Xem Nhiều 1/2023 #️ Soạn Bài: Hạnh Phúc Của Một Tang Gia – Ngữ Văn 11 Tập 1 # Top 8 Trend | Maiphuongus.net

Xem Nhiều 1/2023 # Soạn Bài: Hạnh Phúc Của Một Tang Gia – Ngữ Văn 11 Tập 1 # Top 8 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài: Hạnh Phúc Của Một Tang Gia – Ngữ Văn 11 Tập 1 mới nhất trên website Maiphuongus.net. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Xin chào các em! Hôm nay, Soạn Văn sẽ tiếp tục hướng dẫn các em soạn văn bản: Hạnh phúc của một tang gia. Đây là một trích đoạn trong tác phẩm rất nổi tiếng của Vũ Trọng Phụng – Số đỏ, được đánh giá vào loại xuất sắc nhất của văn xuôi Việt Nam kể từ khi có chữ quốc ngữ.

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả: Vũ Trọng Phụng (các em tham khảo phần giới thiệu tác giả trong SGK Ngữ Văn 11 Tập 1).

2. Tác phẩm

* Đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia là toàn bộ chương XV của tác phẩm Số đỏ, được đăng báo vào năm 1936. Qua đoạn trích, Vũ Trọng Phụng đã phê phán gay gắt bản chất giả dối và sự lố lăng, đồi bại của xã hội được coi là “thượng lưu” ở thành thị ngày ấy.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

* Nhan đề Hạnh phúc của một tang gia: có một sự mâu thuẫn đầy nghịch lý, có khả năng kích thích trí tò mò của người đọc:

Hạnh phúc: niềm vui của con người khi đã đạt được những ước nguyện trong cuộc sống.

Tang gia: là gia đình có người thân ra đi mãi mãi, mọi người trong nhà đều đau buồn khôn xiết.

* Tình huống truyện: Cụ cố tổ mất đi tức là cũng đã đến lúc tờ di chúc của cụ được thực hiện, gia tài kếch xù của cụ sẽ được chia cho con cháu, dâu rể,… Như vậy, có thể nói, cái chết của cụ đã được mọi người chờ đợi và mong muốn nó đến thật nhanh từ rất lâu rồi.

Câu 2:

* Cái chết của cụ cố tổ là niềm “hạnh phúc” của mọi thành viên trong gia đình cụ là bởi: khi cụ mất đi, đồng nghĩa với việc cái di chúc của cụ sẽ được đi vào thực hành, chứ không còn là lý thuyết nữa.

* Niềm “hạnh phúc” khác nhau của mỗi người trong đại gia đình cụ cố Hồng và những người đến đưa đám ma:

Cụ cố Hồng: nghĩ đến lúc mình mặc áo xô gai, lụ khụ chống gậy ho ra máu, diễn trò già yếu, ốm đau để thiên hạ bình phẩm mình.

Ông Văn Minh: thích thú vì cái di chúc kia đã đi vào thực hiện chứ không còn là lý thuyết nữa.

Bà Văn Minh: mừng rỡ vì được dịp lăng xê những mốt y phục táo bạo nhất.

Cậu Tú Tân: sung sướng điên người vì đã có dịp sử dụng lại máy ảnh lâu không dùng đến.

Cô Tuyết được dịp mặc y phục ngây thơ để chứng tỏ mình vẫn còn “nửa chữ trinh”, nhưng lại đau khổ vì “không thấy bạn giai đâu cả”.

Ông Phán mọc sừng sung sướng vì không ngờ cái sừng trên đầu mình lại có giá trị đến thế.

Xuân Tóc Đỏ ngày càng danh giá và uy tín vì chính nhờ y mà cụ cố tổ đã chết.

Những người đến đưa đám ma thì coi đó là một buổi họp mặt, khoe đủ thứ trang phục và phê bình đủ các kiểu,…

Câu 3:

Phân tích cảnh “đám ma gương mẫu”.

Một “đám ma to” được tổ chức “theo cả lối Ta, Tàu, Tây, có kiệu bát cống, lợn quay đi lọng, cho đến lốc bốc xoảng và bú dích”.

Bề ngoài thì thật là long trọng, gương mẫu, nhưng thực chất chẳng khác gì một đám rước nhố nhăng, đi đến đâu huyên náo đến đấy, tràn ngập vòng hoa, câu đối, mọi người thi nhau chụp ảnh như hội chợ.

Những người đi đưa tang đông đúc, ăn mặc sang trọng, nam nữ chim nhau, cười tình với nhau, chê bai nhau,…

Câu 4:

Từ “niềm hạnh phúc” của các nhân vật do cái chết của cụ cố tổ đem lại và cảnh tượng của cái “đám ma gương mẫu” cho ta thấy thực trạng của xã hội “thượng lưu” thành thị đương thời lúc bấy giờ. Đó là một xã hội suy tàn với những chế độ thối nát. Tác giả đã miêu tả đầy đủ những hình ảnh đó để thể hiện những hình ảnh chi tiết trong đoạn văn. Hình ảnh này biểu tượng cho một điều đó là đồng tiền đã làm mờ mắt con người, họ chỉ biết đến tiền mà không biết đến tình người.

Câu 5:

Nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng ở đoạn trích này:

Tạo tình huống cơ bản rồi mở ra những tình huống khác

Khai thác và sử dụng triệt để biện pháp đối lập cùng tồn tại trong một sự vật, một con người để làm nổi bật lên tiếng cười.

Giọng văn mỉa mai, sử dụng thủ pháp cường điệu, nói quá một cách linh hoạt.

