiển nhiên, tác phẩm Vũ Trọng Phụng có nhiều hạn chế, nhiều chênh lệch nặng nề. Chính mặt yếu này là cơ sở cho những yếu tố tự nhiên chủ nghĩa đậm nét trong nhiều sáng tác của Vũ Trọng Phụng, nhất là những tác phẩm đề cập đến cái “dâm” ( Làm đĩ, Lục xì). ở đó Vũ Trọng Phụng đã xa rời chủ nghĩa hiện thực và rơi vào thứ văn học tự nhiên chủ nghĩa”.

Nguyễn Hoành Khung

( Từ điển văn học, tập 2, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1984)

… “Trong văn chương, tôi không bao giờ tin rằng có một cái tài nào đó chỉ nhờ biết đặt câu, dùng từ cho khéo, biến quan sát và mô tả sự vật cho tinh mà có thể tạo nên được những tác phẩm có giá trị thật sự. Văn học là tâm huyết, là thứ tư tưởng- nhiệt tình tự nó hiện hình thành những nhân vật đầy sức sống, tự nó đẻ ra những chữ có góc có cạnh, có hình, có khối, có hơi thở phập phồng trên trang giấy.

Ở Vũ Trọng Phụng, cái tư tưởng- nhiệt tình ấy là gì?

Ấy là cái niềm căm thù mãnh liệt đối với xã hội độc ác, bất công, vô lý và “chó đểu” thời thuộc Pháp và khát vọng muốn đập phá tan tành nó đi để xây dựng một xã hội công bằng hơn, có nghĩa lý hơn.

Muốn đánh giá được niềm căm thù này cần tìm hiểu tình hình tâm lý xã hội của tầng lớn thanh niên trí thức tiểu tư sản những năm 30 và số phận bế tắc đến bi thảm của Vũ Trọng Phụng, đồng thời đặt nhà văn vào cái môi trường sống cụ thể của ông, một trong những trung tâm buôn bán và ăn chơi trụy lạc của Hà Nội cũ (phố Hàng Bạc kề bên Sầm Công, Mã Mây, Hàng Buồm…). Người thanh niên ấy, đúng vào lúc ý thức được giá trị và vai trò của cá nhân mình trong cuộc đời nhờ ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, thì đồng thời cũng nhận ra rằng mọi ngả đường sự nghiệp, công danh đều bị chặn lại một cách tàn nhẫn. Sức mạnh thô bỉ của thằng thực dân và cũng đồng tiền làm chủ tất cả.

Nếu không thể lao vào bão táp cách mạng thì mọi con đường của người thanh niên muốn tìm đến vinh quang bằng đạo đức, tài năng và lao động đều không được chấp nhận. Một xã hội như vậy đẻ ra vô vàn những kẻ thờ bạo lực và đồng tiền, chúng biến xã hội thành một thứ sân khấu đại hài kịch để đóng những vai thật là nhố nhăng, bỉ ổi mà Vũ Trọng Phụng gọi là “chó đểu”, hay “vô nghĩa lý”…

… Vâng, có thể nói như thế: niềm căm thù mãnh liệt đối với xã hội thực dân, tư sản tàn ác, lố bịch, đểu giả, thối nát, đó là tất cả tài năng của Vũ Trọng Phụng…”.

Nguyễn Đăng Mạnh

( Vũ Trọng Phụng và niềm căm uất không nguôi.

Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, Sđd, tr.105-107)

2. Về tác phẩm

… “Muốn đánh giá đúng một tác phẩm nghệ thuật, phải nắm được đặc điểm thể loại và khuynh hướng, cảm hứng của nó. Số đỏ là một cuốn tiểu thuyết trào phúng được viết theo khuynh hướng hiện thực chủ nghĩa. Về mặt là một cuốn tiểu thuyết trào phúng, thành công của nó là đã gây được một tiếng cười, đúng hơn, một chuỗi cười ròn rã từ đầu đến cuối, thông qua một loạt tình tiết, tình huống hài hước và một loạt chân dung hí họa, biếm họa hết sức độc đáo và sinh động. Về mặt là một tác phẩm hiện thực chủ nghĩa, nó đã phát hiện được một cách chính xác và sâu sắc bản chất và quy luật khách quan của xã hội ở một phương diện quan trọng.

Đặc điểm ấy của tác phẩm đặt ra một mâu thuẫn mà tác giả đã giải quyết được một cách đầy tài nghệ. Mâu thuẫn ấy là, một mặt phải dùng lối cường điệu, phóng đại một cách thoải mái – điều mà bút pháp trào phúng đòi hỏi- để tạo nên những tình huống oái oăm vô lý, những tính cách quái thai, kỳ quặc; mặt khác lại không hề được nói oan nói ức cho bất kỳ cái gì, cho bất kỳ ai mà nó đề cập đến. Mâu thuẫn ấy giải quyết trong một truyện ngắn đã khó, trong một truyện dài càng khó hơn nhiều.”.

Soạn Bài Hạnh Phúc Của Một Tang Gia Trang 122 Sgk Ngữ Văn 11, Tập 1 / 2023

Cùng soạn bài Hạnh phúc của một tang gia để thấy được bức tranh xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX với những bát nháo, hỗn độn và sự xuống cấp nghiêm trọng về mặt đạo đức, vì tiền mà mất đi danh dự, mất đi tình người đã được phản ánh rất rõ nét qua ngòi bút trào phúng bậc thầy của nhà văn Vũ Trọng Phụng.

1. SOẠN BÀI HẠNH PHÚC CỦA MỘT TANG GIA (Trích Số đỏ), ngắn 1

A. KIẾN THỨC CƠ BẢN I. Tác giả:

1. Cuộc đời– Vũ Trọng Phụng (1912-1939) xuất thân trong một gia đình nghèo, quê gốc làng Hảo (Bần Yên Nhân), huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Thân sinh của Vũ Trọng Phụng chuyển lên Hà Nội khoảng đầu thế kỉ XX, làm thợ điện và sớm qua đời vì bệnh lao khi nhà văn mới 7 tháng tuổi.– Vào đời đúng vào thời điểm xã hội Việt Nam đang bị cuốn vào cơn khủng hoảng kinh tế, Vũ Trọng Phụng liên tục bị mất việc, ông đành phải chọn nghề viết báo, viết văn chuyên nghiệp làm kế mưu sinh.– Cuộc sống khốn quẫn, công việc cực nhọc, Vũ Trọng Phụng mắc bệnh lao mà không có điều kiện chạy chữa. Ông qua đời năm 1939 tại Hà Nội khi còn một tuần nữa mới đầy 27 tuổi.

2. Sự nghiệp– Phóng sự: Cạm bẫy người (1933), Kĩ nghệ lấy Tây (1934), Cơm thầy cơm cô (1936), Lục xì (1937)….– Tiểu thuyết: Dứt tình (1934), Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê, Làm đĩ (1936), Lấy nhau vì tình (1937), Trúng số độc đắc (1938)…– Và hàng chục truyện ngắn nổi tiếng khác. Ngoài ra, Vũ Trọng Phụng còn dịch một số vở kịch và tiểu luận khá dài cùng hàng trăm bài phê bình, tiểu luận, bài báo và xã luận.

3. Phong cách– Tác phẩm của Vũ Trọng Phụng được coi là những bức chân dung biếm họa về xã hội hiện thực đương thời. Ông là nhà văn nhiều chất phóng sự nhất, cũng là nhà báo nhiều chất văn chương nhất.– Vũ Trọng Phụng là nhà văn sớm thể hiện nét sắc sảo của một cây bút hiện đại nhưng đồng thời về sự nghiệp sáng tác cũng như thế giới quan cũng bộc lộ những nét phức tạp, đôi khi mâu thuẫn, gây ngộ nhận và tranh cãi qua một thời gian khá dài trong nhiều thế hệ người đọc.– Do chuyên chú xây dựng bức tranh xã hội nên ông rất sở trường xây dựng kiểu nhân vật đám đông.– Ông sử dụng tài tình hai thủ pháp đối lập và cường điệu để làm nổi bật bản chất hiện thực.– Vũ Trọng Phụng dùng tiếng cười để lật tẩy, tạo điều kiện cho công chúng nhận ra bản chất Âu hoá rởm, thể thao rởm, bình dân rởm, nữ quyền rởm mà thực dân Pháp và chế độ phong kiến lúc bấy giờ muốn tạo ra.