Ngòi bút miêu tả sắc sảo: Những nét riêng của từng nhân vật trong đoạn trích.

5

/

5

(

1

bình chọn

)

Soạn Bài Hạnh Phúc Của Một Tang Gia Sbt Ngữ Văn 11 Tập 1

Giải câu 1, 2, 3 trang 96 SBT Ngữ văn 11 tập 1. Tìm một số dẫn chứng tiêu biểu trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia thể hiện nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng.

1. Tìm một số dẫn chứng tiêu biểu trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia thể hiện nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng.

Trả lời:

Anh (chị) có thể tìm các dẫn chứng tiêu biểu thể hiện nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng ở chương này theo các gợi ý sau :

– Từ một tình huống trào phúng cơ bản (hạnh phúc của một gia đình có tang), nhà văn triển khai mâu thuẫn theo nhiều tình huống khác nhau, tạo nên một màn đại hài kịch phong phú và rất biến hoá. Chẳng hạn, cụ cố tổ chết khiến cho mọi người trong đại gia đình bất hiếu này đều hạnh phúc, nhưng mỗi người lại có niềm hạnh phúc riêng, tuỳ theo hoàn cảnh và tính cách của từng người, rất phong phú và đa dạng, từ con cháu trong nhà tới bè bạn của cụ, thậm chí đến cả cảnh sát. Tài năng của Vũ Trọng Phụng chính là ở chỗ đã xây dựng được một loạt chân dung biếm hoạ không ai giống ai.

– Đặc biệt, đoạn tả đám tang đi từ nhà cụ cố Hồng ra đến huyệt rất hài hước. Đám ma mà như đám rước vậy. Đủ cả kèn Ta, kèn Tây, kèn Tàu. Hàng trăm câu đối, vòng hoa, bức trướng. Đây là cơ hội để mọi người khoe khoang. Chú ý câu chuyện của những người đi đưa tang.

2. Anh (chị) nhận xét như thế nào về ý nghĩa của chi tiết “Đám cứ đi…” và những hành động của ông Phán mọc sừng đối với Xuân Tóc Đỏ ở cuối đoạn trích ?

Trả lời:

Chi tiết “Đám cứ đi…” được nhắc đến hai lần, mỗi lần là một dòng riêng như một điệp khúc, có giá trị châm biếm, trào lộng.

Những hành động của ông Phán mọc sừng đối với Xuân Tóc Đỏ ở cuối đoạn trích là những chi tiết trào phúng đặc biệt chua chát góp phần không nhỏ tô đậm sự lố lăng, vô đạo đức của xã hội “thượng lưu” thời đó : “Ông Phán cứ oặt người đi, khoe khóc mãi không thôi”. Nhưng đúng lúc ấy, ông vẫn không quên bí mật dúi vào tay Xuân “một cái giấy bạc năm đồng gấp tư”. (Đây là số tiền ông Phán thanh toán nốt cho Xuân vì trước đó đã thuê hắn tố cáo ông (cháu rể cụ cố tổ, chồng cô Hoàng Hôn) là một người chồng mọc sừng” – nguyên nhân trực tiếp gây nên cái chết của bà cô tổ.

3. Có ý kiến cho rằng, trong đoạn trích, từ cách dùng từ, cách so sánh đến cách đặt câu, dựng đoạn,… đều thể hiện đậm nét chất trào phúng, châm biếm. Anh (chị) có đồng ý với nhận xét đó không ? Vì sao ?

Trả lời:

Trong đoạn trích cách dùng từ, cách so sánh đến cách đặt câu, dựng đoạn,… đều thể hiện đạm nét chất trào phúng, châm biếm :

– Cách đặt nhan đề chương truyện: Hạnh phúc của một tang gia.

– Cách đặt tên nhân vật: Mặc dù, các nhân vật xuất hiện từ những chương trước ; nhưng tên các nhân vật cũng góp phần tạo nên chất trào phúng: Xuân Tóc Đỏ, ông Phán mọc sừng, Typn, ông lang băm Tây, ông lang băm Đông, cụ lang Tì, cụ lang Phế, sư Tăng Phú, sư chùa Bà Banh, cảnh sát Min Đơ, Min Toa,…

– Cách đặt tên đồ vật: báo Gõ mõ, bộ y phục Ngây thơ,…

– Cách so sánh: “hai cụ đã từ chối chạy chữa cũng như những vị danh y biết tự trọng, “buồn rầu như những nhà buôn sắp vỡ nợ”,…

– Cách dùng hình ảnh : “Tuyết mời các quan khách rất nhanh nhẹn, trên mặt lại hơi có một vẻ buồn lãng mạn rất đúng mốt một nhà có đám”, những ông bạn thân của cụ cố Hồng: Hóng “trên mép và cằm đều đủ râu ria, hoặc dài hoặc ngắn, hoặc đen hoặc hung hung, hoặc lún phún hay rầm rậm, loăn quăn”,…

– Cách tạo giọng điệu hài hước : “Thật là một đám ma to tát có thể làm cho người nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng, nếu không gật gù cái đầu…!” Những việc trắc trở như thế đã làm cho ông già hơn tám mươi tuổỉ phải chết một cách bình tĩnh”,…

Tóm lại, Vũ Trong Phụng đã vận dụng nhiều thủ pháp nghệ thuật phong phú để tạo nên chất trào lộng, châm biếm đậm đặc của đoạn trích. Điều này cũng được thể hiện trong toàn bộ tiểu thuyết số đó.

Bài tiếp theo

Soạn Bài Hạnh Phúc Của Một Tang Gia Trang 122 Sgk Ngữ Văn 11

Soạn bài Hạnh phúc của một tang gia trang 122 SGK Ngữ Văn 11

Vũ Trọng Phụng (1912 – 1939) quê ở làng Hảo (Bần Yên Nhân), huyện Mỹ Hào, tỉnh Hư­ng Yên, nh­ưng ông sinh ra, lớn lên và mất ở Hà Nội. Ông viết văn sớm, có truyện đăng báo từ 1930. Vũ Trọng Phụng viết nhiều thể loại như­ng nổi tiếng với hai thể tiểu thuyết và phóng sự

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN

Vũ Trọng Phụng (1912 – 1939) quê ở làng Hảo (Bần Yên Nhân), huyện Mỹ Hào, tỉnh Hư­ng Yên, nh­ưng ông sinh ra, lớn lên và mất ở Hà Nội. Ông viết văn sớm, có truyện đăng báo từ 1930. Vũ Trọng Phụng viết nhiều thể loại như­ng nổi tiếng với hai thể tiểu thuyết và phóng sự

Tác phẩm của Vũ Trọng Phụng tập trung vạch trần những ung nhọt thối tha trong xã hội Việt nam những năm ba m­ươi. Những lố lăng, kệch cỡm của lối sống Âu hoá nửa vời, những sản phẩm nhục nhã của văn hoá nô dịch đã đ­ược ghi nhận bằng một ngòi bút sắc sảo, cay nghiệt và đanh đá. Phóng sự, tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng thể hiện thái độ gay gắt của ông với xã hội đương thời. Vì lao động quá sức, nhà văn đã mắc bệnh lao và mất khi còn rất trẻ, lúc mới 27 tuổi.

Số đỏ là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Vũ Trọng Phụng. Tác phẩm là một vở đại hài kịch nhiều màn phản ánh chi tiết một Tấn trò đời. Mỗi ch­ương là một tiếng cư­ời sâu cay của tác giả ném vào mặt xã hội đương thời.

Đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia thuộc ch­ương XV của tác phẩm. Qua miêu tả một đám tang, nhà văn đã vạch trần thói đạo đức giả của một đại gia đình bất hiếu, từ đó phản ánh sự xuống cấp của đạo đức xã hội. Tính chất trào phúng của đoạn trích thể hiện :

+ Tình huống đầy mâu thuẫn: tang gia hạnh phúc. Cái chết của cụ tổ làm cho đám con cháu sung s­ướng. Niềm hạnh phúc lớn nhất, lâu bền nhất và chung nhất mà cái chết cụ Tổ mang lại cho mọi thành viên trong gia đình là được thừa hưởng tài sản. Thản nhiên khi miêu tả đám tang, nhà văn đã ném vào cái “xã hội chó đểu” những lời chửi cay nghiệt nhất.

+ Đám tang rất to, đầy đủ như­ng xô bồ, láo nháo, con cháu và ng­ười đi đưa đều chẳng chú ý gì đến ng­ười chết.

Qua đám tang nhà văn đã khái quát bộ mặt của xã hội Việt Nam trong một giai đoạn vô cùng phức tạp, giai đoạn có sự chuyển đổi mạnh mẽ về nhiều mặt do có sự giao lưu với văn hoá phương Tây. Vũ Trọng Phụng đã ghi lại một cách chi tiết và chân thực hiện thực xã hội qua đó thể hiện thái độ phản ứng gay gắt của nhà văn đối với những biểu hiện tiêu cực của xã hội đương thời.

II. SOẠN BÀI 1. Tóm tắt nội dung đoạn trích:

Đoạn 1: Cái chết của cụ già và những người có công lớn nhất gây ra cái chết ấy là Xuân tóc đỏ. Tác giả tái hiện lại quá trình chạy chữa để giải thích nguyên nhân cái chết của ông cụ. Nhữ ng bài thuốc khủng khiếp của các ông lang và sự bối rối của cụ cố Hồng khi cha chết cũng được nhà văn chu ý miêu tả trong đoạn này.

Đoạn 2: Đám con cháu vô cùng hạnh phúc trước cái chết của cụ Tổ vì họ đã phải chờ đợi quá lâu. Họ vô cùng sốt ruột vì việc chuẩn bị nghi lễ được tién hành quá chậm chạp. Mỗi người một tính toán, một niềm hạnh phúc riêng nên họ háo hức chờ đợi đám tang.

Đoạn 3: Tác giả tập trung miêu tả cảnh đám tang. Đặc biệt chú ý đến những người được hưởng hạnh phúc từ đám tang này, từ người được thuê trông coi, khách dự đám đến cô Tuyết và đám con cháu. Nổi bật nhất trong đám tang là cô Tuyết với phục tang mang tên Ngây thơ. Đám tang được tổ chức linh đình. Xuân xuất hiện vào giờ chót khiến cụ bà và Tuyết rất cảm động.

Đoạn 4: Cảnh đưa tang. Đám tang được giễu qua các phố, đi đến đâu làm nhốn nháo đến đó. Những người tham gia đám tang đều rất thời trang, họ thì thầm những câu chuyện đang là mốt của thời thượng, họ tántỉnh, chim chute nhau.

Đoạn 5: Cảnh hạ huyệt. Cậu Tú Tân say sưa chụp ảnh. Cụ cố Hồng cố tỏ vẻ đau khổ, ông Phán vừa khóc than thảm thiết vừa lén trả tiền công cho Xuân vì Xuân đã gây ra cái chết của ông cụ.