2. Xuất xứ– Hạnh phúc của một tang gia chính là chương XV trong tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng xuất bản lần đầu năm 1936. Tên nguyên của chương này trong tiểu thuyết là Hạnh phúc của một tang gia – Văn Minh nữa cũng nói vào – Một đám ma gương mẫu. Nhan đề của đoạn trích là do người biên soạn sách giáo khoa lược bớt.

3. Chủ đích của tác giả– Suốt mười bốn chương đầu, các nhân vật lần lượt xuất hiện với tính cách hoàn chỉnh. Ở chương XV, mượn bối cảnh đám tang, tác giả để cho xuất hiện kiểu “nhân vật đám đông”. Mỗi nhân vật dù chỉ được miêu tả chấm phá vài nét nhưng bản chất lại bộc lộ khá nổi bật.– Chủ trương của tác giả trong chương XV là lật tẩy và vạch trần bản chất nhố nhăng, giả dối, lố bịch, vô đạo đức của bọn người mang danh là thượng lưu, quí phái, văn minh. Thực chất chúng chỉ là những quái thai, cặn bã của xã hội thực dân tự sản thành thị nước ta trước Cách mạng.

4. Ý nghĩa của nhan đề đoạn trích– Lập tức mang tới cho độc giả cảm giác bị hài bởi sự đối lập (tang gia – hạnh phúc).– Nhan đề cũng phần nào giúp người đọc hình dung được thái độ của con người và bản chất của xã hội đương thời.

5. Đặc trưng trào phúng của Vũ Trọng Phụng trong đoạn trích– Nói đến nghệ thuật trào phúng là nói đến các hình thức và thủ pháp gây cười. Những cách thức thông thường mà một cây bút trào phúng sử dụng là tạo sự đối lập, tạo sự phi lí, thúc đẩy kịch tính, kết thúc bất ngờ…– Ngoài việc sử dụng thành công các hình thức và thủ pháp đó, Vũ Trọng Phụng vận dụng rất thành công bút pháp cường điệu cao độ, phóng đại tột cùng; đặc biệt là thủ pháp miêu tả sự thống nhất mà đối lập một cách tinh tế giữa nội tâm và ngoại hiện nhằm phơi bày và lật tẩy bản chất của đối tượng trào phúng.+ Cường điệu: nói quá sự thật để nhấn mạnh chi tiết gây cười.+ Đối lập: phát triển những chi tiết đối lập cùng tồn tại trong một sự vật, con người.+ Mỉa mai: chế giễu, đay nghiến những điều xấu xa bất hợp lí trong cuộc sống.

6. Những chi tiết mang tính chất cường điệu – Câu “Biết rồi khổ lắm nói mãi” được cụ cố Hồng nói 1872 lần.– Một buổi sáng cụ cố Hồng hút hết 60 điếu thuốc phiện…

7. Những chi tiết thể hiện sự đối lập – Cụ cố tổ chết là mọi người sung sướng (tang gia – hạnh phúc).– Quyến rũ một em gái, tố cáo tội hoang dâm của một em gái khác và gây ra cái chết cho ông cụ được coi là “hai cái tội nhỏ, một cái ơn to”.– Sư Tăng Phú “dốc lòng mộ đạo” nhưng coi việc đi hát là “đi dưỡng tinh thần”.– Văn Minh là nhà cách mạng trong phong trào Âu hóa, thể dục thể thao nhưng “không thể thao, thể dục cũng không”…

8. Những chi tiết thể hiện sự mỉa mai – Mời nhiều thầy thuốc để thực hành lí thuyết “nhiều thầy thối ma”.– Những mẫu trang phục trong tiệm Âu hóa “thì có thể ban cho những ai có tang thương đau đớn vì kẻ chết cũng được hưởng chút ít hạnh phúc ở đời”…

9. Cái chết của cụ cố tổ được mọi người mong đợi.– Cái chết của cụ cố tổ đem lại hạnh phúc cho rất nhiều người, kể cả những người trong và ngoài gia đình đó.– Cụ cố Hồng sẽ hãnh diện vì đám ma to.– Văn Minh sẽ được thừa hưởng tài sản.– Cậu Tú Tân sẽ được dịp thể hiện tài năng nhiếp ảnh.– Bà Văn Minh, cô Tuyết,… sẽ được diện những bộ xô gai tân thời, bắt mắt.– Những ông bạn của cụ cố Hồng sẽ được dịp khoe hàng đống huy chương.– Cảnh sát Min Đơ, Min Toa được trả tiền giữ trật tự đám tang.

10. Bản chất của xã hội thượng lưu đương thời – Lố lăng, đồi bại, học đòi một cách xuẩn ngốc.– Mỗi con người trong xã hội đó là một tên hề.– Đạo lí của những kẻ làm con cháu đã hoàn toàn biến chất: chỉ mong cho người đời nhớ đến một “đám ma danh giá” với những đồ kiểu xô gai tân thời, hở hang; sự giàu có, hoành tráng trong việc chụp ảnh, đồ cúng bái… Không một ai thực sự tiếc thương người chết.– Nghĩa cử với người chết chỉ là cái cớ để những người đi dự thể hiện sự “hơn đời” của mình: các cụ ông ngực đầy huân chương, thanh niên chim chuột nhau, bạn bè khoe quần áo nhà cửa mới sắm…– Phong tục tập quán bị huỷ hoại: đám ma là sự kết hợp giữa Tây – Ta – Tàu hổ lốn. Có cả kèn đồng của Tây lẫn nhạc cụ của Tàu, có cả Vòng hoa lẫn “lợn quay đi lọng”…

11. Thế giới nhân vật đặc thù a. Nhân vật Xuân Tóc Đỏ– Đầu tiên là một kẻ lang thang đầu đường xó chợ được bà phó Đoàn cứu vớt đưa về làm việc ở tiệm may Âu hóa của Văn Minh.– Nhờ láu cá mà từ một kẻ vô học, vô lại, Xuân trở thành “nhà cải cách”, “anh hùng cứu quốc”.– Hành vi cử chỉ của Xuân thể hiện hắn là một kẻ lố lăng, bịp bợm, xấu xa đê tiện. Hắn là tổng thể những phẩm chất xấu xa đồi bại của xã hội đương thời.b. Nhân vật bà phó Đoan– Một me Tây to béo, dâm đãng nhưng luôn ra vẻ thiếu nữ trinh trắng.– Thủ tiết với hai đời chồng và được tặng bằng “Tiết hạnh khả phong”.c. Nhân vật ông Văn Minh– Một nhà cải cách bịp bợm, chuyên hô hào những điều viển vông mà bản thân không thực hiện được.– Với thẩm mĩ và văn hóa lố lăng, Văn Minh đã cho thiết kế và lưu hành những bộ trang phục kì quái những tên gọi lạ lùng không kém.d. Nhân vật ông Typn– Chính là người thiết kế ra những bộ quần áo lố lăng như dậy thì, ngây thơ, ỡm ờ…– Cổ xúy mạnh mẽ cho phong trào Âu hóa nhưng lại rất cay cú vì vợ ăn mặc tân thời.– Kẻ sống không thật với chính bản thân mình.