Niềm hạnh phúc chung mà cái chết cụ Tổ mang lại cho mọi thành viên trong gia đình là được thừa hưởng tài sản. Họ được chia tài sản và ai cũng được phần. Ngoài ra, cả người trong gia đình và những người ngoài gia đình đều được hưởng một niềm hạnh phúc riêng.

Trong gia đình:

Cụ cố Hồng, con trai của người chết thì hạnh phúc vì được mặc áo xô gai, chống gậy lụ khụ, để mọi người nhìn vào cụ mà trầm trồ. Đợi phát phục, cụ “nhắm nghiền mắt lại để mơ màng cái lúc cụ mặc đồ xô gai…”.

Đám con cháu thì được thể hiện tài hoặc được diện những bộ đồ tang thời trang nhất mà họ vừa sáng tạo ra để khai hoá văn minh. Đứng đầu là Văn Minh, cháu đích tôn của người chết.

Đám cháu gái, cháu dâu thì hạnh phúc vì được mặc những bộ đồ xô gai thời trang, được khoe mình còn “một nửa chữ trinh” với những người đến đưa tang.

Cậu Tú Tân, cháu nội người chết, thì sung sướng vì được trổ tài chụp ảnh.

Nhà văn nhận xét: “… một bầy con cháu chí hiếu chỉ nóng ruột đem chôn cho chóng cái xác chết của cụ Tổ”. Chúng đúng là “một bầy” thú chứ không phải con người. Chắc phải chứng kiến những điều ngang tai trái mắt lắm nhà văn mới có cái nhìn và thái độ cay nghiệt như vậy.

Ngoài gia đình:

Trước hết là nhà chức trách – hai viên cảnh sát thuộc bộ thứ 18 là Min Đơ và Min Toa, “Giữa lúc không có ai đáng phạt mà phạt, đương buồn rầu như nhà buôn sắp vỡ nợ, mấy ông cảnh binh này được có đám thuê thì sung sướng cực điểm…”. Những ông bạn của cụ cố Hồng, ngực đầy huân chương đến dự đám tang thì “ai nấy đều cảm động hơn những khi nghe tiếng kèn xuân nữ ai oán não nùng” khi “trông thấy làn da trắng thập thò trong làn áo voan trên cánh tay và ngực Tuyết”. Bộ mặt của xã hội được đại diện bởi những gia đình như thế, những người cầm quyền như thế. Những kẻ đi đưa đám thì tranh thủ chim chuột nhau, bình phẩm nhau. Cả một đám ma to, danh giá, không có lấy một người đau đớn hay buồn bã khi nghĩ đến người chết. Xuân Tóc Đỏ được hưởng nhiều hạnh phúc nhất: được thưởng tiền, được gia đình cụ cố Hồng biết ơn và nhất là được danh giá, nổi tiếng hơn.

3. Khi miêu tả đám tang, tác giả đã kết hợp đầy dụng ý giữa tả cận cảnh và toàn cảnh.

Nhà văn đã lặp lại điệp húc “Đám cứ đi…”. Điệp khúc này có ý nghĩa châm biếm, hài hước. Một đám ma hỗn độn và hài hước, pha tạp đủ thứ, học đòi đủ kiểu để khoe khoang. Xe chở người chết cứ đi, người đưa cứ chim chuột nhau, con cháu cứ hưởng thụ niềm hạnh phúc sung sướng của mình. Mỗi người một tâm lí, một mục đích khác nhau, hội tụ lại để thực hiện “nghĩa tử là nghĩa tận” với người chết. Điểm nổi bật nhất và chung nhất của đám người này là sự giả dối, thói đạo đức giả.

4. Lời văn trong đoạn trích đậm tính chất trào phúng, từ cách miêu tả đến cách đặt tên đồ vật, lối so sánh ví von, cách tạo giọng văn… Ví dụ: cảnh sát thất nghiệp “buồn như nhà buôn vỡ nợ”, Hai ông lang “từ chối chạy chữa cũng như cá vị danh y biết tự trọng”, thuốc chữa bệnh thì “công hiệu đến nỗi họ mất mạng”, “Cái chết kia đã làm cho nhiều người sung sướng lắm”, “Thật là một đám ma to tát mà có thể làm cho…”

Cách đặt tên gọi nhân vật, đồ vật cũng rất hài hước: ông TYPN, Minđơ, Mintoa, lợn quay đi lọng, lốc bốc xoảng…

Tác giả đặc biệt chú ý miêu tả các chi tiết hài hước, dùng những câu văn miêu tả đầy tính châm biếm để đả kích, bóc trần bộ mặt đạo đức gia dối của đám con cháu đại bất hiếu và những kẻ đi đưa vô tình. Ví dụ: Những ông bạn thân của cụ cố Hồng… đều cảm động hơn khi nghe tiếng kèn xuân nữ ai oán, não nùng; Sư cụ Tăng Phú thì sung sướng và vênh váo… là cuộc đắc thắng đầu tiên của báo Gõ mõ vậy…

5. Qua đoạn trích, tác giả đã tập trung phê phán thói đạo đức giả của một lopws người trong xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX. Đó là thói hám danh, hám lợi, thói hợm hĩnh… Cảnh đám tang là một màn bi hài kịch. Nó gợi noĩi chua xót, cay đắng cho sự xuống cấp trầm trọng về đạo đức, nhất là đạo đức gia đình. Từ đầu đến cuối tác phẩm là tiếng cười châm biếm, chế giễu, một kiểu chế giễu rất cay độc của nhà văn đối với những kẻ học đòi một cách vô học.