1. Phát biểu suy nghĩ của anh (chị) nghệ thuật trào phúng trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia.Nét đặc sắc về nghệ thuật của tiểu thuyết Số đỏ và cũng là của đoạn trích là chỗ, Vũ Trọng Phụng đã tạo được một tình huống nghệ thuật độc đáo và đã thể hiện tài năng của một nhà văn hiện thực sắc sảo qua nghệ thuật trào phúng bậc thầy đặc biệt là ở tài nghệ siêu việt trong việc luôn tạo ra sự bùng nổ mâu thuẫn dây chuyền nhằm duy trì tiếng cười thường trực với mọi cung bậc gây nên một trận cười dài càng về sau càng hấp dẫn (trong khi tiếng cười trong dân gian thường bật ra nhanh và kết thúc gấp).Tình huống nghệ thuật độc đáoĐoạn trích cũng đã tạo được một tình huống trào phúng thật độc đáo.Đó là cái chết của cụ tổ và thái độ ứng xử của đám con cháu. Cái chết của cụ tổ đã thực sự đem lại niềm vui lớn lao cho cái đại gia đình bất hiếu ấy. Bởi vì, cái chết ấy tựa như một hỉ tín vừa cáo chung một khoảng thời gian dài mong mỏi và chờ đợi vừa mở ra một kỉ nguyên mới – kỉ nguyên thực hành tờ di chúc của người đã khuất, tức là kỉ nguyên chia của và hưởng thụ. Một tình huống nghệ thuật độc đáo, tự nó, mang ý nghĩa của một sự cố đặc biệt, đánh thức những phẩm chất sâu kín của tất cả các nhân vật mà bình thường chúng muốn che giấu. Theo nghĩa đó, cái chết của cụ tổ có giá trị của một sự kiện quan trọng lật tẩy bản chất thực sự của tất cả các thành viên trong gia đình ấy. Nét sắc sảo của ngòi bút Vũ Trọng Phụng là ở chỗ ông miêu tả sự kiện trên tựa như một cú hích làm tất cả quay 180 độ. Ngay sau cái chết của cụ cố tổ, mọi thành viên trong cái đại gia đình thượng lưu, giàu có ấy lập tức vất bỏ các vai diễn về lòng hiếu thảo giả vờ, thái độ tận tuy giả vờ, tâm trạng lo lắng giả vờ để trở về với con người thật của chúng: bận rộn tổ chức đám tang trong niềm háo hức, hoan hỉ với số của nả, tiền bạc mà người chết để lại.Viết về sự đồi bại của con người thông qua thái độ của nó trước cái chết nhưng sử dụng tình huống đám tang là nét khác người và cũng là sở trường của Vũ Trọng Phụng.Đây là tình huống điển hình vì thái độ của con người trước cái chết của đồng loại và người thân thường là thước đo chính xác và chân thực phẩm giá con người. Ban-dắc bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực cũng soi tính cách của các nhân vật thượng lưu và bình dân qua cái chết của lão Gô-ri-ô (Trích đoạn: Đám tang lão Gô-ri-ô)Qua trích đoạn chương XV, tác giả muốn phơi bày bản chất xấu xa của cả hai loại nhân vật: đám người quý phái, thượng lưu và tầng lớp bình dân lưu manh qua đại diện là Xuân Tóc Đỏ.Chất trào phúng trong nhan đềHạnh phúc của một tang gia là nhan đề đã được lược bớt của chương XV trong tác phẩm. Tên đầy đủ do tác giả tự đặt là: Hạnh phúc của một tang gia – Văn Minh nữa cũng nói vào – Một đám ma gương mẫu.Chọn đặt nhan đề Hạnh phúc của một tang gia tác giả đã thu hút ngay từ đầu sự chú ý của người đọc vào một mâu thuẫn mang tính trào phúng. Gia đình có tang mà lại hạnh phúc? Gia đình có người chết mà lại vui vẻ, sung sướng?Nếu quả thật trong thực tế có chuyện trái khoáy, ngược đời đó thì hạnh phúc ở đây chỉ có thể hiểu là hạnh phúc của một gia đình vô phúc, niềm vui ở đây chỉ có thể hiểu là niềm vui của một lũ con cháu đại bất hiếu mà thôi.Câu cửa miệng người ta thường nói tang gia bối rối vốn để chỉ tình cảnh bận rộn, lúng túng, lo lắng, rối bời trước mất mát của một gia đình có tang, thì ở đây tác giả cũng đã dựng lên đúng cảnh bối rối thực sự của cái đại gia đình cụ cố Hồng vào lúc cụ tổ qua đời. Tuy nhiên, toàn bộ sự lo lắng, bận rộn ở đây trong thực chất chỉ là lo làm sao để tổ chức cho thật to, thật linh đình một ngày vui, một đám hội cho mọi thành viên trong gia đình và thiên hạ cùng chúng kiến và thưởng thức một đám ma gương mẫu. Còn bối rối? Thì quả là có bối rối thật. Nhưng là cái bối rối lo làm sao giải quyết cho xong một vài việc còn dang dở đối với một vài thành viên trong gia đình để niềm vui và hạnh phúc do cái chết của cụ tổ đưa lại được thực sự mĩ mãn.Như vậy, nhan đề Hạnh phúc của một tang gia vừa gây sự chú ý bởi tính hài hước, mỉa mai về một sự thật có vẻ ngược đời, trái khoáy nhưng đáng buồn thay lại đang xảy ra trong thực tế; vừa cho người đọc thấy mà suy ngẫm về một vấn đề khác lớn hơn và đáng lo ngại hơn: tâm lí thực dụng tư sản, tâm lí bất chấp tất cả để chạy theo vật chất và đồng tiền trong xã hội thực dân nửa phong kiến lúc bấy giờ đang chà đạp và làm băng hoại những giá trị đạo đức truyền thống từng được coi là thiêng liêng và đáng trân trọng nhất của một xứ sở.Tài nghệ trào phúng qua xây dựng các chân dung biếm hoạ– Chân dung biếm hoạ cá nhânCái chết của cụ cố tổ, như đã phân tích, rõ ràng là một sự kiện đem lại hạnh phúc cho mọi thành viên trong gia đình của cụ. Điều có vẻ như một nghịch lí này, oái ăm thay lại là một sự thực khá mỉa mai và tàn nhẫn khi ta soi vào tâm trạng và hành vi của từng thành viên trong đại gia đình ấy.Ông Phán mọc sừng là thành viên được tác giả nhắc đến đầu tiên trong đám người nhận được tin vui ngay sau cái chết của cụ cố tổ. Cũng không phải ngẫu nhiên cụ cố Hồng lại chọn ông con rể quý hoá ấy là người đầu tiên để nói nhỏ vào tai rằng sẽ chia cho con gái và rể một số tiền là vài ngàn đồng. Vì chính ông (xứng đáng là một đạo diễn tài ba) đã chỉ đạo cho anh chàng diễn viên tài ba là Xuân Tóc Đỏ nói cái câu cần nói cho cái người cần và phải được nghe, là cụ cố tổ. Cái kết quả ngoài cả sự mong đợi của mọi người ấy, xét một cách khách quan thì công lớn thuộc về Xuân nhưng công đầu vẫn phải thuộc về ông vì, thử hỏi, mọi người sẽ còn phải đợi cái chết của ông cụ già đáng chết đến bao giờ nữa, nếu không có ông khôn ngoan đã trù tính trước và cài đặt cái câu: Thưa ngài, Ngài là một người chồng mọc sừng! vào miệng Xuân để Xuân, trong một cơn tức giận chính đáng, nã luôn cái câu nói ấy vào mặt cụ cố tổ?Cho nên, ông xứng đáng là người đầu tiên được hưởng thành quả từ cái chết của cụ tổ và phải là người đầu tiên được nghe cái lời hứa quý hoá của nhạc phụ về món tiền đáng kể kia. Niềm vui của ông đơn giản và khá phàm tục những trải qua các cung bậc đúng với tâm lí của hạng con buôn gặp món bờ: từ ngạc nhiên vì không ngờ giá trị của đội sừng hươu vô hình trên đầu mà lại to đến thế đến tâm trạng hào hứng mơ tưởng một cuộc hợp tác doanh thương hiển hách với Xuân và dâng lên tới đỉnh với niềm phấn khích muốn gặp ngay Xuân để trả nốt năm đồng.Niềm vui của cụ cố Hồng thuộc kiểu hiếu danh mù quáng đến mức ngu xuấn và lố bịch. Đối với nhân vật kì quặc này, ông cụ thân sinh qua đời sẽ là một cơ hội hiếm có để cụ Hồng lên chức cụ cố trước mắt bàn dân thiên hạ mặc dù về tuổi trời, cụ mới ngoài năm mươi! Thế nhưng chỉ cần mơ tưởng đến thời khắc vinh danh ấy cụ sung sướng mê tơi đến mức nhắm nghiền mắt lại rồi mơ màng rồi tưởng tượng ra cái cảnh đau đớn, khổ não của mình cùng lời trầm trồ khen ngợi của đám đông đứng xem đám tang.– Niềm hạnh phúc của Văn Minh, con trai cụ cố Hồng có thể tạm gọi tên là niềm hạnh phúc điển hình của đám con cháu đại bất hiếu nhuốm màu lạnh lùng kiểu Tây phương hạ lưu. Đối với Văn Minh, cái chết của cụ tổ là một nốt son trong lịch sử gia đình. Vì nó chấm dứt cái thời kì chờ đợi sốt ruột và mỏi mòn thực đáng ghét để bước sang kỉ nguyên chia của và hưởng lợi đầy hân hoan! Tâm trạng rộn ràng khiến Văn Minh bấn lên với bao nhiêu sự chen lấn giữa ngôn ngữ pháp đình với ngôn ngữ biểu cảm, tình thái nào luật sư, lí thuyết, thực hành, tố cáo, phạm tội, băn khoăn, phiền, phân vân…Niềm vui của sự cụ Tăng Phú thì lộ hẳn ra ngoài qua vẻ vênh váo ngồi trên một chiếc xe tham gia vào đội quân đưa tang cụ tổ mà như thể đang cùng một đội quân ca khúc khải hoàn và chắc mẩm rằng trong số thiên hạ đúng xem ở các phố thế nào cũng có người nhận ra rằng sự cụ đã đánh đổ được Hội Phật giáo, và như thế thì là một cuộc đắc thắng đầu tiên của báo Gõ mõ mà Tăng Phú giữ vai trò cố vấn.Các thành viên còn lại chỉ thực sự hạnh phúc khi cụ Hồng ra lệnh phát phục. Bởi đám tang cụ tổ là một sự kiện để mỗi người nhân đó có dịp trình diễn cái vai trò của cá nhân mình trước xã hội: bà Văn Minh sẽ trình diễn đồ xô gai thuộc dạng mốt tân thời, Tuyết sẽ trình diễn bộ y phục cũng thuộc dạng mốt tân thời có tên là Ngây thơ để tiện thể cải chính với thiên hạ rằng mình chưa đánh mất cả chữ trinh, cậu Tú Tân sẽ trình diễn tài nghệ chụp ảnh trong đám tang, còn ông TYPN thì sẽ lắng nghe báo giới bình phẩm ra sao về những thiết kế trang phục của hiệu may Âu hoá.– Chân dung biếm hoạ tập thểNiềm hạnh phúc do cái chết của cụ tổ đem lại không chỉ tràn ngập tâm hồn các thành viên trong gia đình cụ cố Hồng mà còn ban phát cho cả nhiều hạng người ngoài xã hội.Đó là niềm vui bỗng lại có công ăn việc làm, tức là được thuê giữ trật tự cho đám ma, đồng nghĩa với, cái mà ngôn ngữ thông tục ngày nay gọi là có lộc của hai cảnh binh thuộc bộ thứ 18 Min Đơ và Min Toa; là niềm vui của những ông bạn thân bạn cụ cố Hồng, nhân dịp đến chia buồn với tang gia mà tiện thể khoe công trạng một đời công chức của họ với đủ loại huân chương như: Bắc Đẩu bội tinh, Long bội tinh, Cao Miên bội tinh, Vạn Tượng bội tinh, vân vân. Tuy nhiên, cái đám đầy đủ râu ria rất đáng kính ấy còn mãn nguyện hơn nữa khi đến chia buồn bỗng lại được hưởng chút niềm vui khá trần tục là thưởng thức cái làn da trắng thập thò trong làn áo voan trên cánh tay và ngực Tuyết.Với đám giai thanh, gái lịch Hà thành, những kẻ không dính líu chút nào về quan hệ bà con, họ hàng với người đã khuất thì niềm vui của họ là được đến đám tang để có cơ hội khoe về chuyện vợ con, về nhà cửa, về một cái tủ mới sắm, một cái áo mới may. Đây cũng là dịp để họ chim nhau, cười tình với nhau, bình phẩm nhau, chê bai nhau, ghen tuông nhau, hẹn hò nhau nữa, tất nhiên.Nhưng người hạnh phúc nhất có lẽ là Xuân dù anh ta có vẻ như không ý thức được điều đó. Cái chết của cụ tổ đem lại cho Xuân hai món hời gồm cả danh dự lẫn tiền bạc. Về danh dự, cái chết của cụ tổ đã khiến cho danh dự của Xuân to thêm. Về tiền bạc, Phán mọc sừng đã lập tức thanh toán hợp đồng giết người ngay trong đám tang!Theo như sở nguyện của hai vợ chồng cụ cố Hồng thì đám ma cụ tổ phải là một đám ma mẫu mực, to tát chưa từng có và cái đại gia đình ấy đã làm được điều đó.Tuy nhiên, đây là một đám tang mẫu mực cho sự biến tướng quái gở trong lối sống của lớp người giàu có mới nổi chỉ còn biết nghe theo tiếng gọi của những thú vui phù phiếm, tầm thường, vô nghĩa lí với bất cứ sự kiện gì cũng có thể tạo thành một cuộc hội hè cho dù có là một đám tang đi nữa.Điệp khúc “đám cử đi” đã biểu lộ cho ai cũng có thể thấy đám tang đích thực là một đám rước, càng đi càng đông, đưa đi đến đâu làm huyên náo đến đây.Về tổ chức, đám tang này theo phong cách hổ lốn!Nhạc điều thì có đủ kèn Ta, kèn Tầu, kèn Tây thay nhau mà rộn lên như thể đua nhau mà tạo tiếng ồn.Phúng viếng lại càng đa tạp, trong cả ra đường hàng trăm câu đối, bức trướng, vòng hoa…Người đưa tiễn kẻ quá cố đông đúc, sang trọng nhưng chen lẫn giữa xe và người. Đã thế lại có đến một nửa là phụ nữ, phần lớn là tân thời. Chính vì thế mà càng ồn ào, huyên náo. Sự huyên náo, hỗn tạp do sự đua chen giữa các kiểu lời: từ thì thầm trò chuyện về vợ con, nhà cửa để khoe một cái tủ mới sắm, một cái áo mới may đến việc chim nhau, cười tình với nhau, hẹn hò nhau bên cạnh những lời bình phẩm nhau, chê bai nhau, ghen tuông nhau lại còn những lời thì thào cùng nhiều câu vui vẻ, ý nhị khác nữa. Tất cả được che giấu qua quýt bằng những vẻ mặt làm ra bộ nghiêm chỉnh hoặc buồn rầu nữa do đó mà giả dối, hài hước, đồi bại và lố lăng phô bày trọn vẹn sự suy đồi phong hoá.Từ niềm hạnh phúc của các nhân vật do cái chết của cụ tổ đem lại và cảnh tượng của cái đám ma gương mẫu có thể thấy, qua sự lật tẩy sắc sảo của nhà văn Vũ Trọng Phụng, xã hội tư sản đương thời thực chất chỉ là sản phẩm quái gở của cơn sốt Âu hoá nông nổi và lố lăng phô bày trọn vẹn bản chất giả dối, suy đồi của nó. Thái độ của nhà văn về cái xã hội tư sản nửa mùa này là khinh bị, nhạo báng một cách cay độc trong một tiếng cười trào phúng mang sức mạnh triệt hạ, huỷ diệt. (Nguyễn Văn Phượng)