III. TƯ LIỆU THAM KHẢO

1. Về tác giả

… “Sáng tác và thế giới quan Vũ Trọng Phụng khác phức tạp và có nhiều mâu thuẫn. Cuộc sống nghèo khổ bị hắt hủi, có thời kỳ ít nhiều chịu ảnh hưởng cách mạng, khiến Vũ Trọng Phụng rất căm ghét cái xã hội thực dân phong kiến đầy bất công, thối nát đương thời, do đó ông đã dựng lên nhiều bức tranh xã hội sinh động bằng ngoài bút đả kích sắc sảo. Nhưng sống trong cái môi trường chật hẹp, toàn những cái xấu xa đồi bại ở thành thị, xa cách nhân dân lao động, Vũ Trọng Phụng thiếu một căn bản nhân đạo vững vàng, dễ tiếp thu ảnh hưởng của những tư tưởng tiêu cực. Vì vậy, bên cạnh những giá trị hiện thực có sức mạnh tố cáo hiển nhiên, tác phẩm Vũ Trọng Phụng có nhiều hạn chế, nhiều chênh lệch nặng nề. Chính mặt yếu này là cơ sở cho những yếu tố tự nhiên chủ nghĩa đậm nét trong nhiều sáng tác của Vũ Trọng Phụng, nhất là những tác phẩm đề cập đến cái “dâm” ( Làm đĩ, Lục xì). ở đó Vũ Trọng Phụng đã xa rời chủ nghĩa hiện thực và rơi vào thứ văn học tự nhiên chủ nghĩa”.

Nguyễn Hoành Khung

( Từ điển văn học, tập 2, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1984)

… “Trong văn chương, tôi không bao giờ tin rằng có một cái tài nào đó chỉ nhờ biết đặt câu, dùng từ cho khéo, biến quan sát và mô tả sự vật cho tinh mà có thể tạo nên được những tác phẩm có giá trị thật sự. Văn học là tâm huyết, là thứ tư tưởng- nhiệt tình tự nó hiện hình thành những nhân vật đầy sức sống, tự nó đẻ ra những chữ có góc có cạnh, có hình, có khối, có hơi thở phập phồng trên trang giấy.

Ở Vũ Trọng Phụng, cái tư tưởng- nhiệt tình ấy là gì?

Ấy là cái niềm căm thù mãnh liệt đối với xã hội độc ác, bất công, vô lý và “chó đểu” thời thuộc Pháp và khát vọng muốn đập phá tan tành nó đi để xây dựng một xã hội công bằng hơn, có nghĩa lý hơn.

Muốn đánh giá được niềm căm thù này cần tìm hiểu tình hình tâm lý xã hội của tầng lớn thanh niên trí thức tiểu tư sản những năm 30 và số phận bế tắc đến bi thảm của Vũ Trọng Phụng, đồng thời đặt nhà văn vào cái môi trường sống cụ thể của ông, một trong những trung tâm buôn bán và ăn chơi trụy lạc của Hà Nội cũ (phố Hàng Bạc kề bên Sầm Công, Mã Mây, Hàng Buồm…). Người thanh niên ấy, đúng vào lúc ý thức được giá trị và vai trò của cá nhân mình trong cuộc đời nhờ ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, thì đồng thời cũng nhận ra rằng mọi ngả đường sự nghiệp, công danh đều bị chặn lại một cách tàn nhẫn. Sức mạnh thô bỉ của thằng thực dân và cũng đồng tiền làm chủ tất cả.

Nếu không thể lao vào bão táp cách mạng thì mọi con đường của người thanh niên muốn tìm đến vinh quang bằng đạo đức, tài năng và lao động đều không được chấp nhận. Một xã hội như vậy đẻ ra vô vàn những kẻ thờ bạo lực và đồng tiền, chúng biến xã hội thành một thứ sân khấu đại hài kịch để đóng những vai thật là nhố nhăng, bỉ ổi mà Vũ Trọng Phụng gọi là “chó đểu”, hay “vô nghĩa lý”…

… Vâng, có thể nói như thế: niềm căm thù mãnh liệt đối với xã hội thực dân, tư sản tàn ác, lố bịch, đểu giả, thối nát, đó là tất cả tài năng của Vũ Trọng Phụng…”.

Nguyễn Đăng Mạnh

( Vũ Trọng Phụng và niềm căm uất không nguôi.

Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, Sđd, tr.105-107)

2. Về tác phẩm

… “Muốn đánh giá đúng một tác phẩm nghệ thuật, phải nắm được đặc điểm thể loại và khuynh hướng, cảm hứng của nó. Số đỏ là một cuốn tiểu thuyết trào phúng được viết theo khuynh hướng hiện thực chủ nghĩa. Về mặt là một cuốn tiểu thuyết trào phúng, thành công của nó là đã gây được một tiếng cười, đúng hơn, một chuỗi cười ròn rã từ đầu đến cuối, thông qua một loạt tình tiết, tình huống hài hước và một loạt chân dung hí họa, biếm họa hết sức độc đáo và sinh động. Về mặt là một tác phẩm hiện thực chủ nghĩa, nó đã phát hiện được một cách chính xác và sâu sắc bản chất và quy luật khách quan của xã hội ở một phương diện quan trọng.

Đặc điểm ấy của tác phẩm đặt ra một mâu thuẫn mà tác giả đã giải quyết được một cách đầy tài nghệ. Mâu thuẫn ấy là, một mặt phải dùng lối cường điệu, phóng đại một cách thoải mái – điều mà bút pháp trào phúng đòi hỏi- để tạo nên những tình huống oái oăm vô lý, những tính cách quái thai, kỳ quặc; mặt khác lại không hề được nói oan nói ức cho bất kỳ cái gì, cho bất kỳ ai mà nó đề cập đến. Mâu thuẫn ấy giải quyết trong một truyện ngắn đã khó, trong một truyện dài càng khó hơn nhiều.”.