Xem tiếp các bài soạn để học tốt môn Ngữ Văn lớp 11

2. SOẠN BÀI HẠNH PHÚC CỦA MỘT TANG GIA (Trích Số đỏ), ngắn 2

Câu 1: Ý nghĩa của cách đặt nhan đề và tình huống trào phúng của đoạn trích.

– Ngay từ nhan đề Hạnh phúc của một tang gia đã chứa đựng trong đó mâu thuẫn của cả tác phẩm. Tang gia là gia đình có tang, có người thân vừa mới qua đời. Nhưng thật nghịch lí, trái lẽ thường, ở đây là tang gia nhưng ai cũng sung sướng, hạnh phúc.

– Trong đoạn trích tác giả cũng dựng nên bối cảnh mỗi người đều có những niềm hạnh phúc riêng thế nên đám con cháu “vui vẻ tưng bừng” chuẩn bị cho đám tang thành thử cả nhà tấp nập vui như tết.

⟹ Nhan đề gợi sự mỉa mai chế diễu, là một tiếng cười đầy chua chát giúp người đọc nhận ra một gia đình bất hiếu.

* Niềm “hạnh phúc” của mọi thành viên trong đại gia đình trước cái chết của cụ cố tổ.

Niềm hạnh phúc chung: tờ di chúc sắp đi vào thực thi, các thành viên sẽ được hưởng lợi ít nhiều từ cái chết của cha, của ông mình.

+ Cụ cố Hồng: mơ màng đến lúc được mặc áo xô gai, lụ khụ chống gậy, vừa ho vừa khạc, vừa khóc mếu để thiên hạ phải khen: Con trai lớn đã già thế kia à ? → điển hình cho lại người ngu đốt, háo danh

+ Ông Phán, cháu rể của cụ cố Tổ, vui vì không ngờ giá trị bị vợ cắm sừng lại có thể là nguyên nhân cái chết của cụ cố Tổ.

+ Ông Văn Minh vui sướng vì sẽ được hưởng lợi từ di chúc. Bà Văn Minh mừng rỡ vì sẽ lăng xê được mẫu quần áo mới trong đám tang.

+ Cô Tuyết: được dịp mặc bộ y phục ngây thơ để cho thiên hạ thấy rằng mình chưa mất hết cả chữ “trinh”

+ Cậu Tú Tân: sướng điên người vì đã sẵn sàng mấy cái máy ảnh mà mãi cậu không dùng đến. Nhờ có cái chết của ông nội Cậu Tú Tân mới có được cơ hội hiếm có để giải trí, phô diễn tài nghệ chụp ảnh của mình.

⇒ Tất cả đám con cháu trong gia đình đều hạnh phúc, sung sướng vì được thêm danh, thêm tiền → đó là một gia đình đại bất hiếu.

* Hình ảnh những người đến đưa tang đám ma cụ cố tổ:

Ai cũng làm ra bộ mặt nghiêm chỉnh, buồn rầu nhưng lại đang bàn bạc đủ mọi chuyện trên trời: chuyện cưới vợ, nhà cửa….

Những ông bạn thân của cụ cố Hồng đi đám tang nhưng “ngực đầy huân chương” như đi lễ hội.

Đi đưa đám là để bình phẩm, chê bai nhau,…

⟶ Hình ảnh thu nhỏ của một xã hội thượng lưu đồi bại, lố lăng, vô văn hóa, vô đạo đức.

Câu 3: Cảnh “đám ma gương mẫu”

+ Theo lối Ta, Tây, Tàu,..

+ Vòng hoa, câu đối, người đi đưa (ba trăm, vài ba trăm…số lượng nhiều, đông)

+ Có mặt của nhiều vị tai to mặt lớn

+ Rất đông nam thanh nữ tú

+ Có nhà sư, báo đài truyền thông…

– Một đám ma hợp thời trang với những đồ tang mốt nhất

– Một đám ma rộn rã tưng bừng

⟶ Đám tang diễn ra như một tấm hài kịch. Đó là dịp để người ta “khoe danh, khoe của, khoe áo, khoe tình”.

– Một đám tang có tất cả để trở thành danh giá nhất, chỉ thiếu một điều đó là nỗi đau buồn, lòng thương xót.

⟶ Bóc trần sự đồi bại, lố lăng của xã hội thượng lưu u hóa nửa vời.

Câu 4: Thái độ của nhà văn về xã hội.

Đả kích, vạch trần một xã hội suy tàn thối nát về nhân cách đạo đức con người thời buổi u hóa. Nơi mà con người bị giá trị của đồng tiền làm mờ mắt. Những danh xưng, vọng tưởng lố lăng trở thành ước muốn và người ta làm mọi cách để đạt được nó.

Câu 5: Nghệ thuật trào phúng đặc sắc được thể hiện trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia.

– Khai thác triệt để mâu thuẫn trào phúng (tang gia mà ai cũng hạnh phúc, đám tang mà như đám hội,…)

– Các thủ pháp cường điệu, nói ngược, mỉa mai,…được dùng linh hoạt

– Tạo được những chi tiết trào phúng đặc sắc, có giá trị (từ tên gọi, hành động, suy nghĩ)

– Những câu văn châm biếm, hài hước.

Ngoài nội dung ở trên, các em có thể tìm hiểu thêm phần Phân tích truyện ngắn Chữ người tử tù nhằm chuẩn bị cho bài học này.

Ngoài ra, Phân tích cảnh phố huyện ngày tàn trong phần đầu truyện ngắn Hai đứa trẻ là một bài học quan trọng trong chương trình Ngữ Văn 8 mà các em cần phải đặc biệt lưu tâm.

https://thuthuat.taimienphi.vn/soan-bai-hanh-phuc-cua-mot-tang-gia-38073n.aspx

Soạn Bài Hạnh Phúc Của Một Tang Gia Sbt Ngữ Văn 11 Tập 1 / 2023

Giải câu 1, 2, 3 trang 96 SBT Ngữ văn 11 tập 1. Tìm một số dẫn chứng tiêu biểu trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia thể hiện nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng.

1. Tìm một số dẫn chứng tiêu biểu trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia thể hiện nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng.

Trả lời:

Anh (chị) có thể tìm các dẫn chứng tiêu biểu thể hiện nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng ở chương này theo các gợi ý sau :

– Từ một tình huống trào phúng cơ bản (hạnh phúc của một gia đình có tang), nhà văn triển khai mâu thuẫn theo nhiều tình huống khác nhau, tạo nên một màn đại hài kịch phong phú và rất biến hoá. Chẳng hạn, cụ cố tổ chết khiến cho mọi người trong đại gia đình bất hiếu này đều hạnh phúc, nhưng mỗi người lại có niềm hạnh phúc riêng, tuỳ theo hoàn cảnh và tính cách của từng người, rất phong phú và đa dạng, từ con cháu trong nhà tới bè bạn của cụ, thậm chí đến cả cảnh sát. Tài năng của Vũ Trọng Phụng chính là ở chỗ đã xây dựng được một loạt chân dung biếm hoạ không ai giống ai.

– Đặc biệt, đoạn tả đám tang đi từ nhà cụ cố Hồng ra đến huyệt rất hài hước. Đám ma mà như đám rước vậy. Đủ cả kèn Ta, kèn Tây, kèn Tàu. Hàng trăm câu đối, vòng hoa, bức trướng. Đây là cơ hội để mọi người khoe khoang. Chú ý câu chuyện của những người đi đưa tang.

2. Anh (chị) nhận xét như thế nào về ý nghĩa của chi tiết “Đám cứ đi…” và những hành động của ông Phán mọc sừng đối với Xuân Tóc Đỏ ở cuối đoạn trích ?

Trả lời:

Chi tiết “Đám cứ đi…” được nhắc đến hai lần, mỗi lần là một dòng riêng như một điệp khúc, có giá trị châm biếm, trào lộng.

Những hành động của ông Phán mọc sừng đối với Xuân Tóc Đỏ ở cuối đoạn trích là những chi tiết trào phúng đặc biệt chua chát góp phần không nhỏ tô đậm sự lố lăng, vô đạo đức của xã hội “thượng lưu” thời đó : “Ông Phán cứ oặt người đi, khoe khóc mãi không thôi”. Nhưng đúng lúc ấy, ông vẫn không quên bí mật dúi vào tay Xuân “một cái giấy bạc năm đồng gấp tư”. (Đây là số tiền ông Phán thanh toán nốt cho Xuân vì trước đó đã thuê hắn tố cáo ông (cháu rể cụ cố tổ, chồng cô Hoàng Hôn) là một người chồng mọc sừng” – nguyên nhân trực tiếp gây nên cái chết của bà cô tổ.

3. Có ý kiến cho rằng, trong đoạn trích, từ cách dùng từ, cách so sánh đến cách đặt câu, dựng đoạn,… đều thể hiện đậm nét chất trào phúng, châm biếm. Anh (chị) có đồng ý với nhận xét đó không ? Vì sao ?

Trả lời:

Trong đoạn trích cách dùng từ, cách so sánh đến cách đặt câu, dựng đoạn,… đều thể hiện đạm nét chất trào phúng, châm biếm :

– Cách đặt nhan đề chương truyện: Hạnh phúc của một tang gia.

– Cách đặt tên nhân vật: Mặc dù, các nhân vật xuất hiện từ những chương trước ; nhưng tên các nhân vật cũng góp phần tạo nên chất trào phúng: Xuân Tóc Đỏ, ông Phán mọc sừng, Typn, ông lang băm Tây, ông lang băm Đông, cụ lang Tì, cụ lang Phế, sư Tăng Phú, sư chùa Bà Banh, cảnh sát Min Đơ, Min Toa,…

– Cách đặt tên đồ vật: báo Gõ mõ, bộ y phục Ngây thơ,…

– Cách so sánh: “hai cụ đã từ chối chạy chữa cũng như những vị danh y biết tự trọng, “buồn rầu như những nhà buôn sắp vỡ nợ”,…

– Cách dùng hình ảnh : “Tuyết mời các quan khách rất nhanh nhẹn, trên mặt lại hơi có một vẻ buồn lãng mạn rất đúng mốt một nhà có đám”, những ông bạn thân của cụ cố Hồng: Hóng “trên mép và cằm đều đủ râu ria, hoặc dài hoặc ngắn, hoặc đen hoặc hung hung, hoặc lún phún hay rầm rậm, loăn quăn”,…

– Cách tạo giọng điệu hài hước : “Thật là một đám ma to tát có thể làm cho người nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng, nếu không gật gù cái đầu…!” Những việc trắc trở như thế đã làm cho ông già hơn tám mươi tuổỉ phải chết một cách bình tĩnh”,…

Tóm lại, Vũ Trong Phụng đã vận dụng nhiều thủ pháp nghệ thuật phong phú để tạo nên chất trào lộng, châm biếm đậm đặc của đoạn trích. Điều này cũng được thể hiện trong toàn bộ tiểu thuyết số đó.

Bài tiếp theo

Soạn Bài Hạnh Phúc Của Một Tang Gia Của Vũ Trọng Phụng / 2023

2. Tóm tắt nội dung bài học

Qua chương “Hạnh phúc của một tang gia”, Vũ Trọng Phụng đã phê phán quyết liệt, đả kích mạnh mẽ bản chất lố lăng đồi bại của xã hội thượng lưu ở thành thị lúc bấy giờ (thành thị những năm trước cách mạng tháng 8/ 1945)

Chân dung các nhân vật tham gia đám tang (gia đình và tất cả những người tham dự đám tang cụ cố tổ)

Cảnh đám ma gương mẫu được tái diễn một cách chi tiết và sâu sắc.

2.2. Nghệ thuật

Bút pháp trào phúng, châm biếm sắc sảo (cường điệu, nói ngược, tình tiết, chi tiết đối lập…)

Xây dựng nhân vật điển hình

3. Soạn bài Hạnh phúc của một tang gia chương trình chuẩn

Câu 1: Hạnh phúc của một tang gia là một phần của nhan đề chương XV tiểu thuyết Số đỏ do chính Vũ Trọng Phụng đặt. Anh (chị) có suy nghĩ gì về nhan đề này và tính huống trào phúng của đoạn trích?

Nhan đề: lạ, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, nghịch lí

Tác giả dùng sự nghịch lí của một hiện tượng trong một gia đình để nói lên cái bản chất đáng lo đáng ngại của cả một lớp người trong xã hội. Một nghịch lí nực cười và đáng thương, đáng giận biết bao.

Tình huống trào phúng trong đoạn trích: Cái chết của cụ cố tổ là điểm khởi nguồn cho mâu thuẫn trào phúng của chương truyện Hạnh phúc một tang gia.

Mâu thuẫn trào phúng được thể hiện ngay nhan đề “Hạnh phúc một tang gia”. Cái chết của cụ cố tổ không để lại sự đau buồn hay thương tiếc nào cho đám con cháu và những người xung quanh. Cái chết ấy đem đến niềm vui sướng tột cùng cho một đám người vô tâm, bỏ quên những giá trị truyền thống của dân tộc.

Chẳng có sự thương tiếc trong một đám tang mà thay vào đó là niềm vui sướng của những kẻ được hưởng gia tài.

Chẳng có sự bối rối của một đám tang bình thường mà thay vào đó là là sự lo lắng, bận rộn đến đáng giận.

Một đám ma to to tát và đình đám không phải là sự an ủi cho người đã khuất mà là sự phô trương vô liêm sỉ của một lớp người dối trá, bịp bợm.

⇒ Nhan đề: vừa gây chú ý cho người đọc, vừa phản ánh đúng một sự thật mỉa mai, hài hước và tàn nhẫn. Và mâu thuẫn trào phúng truyện thể hiện cơ bản qua nhan đề đã thể hiện được dụng ý của nhà văn

Câu 2: Vì sao cái chết của cụ cố tổ lại là niềm “hạnh phúc” của mọi thành viên trong đại gia đình cụ? Phân tích những niềm “hạnh phúc” khác nhau của mỗi người trong đại gia đình cụ cố Hồng và những người đến đưa đám ma do cái chết của cụ cố tổ đem lại.

Cái chết cụ cố tổ đem lại hạnh phúc cho mọi thành viên trong gia đình cụ cố tổ bởi:

Cái chết của cụ là niềm mong đợi bấy lâu của đám con cháu.

Cái chết của cụ gắn với việc tờ di chúc“không còn là lí thuyết viễn vông nữa”

Những niềm hạnh phúc khác nhau của mỗi người trong đại gia đình cụ cố Hồng và những người đến đưa đám ma do cái chết của cụ cố tổ đem lại:

Cụ cố Hồng: mong ước được lên chức cố, tỏ vẻ già nua được thực hiện: nhắm nghiền mắt lại để nghĩ đến lúc mặc áo xô gai, lụ khụ chống gậy vừa ho, vừa khạc vừa khóc mếu máo diễn trò già nua cho thiên hạ trầm trồ ” úi kìa, con giai lớn đã già đến thế kia kìa!”

Nhà Văn Minh: được dịp lăng-xê những mốt y phục táo bạo nhất, bà Văn Minh thì sốt cả ruột vì mãi không được mặc những đồ xô gai tân thời, cái mũ mấn trắng viền đen….

Cô Tuyết: được dịp mặc bộ y phục“ngây thơ” lố lăng và hớ hênh để thể hiện sự trong trắng.

Cậu Tú Tân: sướng điên người vì được dùng cái máy ảnh mới mua, Cậu Tú Tân coi cái chết của ông nội là cơ hội để giải trí để chứng tỏ tài nghệ của mình.

Phán mọc sừng (con rể) vô cùng sung sướng và không ngờ không ngờ đến giá trị của cặp sừng trên đầu của mình, và ông tin chắc rằng mình sẽ được trả công xứng đáng vì cặp sừng ấy đã dẫn đến cái chết của cụ cố tổ, thõa mãn mong ước bấy lâu của rất nhiều người.

Xuân Tóc Đỏ: danh giá và uy tín ngày càng cao hơn vì đã có công tố cáo Phán mọc sừng trước mặt cụ cố tổ

Những người xung quanh: được dịp khoe khoang, phô trương (bạn bè cụ cố Hồng, ông typn, cảnh sát: Min Đơ, Min Toa)

⇒ Mỗi người một niềm hạnh phúc khác nhau; mỗi người mang một vẻ không ai giống ai, điều đó làm cho mâu thuẫn của truyện ngày càng phong phú, ⇒ một lớp người kệch cỡm, lố lăng, đồi bại.

Câu 3: Anh (chị) hãy phân tích cảnh đám ma gương mẫu.

Hình thức nghi lễ:“đám ma to tát có thể làm cho người chết nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng, nếu không gật gù cái đầu”

Có cả Ta, Tây, Tàu hỗn tạp; có vòng hoa, kiệu, lọng, câu đối….