Soạn Bài Hạnh Phúc Của Một Tang Gia Của Vũ Trọng Phụng

2. Tóm tắt nội dung bài học

Qua chương “Hạnh phúc của một tang gia”, Vũ Trọng Phụng đã phê phán quyết liệt, đả kích mạnh mẽ bản chất lố lăng đồi bại của xã hội thượng lưu ở thành thị lúc bấy giờ (thành thị những năm trước cách mạng tháng 8/ 1945)

Chân dung các nhân vật tham gia đám tang (gia đình và tất cả những người tham dự đám tang cụ cố tổ)

Cảnh đám ma gương mẫu được tái diễn một cách chi tiết và sâu sắc.

2.2. Nghệ thuật

Bút pháp trào phúng, châm biếm sắc sảo (cường điệu, nói ngược, tình tiết, chi tiết đối lập…)

Xây dựng nhân vật điển hình

3. Soạn bài Hạnh phúc của một tang gia chương trình chuẩn

Câu 1: Hạnh phúc của một tang gia là một phần của nhan đề chương XV tiểu thuyết Số đỏ do chính Vũ Trọng Phụng đặt. Anh (chị) có suy nghĩ gì về nhan đề này và tính huống trào phúng của đoạn trích?

Nhan đề: lạ, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, nghịch lí

Tác giả dùng sự nghịch lí của một hiện tượng trong một gia đình để nói lên cái bản chất đáng lo đáng ngại của cả một lớp người trong xã hội. Một nghịch lí nực cười và đáng thương, đáng giận biết bao.

Tình huống trào phúng trong đoạn trích: Cái chết của cụ cố tổ là điểm khởi nguồn cho mâu thuẫn trào phúng của chương truyện Hạnh phúc một tang gia.

Mâu thuẫn trào phúng được thể hiện ngay nhan đề “Hạnh phúc một tang gia”. Cái chết của cụ cố tổ không để lại sự đau buồn hay thương tiếc nào cho đám con cháu và những người xung quanh. Cái chết ấy đem đến niềm vui sướng tột cùng cho một đám người vô tâm, bỏ quên những giá trị truyền thống của dân tộc.

Chẳng có sự thương tiếc trong một đám tang mà thay vào đó là niềm vui sướng của những kẻ được hưởng gia tài.

Chẳng có sự bối rối của một đám tang bình thường mà thay vào đó là là sự lo lắng, bận rộn đến đáng giận.

Một đám ma to to tát và đình đám không phải là sự an ủi cho người đã khuất mà là sự phô trương vô liêm sỉ của một lớp người dối trá, bịp bợm.

⇒ Nhan đề: vừa gây chú ý cho người đọc, vừa phản ánh đúng một sự thật mỉa mai, hài hước và tàn nhẫn. Và mâu thuẫn trào phúng truyện thể hiện cơ bản qua nhan đề đã thể hiện được dụng ý của nhà văn

Câu 2: Vì sao cái chết của cụ cố tổ lại là niềm “hạnh phúc” của mọi thành viên trong đại gia đình cụ? Phân tích những niềm “hạnh phúc” khác nhau của mỗi người trong đại gia đình cụ cố Hồng và những người đến đưa đám ma do cái chết của cụ cố tổ đem lại.

Cái chết cụ cố tổ đem lại hạnh phúc cho mọi thành viên trong gia đình cụ cố tổ bởi:

Cái chết của cụ là niềm mong đợi bấy lâu của đám con cháu.

Cái chết của cụ gắn với việc tờ di chúc“không còn là lí thuyết viễn vông nữa”

Những niềm hạnh phúc khác nhau của mỗi người trong đại gia đình cụ cố Hồng và những người đến đưa đám ma do cái chết của cụ cố tổ đem lại:

Cụ cố Hồng: mong ước được lên chức cố, tỏ vẻ già nua được thực hiện: nhắm nghiền mắt lại để nghĩ đến lúc mặc áo xô gai, lụ khụ chống gậy vừa ho, vừa khạc vừa khóc mếu máo diễn trò già nua cho thiên hạ trầm trồ ” úi kìa, con giai lớn đã già đến thế kia kìa!”

Nhà Văn Minh: được dịp lăng-xê những mốt y phục táo bạo nhất, bà Văn Minh thì sốt cả ruột vì mãi không được mặc những đồ xô gai tân thời, cái mũ mấn trắng viền đen….

Cô Tuyết: được dịp mặc bộ y phục“ngây thơ” lố lăng và hớ hênh để thể hiện sự trong trắng.

Cậu Tú Tân: sướng điên người vì được dùng cái máy ảnh mới mua, Cậu Tú Tân coi cái chết của ông nội là cơ hội để giải trí để chứng tỏ tài nghệ của mình.

Phán mọc sừng (con rể) vô cùng sung sướng và không ngờ không ngờ đến giá trị của cặp sừng trên đầu của mình, và ông tin chắc rằng mình sẽ được trả công xứng đáng vì cặp sừng ấy đã dẫn đến cái chết của cụ cố tổ, thõa mãn mong ước bấy lâu của rất nhiều người.