Có số lượng người đưa đám quy mô; đủ mọi tầng lớp

Cảnh đưa đám:

Từ xa: một cái đám ma to tát, đình đám và huyên náo

Cận cảnh: con người thì cười đùa mỗi người một kiểu, mỗi người một mục đích tư lợi riêng: Họ cười đùa, bình phẩm, chê bai, cười tình với nhau….

Đám tang như một đám hội, dòng người cứ mãi tất bật giả dối “đám cứ đi”

Cảnh hạ huyệt:

Phán mọc sừng khóc to“Hứt!..Hứt!…Hứt!…” dúi vào tay Xuân Tóc Đỏ đồng bạc năm đồng gấp tư.

Cụ cố Hồng khóc mếu máo ngất đi

⇒ Đám tang diễn ra như một tấn hài kịch, bóc trần sự kệch cỡm, xấu xa, giả dối. Một đám ma to tát, một xã hội lố lăng và đồi bại, bản chất của sự thật ấn nấp sau vẻ bề ngoài xấu xa đến xót xa.

Câu 4: Từ niềm “hạnh phúc” của các nhân vật do cái chết của cụ cố tổ đem lại và cảnh tượng của cái “đám ma gương mẫu”, anh (chị) nhận xét như thế nào về xã hội “thượng lưu” thành thị đương thời? Thái độ của nhà văn đối với xã hội này ra sao?

Nhận xét về xã hội thượng lưu: nhố nhăng, suy tàn, thối nát, băng hoại những giá trị đạo đức

Thái độ của nhà văn: Phê phán mạnh mẽ bản chất giả dối, bịp bợm của xã hội bấy giờ. Đả kích và châm biếm sâu cay, thâm thúy những thói xấu xa của xã hội. Đồng thời đâu đấy độc giả vẫn cảm nhận rõ sự chua chát trong tiếng cười tưởng chừng như lạnh lùng ấy của Vũ Trọng Phụng.

Câu 5: Anh (chị) nhận xét gì về nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng ở đoạn trích này?

Từ một tình huống trào phúng cơ bản (hạnh phúc của một gia đình có tan) tác giả đã triển khai mâu thuẫn theo nhiều tình huống khác nhau, tạo nên một màn hài kịch, phong phú và biến hóa khôn lường gây nhiều thú vị cho người đọc.

Tác giả sử dụng thủ pháp quen thuộc để gây tiếng cười: phát hiện những chi tiết đối lập gay gắt nhưng cùng tồn tại trong một sự vật, một con người để từ đó làm bật lên tiếng cười châm biếm.

Ngoài ra, tác giả còn sử dụng nhiều thủ pháp cường điệu: nói ngược, nói mỉa mai… được sử dụng một cách linh hoạt (Chẳng hạn, cái chết của cụ tổ khiến mọi người trong cái đại gia đình bất hiếu không ai giống ai. Đặc biệt, đám rước đưa ma được tổ chức nhố nhăng, lố bịch và nó trở thành cơ hội tốt để mọi người gặp gỡ, giao lưu, phô trương thanh thế và cười cợt, nói xấu, nói mỉa nhau…)

Vũ Trọng Phụng đã dụng công để xây dựng nên một số nhân vật điển hình. Chẳng hạn: Xuân Tóc Đỏ với bản chất của một tên đểu cán đại diện cho những tên ma cà bông, vô học, vô lại,…

4. Soạn bài Hạnh phúc của một tang gia chương trình Nâng cao

Câu 1: Hãy tóm tắt nội dung từng đoạn đã được đánh số. Câu 2: Mâu thuẫn trào phúng cơ bản được thể hiện qua đoạn trích là gì? Mâu thuẫn ấy được thể hiện qua nhan để đoạn trích ra sao? Hãy chỉ ra “hạnh phúc” riêng của mỗi nhân vật trong “hạnh phúc” chung của tang gia và ý nghĩa trào phúng toát ra từ đấy.

Đoạn 1: Cụ cố tổ hơn 80 tuổi chết.

Đoạn 2: Sự sung sướng của các thành viên trong gia đình khi ông cụ cố tổ chết thật.

Đoạn 3: Lễ cất đám được tiến hành theo lối Ta, Tàu, Tây cùng những màn phô diễn thời trang của các thành viên trong gia đình khi đưa tang.

Đoạn 4: Hình ảnh đám ma làm huyên náo cả một thành phố.

Đoạn 5: Quang cảnh và sự nhốn nháo lúc hạ quan tài.

Mâu thuẫn trào phúng cơ bản được thể hiện qua đoạn trích là: sự hạnh phúc của các thành viên trong gia đình khi cụ cố tổ chết; Câu chuyện của Xuân tóc đỏ và cái chết của cụ tổ – một kẻ có tội như Xuân ngờ đâu lại trở thành có đại công với gia đình.

Mâu thuẫn ấy được thể hiện qua nhan đề của đoạn trích phản ánh rất đúng 1 sự thật mỉa mai, hài hước: con cháu của đại gia đình này thật sự sung sướng, hạnh phúc khi cụ cố tổ chết. Đây cũng là tình huống trào phúng chính yếu của toàn bộ chương truyện. Tang gia mà lại hạnh phúc. Nhà có tang mà lại vui vẻ, sung sướng.

Câu 3: Hãy phân tích cách Vũ Trọng Phụng miêu tả đám ma trong hai đoạn cuối. (Lưu ý: Sự kết hợp giữa miêu tả toàn cảnh và cận cảnh đám tang cùng hiệu quả do thủ pháp này tạo ra). Riêng chi tiết “đám cứ đi…” lặp lại trong đoạn 4 có tác dụng gì đặc biệt về mặt nghệ thuật? Câu 4: Lời văn của Vũ Trọng Phụng trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia đậm chất trào phúng. Hãy tìm và phân tích một số dẫn chứng tiêu biểu trong cách dùng từ, cách so sánh, cách đặt câu, dựng đoạn, cách tạo giọng văn,…để làm rõ điều đó.

⟹ Nhan đề phản ánh 1 sự mâu thuẫn trong tâm lí con người: 1 bên là sự hạnh phúc của con người, 1 bên là sự mất mát không thể bù đắp được, vậy mà chúng lại song hành, gắn kết với nhau, đúng là truyện bi hài đáng cười.

Niềm hạnh phúc của những người trong gia đình cụ cố tổ.

Cụ cố Hồng:

Tuy 50 tuổi nhưng lâu nay chỉ mơ ước được gọi là cụ cố.

Dịp may đã tới, cụ nhắm nghiền mắt nghĩ đến lúc được mặc áo xô gai.

Lụ khụ chống gậy, vừa ho khạc vừa khóc mếu máo diễn trò già nua, ốm yếu giữa phố đông người để cho thiên hạ phải trầm trồ

⟹ Nhân vật này điển hình cho loại người ngu dốt, háo danh.

Văn Minh – nhà cải cách y phục Âu hóa “phân vân”, “đăm đăm chiêu chiêu”, “vò đầu rứt tóc” nhưng không phải vì cái chết của cụ cố tổ mà là làm thế nào để cái chúc thư kia sớm đi vào thời kì thực hành và xử trí với Xuân Tóc Đỏ ra sao khi hắn có “2 cái tội nhỏ” nhưng “1 cái ơn to”.

Bà Văn Minh được mặc đồ xô gai tân thời và được dịp lăng-xê những mốt y phục táo bạo nhất.

Cô Tuyết được dịp “mặc bộ y phục Ngây thơ, xinh xinh” đồng thời “trên mặt lại hơi có một vẻ buồn lãng mạn rất đúng mốt 1 nhà có đám”.

Ông Phán mọc sừng cũng thật sự sung sướng vì không ngờ rằng cái sừng trên đầu mình lại có giá trị đến thế và ông tin chắc rằng mình sẽ được trả công xứng đáng.

Xuân Tóc Đỏ thì danh giá và uy tín càng cao vì chính nhờ hắn mà cụ cố tổ chết.

“Niềm hạnh phúc” còn lây ra cả những người ngoài tang quyến.

Hai viên cảnh sát Min Đơ và Min Toa đang lúc thất nghiệp thì được thuê giữ trật tự cho đám tang, đã “sung sướng cực điểm”.

Xã hội trưởng giả bè bạn cụ cố Hồng được dịp khoe các thứ huy chương, phẩm hàm

Sư cụ Tăng Phú thì “sung sướng mà vênh váo” vì tin chắc rằng trong số thiên hạ đứng xem ở các phố thế nào cũng có người nhận ra rằng “sư cụ đã đánh đổ được Hội Phật giáo”.

⟹ Chi tiết hài hước: Ông sư này không đến làm lễ mà để thiên hạ nhận ra mình với thành tích: đánh đổ Hội Phật giáo.

Phân tích cách Vũ Trọng Phụng miêu tả đám ma trong hai đoạn cuối

Một “đám ma to” được tổ chức “theo cả lối Ta, Tàu, Tây, có kiệu bát bát cống, lợn quay đi lọng, cho đến lốc bốc xoảng và bú dích”.

Cái đáng cười: đám ma hổ lốn, tạp pí lù, đám ma mà như đám rước.

Người đi đưa: đông đúc, sang trọng, nam nữ “chim nhau, cười tình với nhau, Đám tang như đám hội, dòng người cứ mãi tắt bật giả dối “đám cứ đi” ⟹ Đám tang thành đám diễn trò bịp bợm, lố lăng, đồi bại về văn hóa.

Hàng phố “nhốn nháo cả lên khen đám ma to”, họ chú ý kiểu quần áo tang của tiệm may Âu hóa.

Cảnh hạ huyệt: Phán mọc sừng khóc to dúi vào tay Xuân tóc đỏ năm đồng xu gấp tư, cụ cố Hồng khóc mếu máo ngất đi. ⟹ Cảnh đám tang diễn ra như một tấn hài kịch, bóc trần sự kệch cỡm, xấu xa, giả dối. Một đám ma to tá, một đám xã hội lố lăng và đồi bại, bản chất của sự thật ẩn nấp sau cái vẻ bề ngoài xấu xa đến xót xa.

Chi tiết “đám cứ đi…” lặp lại trong đoạn 4 có tác dụng

​Nhấn mạnh sự lố bịch,kệch cỡm khi mà cuộc đưa tang vẫn chưa kết thúc của những thành viên trong gia đình và những người đưa tang.

Qua đó, nhà văn muốn phơi bày tất cả sự giả dối, bịp bợm, vô đạo đức của cái xã hội thượng lưu đang hãnh tiến, đắc chí.

Gợi ý:

Sự trào phúng thể hiện rõ trong nhan đề: Nhan đề của đoạn trích phản ánh rất đúng 1 sự thật mỉa mai, hài hước: con cháu của đại gia đình này thật sự sung sướng, hạnh phúc khi cụ cố tổ chết.

Trong cách dùng từ: chết thật, lang băm, cái chết làm cho nhiều người sung sướng, chưa đánh mất cả chữ trinh,…

Cách so sánh: như những vị danh y biết tự trọng, chết một cách bình tĩnh, …

Câu 5: Qua đoạn trích này Vũ Trọng Phụng đã tập trung phê phán điều gì ở xã hội tư sản thành thị hồi bấy giờ?

Tác giả đã tố cáo một xã hội nhố nhăng, suy tàn, thối nát, băng loạn những giá trị đạo đức, giả dối, bịp bợm, vô đạo đức của cái xã hội thượng lưu thời bấy giờ. Từ đó nhà văn đả kích châm biếm sâu cay, thâm thuý những thói xấu xa của xã hội.

5. Hướng dẫn luyện tập

Câu 2: Hãy chỉ ra những mâu thuẫn và những chân dung trào phúng ở đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia.

Mâu thuẫn trào phúng: nguyên tắc gây tiếng cười là phải phát hiện và diễn tả những mâu thuẫn nghịch lí, những điều trái khoáy, ngược đời để bóc trần bản chất của sự việc hiện tượng.

Mâu thuẫn giữa cái thật và cái giả:

Từ một cái chết thật đến đám ma giả: “ba hôm sau, ông cụ già chết thật“à một cái chết đã được mong đợi từ lâu, sự chậm trễ bấy lâu nay của cái chết kia đã là sự đau khổ của đám con cháu vô tâm vô, vô tình . Và cái chết kia cũng đã thật sự là một cái chết thật mang đến những niềm vui riêng cho đám con cháu. Để rồi, một đám ma to tát được tổ chức như đám rước, đám hội khiến ai cũng trầm trồ. Nhưng điều quan trọng nhất của một đám ma, điều cơ bản, đặc trưng lại không hề tồn tại trong đám ma của cụ cố tổ: lòng thương tiếc chân thành dành cho người quá cố không hề hiển hiện trong lòng của đám con cháu cụ và mọi người xung quanh.

Từ một đám ma giả đến hạnh phúc có thật: đằng sau những gương mặt, hành động, tiếng khóc mang vẻ đau thương là sự toan tính lạnh lùng, là niềm vui, hạnh phúc sắt đá của đám con cháu bất hiếu, là nụ cười vô tâm của bao người đến dự đám tang.

Chân dung trào phúng: những chân dung biếm họa được tác giả kí thác những nét vẽ tài tình với từng nỗi niềm riêng, những hạnh phúc quái gỡ kì lạ.

Cụ cố Hồng ( con trai cụ cố tổ): hút thuốc phiện liên tục, ngất ngây, hạnh phúc, hãnh diện vì mơ màng nghĩ đến cảnh được mặc áo xô gai, lụ khụ chống gậy, vừa ho khạc vừa khóc mếu máo để cho thiên hạ bình phẩm ngợi khen.

Cụ bà: chạy đôn chạy đáo lo đám cưới chạy tang cho cô con gái hư hỏng, biết ơn ông đốc tờ Xuân…

Ông Văn Minh: hạnh phúc vì sắp được một phần gia tài, vì tờ di chúc sắp được thực hiện, đăm đăm chiêu chiêu” vì không biết xử trí Xuân Tóc Đỏ ra sao với hai cái tội nhỏ và một cái ơn to.

Vợ Văn Minh: sốt ruột vì mãi không được mặc đồ xô gai tân thời

Cậu Tú Tân: điên người lên vì cậu đã chuẩn bị sẵn sàng mấy cái máy ảnh mà mãi chưa dùng đến, đến lúc hạ huyệt thì cậu như là một đạo diễn để bày trò diễn những điều giả dối

Tuyết: hạnh phúc vì đám tang là lúc được dịp mặc bô y phục ngây thơ để chứng tỏ sự không hư hỏng. Một nét buồn lãng mạn trên khuôn mặt cô không dành cho người quá cố mà là sự mong đợi được thấy Xuân Tóc Đỏ

Phán Mọc Sừng: hả hê vì được bố vợ nói nhỏ vào tai sẽ chia them cho tiền, khóc“oặt người đi” để kịp dúi vào tay Xuân Tóc Đỏ tờ giấy bạc năm đồng gấp tư.

⇒ Những nỗi niềm riêng bên cạnh hạnh phúc chung của một đại gia đình bất hiếu đã được tác giả khắc họa một cách tinh tế và tài tính. Chỉ một hành động nhỏ, một cử chỉ hay một ánh mắt, tác giả đã đưa người đọc đến gần hơn với bản chất, với sự thật về của việc và con người. Mỗi chân dung nhân vật là một khía cạnh của sự thật đời sống bấy giờ, mỗi nhân vật bước ra từ trang sách lại để lại lòng người những đặc điểm riêng về bản chất không thể quên. Vũ Trọng Phụng đã kết hợp những sắc thái chung và riêng để miêu tả cái toàn cảnh, viễn cảnh với cái cụ thể, cận cảnh làm cho bức tranh hiện thực được tái hiện sinh động hơn, ý nghĩa phê phán càng sâu sắc hơn.

6. Một số bài văn mẫu về văn bản Hạnh phúc của một tang gia

7. Hỏi đáp về văn bản Hạnh phúc của một tang gia

Nếu có thắc mắc cần giải đáp các em có thể để lại câu hỏi trong phần Hỏi đáp, cộng đồng Ngữ văn HỌC247 sẽ sớm trả lời cho các em.

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài Hạnh Phúc Của Một Tang Gia Trang 122 Sgk Ngữ Văn 11 / 2023 trên website Maiphuongus.net. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!