Xuân Tóc Đỏ: danh giá và uy tín ngày càng cao hơn vì đã có công tố cáo Phán mọc sừng trước mặt cụ cố tổ

Những người xung quanh: được dịp khoe khoang, phô trương (bạn bè cụ cố Hồng, ông typn, cảnh sát: Min Đơ, Min Toa)

⇒ Mỗi người một niềm hạnh phúc khác nhau; mỗi người mang một vẻ không ai giống ai, điều đó làm cho mâu thuẫn của truyện ngày càng phong phú, ⇒ một lớp người kệch cỡm, lố lăng, đồi bại.

Câu 3: Anh (chị) hãy phân tích cảnh đám ma gương mẫu.

Hình thức nghi lễ:“đám ma to tát có thể làm cho người chết nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng, nếu không gật gù cái đầu”

Có cả Ta, Tây, Tàu hỗn tạp; có vòng hoa, kiệu, lọng, câu đối….

Có số lượng người đưa đám quy mô; đủ mọi tầng lớp

Cảnh đưa đám:

Từ xa: một cái đám ma to tát, đình đám và huyên náo

Cận cảnh: con người thì cười đùa mỗi người một kiểu, mỗi người một mục đích tư lợi riêng: Họ cười đùa, bình phẩm, chê bai, cười tình với nhau….

Đám tang như một đám hội, dòng người cứ mãi tất bật giả dối “đám cứ đi”

Cảnh hạ huyệt:

Phán mọc sừng khóc to“Hứt!..Hứt!…Hứt!…” dúi vào tay Xuân Tóc Đỏ đồng bạc năm đồng gấp tư.

Cụ cố Hồng khóc mếu máo ngất đi

⇒ Đám tang diễn ra như một tấn hài kịch, bóc trần sự kệch cỡm, xấu xa, giả dối. Một đám ma to tát, một xã hội lố lăng và đồi bại, bản chất của sự thật ấn nấp sau vẻ bề ngoài xấu xa đến xót xa.

Câu 4: Từ niềm “hạnh phúc” của các nhân vật do cái chết của cụ cố tổ đem lại và cảnh tượng của cái “đám ma gương mẫu”, anh (chị) nhận xét như thế nào về xã hội “thượng lưu” thành thị đương thời? Thái độ của nhà văn đối với xã hội này ra sao?

Nhận xét về xã hội thượng lưu: nhố nhăng, suy tàn, thối nát, băng hoại những giá trị đạo đức

Thái độ của nhà văn: Phê phán mạnh mẽ bản chất giả dối, bịp bợm của xã hội bấy giờ. Đả kích và châm biếm sâu cay, thâm thúy những thói xấu xa của xã hội. Đồng thời đâu đấy độc giả vẫn cảm nhận rõ sự chua chát trong tiếng cười tưởng chừng như lạnh lùng ấy của Vũ Trọng Phụng.

Câu 5: Anh (chị) nhận xét gì về nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng ở đoạn trích này?

Từ một tình huống trào phúng cơ bản (hạnh phúc của một gia đình có tan) tác giả đã triển khai mâu thuẫn theo nhiều tình huống khác nhau, tạo nên một màn hài kịch, phong phú và biến hóa khôn lường gây nhiều thú vị cho người đọc.

Tác giả sử dụng thủ pháp quen thuộc để gây tiếng cười: phát hiện những chi tiết đối lập gay gắt nhưng cùng tồn tại trong một sự vật, một con người để từ đó làm bật lên tiếng cười châm biếm.

Ngoài ra, tác giả còn sử dụng nhiều thủ pháp cường điệu: nói ngược, nói mỉa mai… được sử dụng một cách linh hoạt (Chẳng hạn, cái chết của cụ tổ khiến mọi người trong cái đại gia đình bất hiếu không ai giống ai. Đặc biệt, đám rước đưa ma được tổ chức nhố nhăng, lố bịch và nó trở thành cơ hội tốt để mọi người gặp gỡ, giao lưu, phô trương thanh thế và cười cợt, nói xấu, nói mỉa nhau…)

Vũ Trọng Phụng đã dụng công để xây dựng nên một số nhân vật điển hình. Chẳng hạn: Xuân Tóc Đỏ với bản chất của một tên đểu cán đại diện cho những tên ma cà bông, vô học, vô lại,…

4. Soạn bài Hạnh phúc của một tang gia chương trình Nâng cao

Câu 1: Hãy tóm tắt nội dung từng đoạn đã được đánh số. Câu 2: Mâu thuẫn trào phúng cơ bản được thể hiện qua đoạn trích là gì? Mâu thuẫn ấy được thể hiện qua nhan để đoạn trích ra sao? Hãy chỉ ra “hạnh phúc” riêng của mỗi nhân vật trong “hạnh phúc” chung của tang gia và ý nghĩa trào phúng toát ra từ đấy.

Đoạn 1: Cụ cố tổ hơn 80 tuổi chết.

Đoạn 2: Sự sung sướng của các thành viên trong gia đình khi ông cụ cố tổ chết thật.

Đoạn 3: Lễ cất đám được tiến hành theo lối Ta, Tàu, Tây cùng những màn phô diễn thời trang của các thành viên trong gia đình khi đưa tang.

Đoạn 4: Hình ảnh đám ma làm huyên náo cả một thành phố.

Đoạn 5: Quang cảnh và sự nhốn nháo lúc hạ quan tài.

Mâu thuẫn trào phúng cơ bản được thể hiện qua đoạn trích là: sự hạnh phúc của các thành viên trong gia đình khi cụ cố tổ chết; Câu chuyện của Xuân tóc đỏ và cái chết của cụ tổ – một kẻ có tội như Xuân ngờ đâu lại trở thành có đại công với gia đình.

Mâu thuẫn ấy được thể hiện qua nhan đề của đoạn trích phản ánh rất đúng 1 sự thật mỉa mai, hài hước: con cháu của đại gia đình này thật sự sung sướng, hạnh phúc khi cụ cố tổ chết. Đây cũng là tình huống trào phúng chính yếu của toàn bộ chương truyện. Tang gia mà lại hạnh phúc. Nhà có tang mà lại vui vẻ, sung sướng.

Câu 3: Hãy phân tích cách Vũ Trọng Phụng miêu tả đám ma trong hai đoạn cuối. (Lưu ý: Sự kết hợp giữa miêu tả toàn cảnh và cận cảnh đám tang cùng hiệu quả do thủ pháp này tạo ra). Riêng chi tiết “đám cứ đi…” lặp lại trong đoạn 4 có tác dụng gì đặc biệt về mặt nghệ thuật? Câu 4: Lời văn của Vũ Trọng Phụng trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia đậm chất trào phúng. Hãy tìm và phân tích một số dẫn chứng tiêu biểu trong cách dùng từ, cách so sánh, cách đặt câu, dựng đoạn, cách tạo giọng văn,…để làm rõ điều đó.

⟹ Nhan đề phản ánh 1 sự mâu thuẫn trong tâm lí con người: 1 bên là sự hạnh phúc của con người, 1 bên là sự mất mát không thể bù đắp được, vậy mà chúng lại song hành, gắn kết với nhau, đúng là truyện bi hài đáng cười.

Niềm hạnh phúc của những người trong gia đình cụ cố tổ.

Cụ cố Hồng:

Tuy 50 tuổi nhưng lâu nay chỉ mơ ước được gọi là cụ cố.

Dịp may đã tới, cụ nhắm nghiền mắt nghĩ đến lúc được mặc áo xô gai.

Lụ khụ chống gậy, vừa ho khạc vừa khóc mếu máo diễn trò già nua, ốm yếu giữa phố đông người để cho thiên hạ phải trầm trồ

⟹ Nhân vật này điển hình cho loại người ngu dốt, háo danh.

Văn Minh – nhà cải cách y phục Âu hóa “phân vân”, “đăm đăm chiêu chiêu”, “vò đầu rứt tóc” nhưng không phải vì cái chết của cụ cố tổ mà là làm thế nào để cái chúc thư kia sớm đi vào thời kì thực hành và xử trí với Xuân Tóc Đỏ ra sao khi hắn có “2 cái tội nhỏ” nhưng “1 cái ơn to”.

Bà Văn Minh được mặc đồ xô gai tân thời và được dịp lăng-xê những mốt y phục táo bạo nhất.

Cô Tuyết được dịp “mặc bộ y phục Ngây thơ, xinh xinh” đồng thời “trên mặt lại hơi có một vẻ buồn lãng mạn rất đúng mốt 1 nhà có đám”.

Ông Phán mọc sừng cũng thật sự sung sướng vì không ngờ rằng cái sừng trên đầu mình lại có giá trị đến thế và ông tin chắc rằng mình sẽ được trả công xứng đáng.

Xuân Tóc Đỏ thì danh giá và uy tín càng cao vì chính nhờ hắn mà cụ cố tổ chết.

“Niềm hạnh phúc” còn lây ra cả những người ngoài tang quyến.

Hai viên cảnh sát Min Đơ và Min Toa đang lúc thất nghiệp thì được thuê giữ trật tự cho đám tang, đã “sung sướng cực điểm”.

Xã hội trưởng giả bè bạn cụ cố Hồng được dịp khoe các thứ huy chương, phẩm hàm

Sư cụ Tăng Phú thì “sung sướng mà vênh váo” vì tin chắc rằng trong số thiên hạ đứng xem ở các phố thế nào cũng có người nhận ra rằng “sư cụ đã đánh đổ được Hội Phật giáo”.

⟹ Chi tiết hài hước: Ông sư này không đến làm lễ mà để thiên hạ nhận ra mình với thành tích: đánh đổ Hội Phật giáo.

Phân tích cách Vũ Trọng Phụng miêu tả đám ma trong hai đoạn cuối

Một “đám ma to” được tổ chức “theo cả lối Ta, Tàu, Tây, có kiệu bát bát cống, lợn quay đi lọng, cho đến lốc bốc xoảng và bú dích”.

Cái đáng cười: đám ma hổ lốn, tạp pí lù, đám ma mà như đám rước.

Người đi đưa: đông đúc, sang trọng, nam nữ “chim nhau, cười tình với nhau, Đám tang như đám hội, dòng người cứ mãi tắt bật giả dối “đám cứ đi” ⟹ Đám tang thành đám diễn trò bịp bợm, lố lăng, đồi bại về văn hóa.

Hàng phố “nhốn nháo cả lên khen đám ma to”, họ chú ý kiểu quần áo tang của tiệm may Âu hóa.

Cảnh hạ huyệt: Phán mọc sừng khóc to dúi vào tay Xuân tóc đỏ năm đồng xu gấp tư, cụ cố Hồng khóc mếu máo ngất đi. ⟹ Cảnh đám tang diễn ra như một tấn hài kịch, bóc trần sự kệch cỡm, xấu xa, giả dối. Một đám ma to tá, một đám xã hội lố lăng và đồi bại, bản chất của sự thật ẩn nấp sau cái vẻ bề ngoài xấu xa đến xót xa.

Chi tiết “đám cứ đi…” lặp lại trong đoạn 4 có tác dụng

​Nhấn mạnh sự lố bịch,kệch cỡm khi mà cuộc đưa tang vẫn chưa kết thúc của những thành viên trong gia đình và những người đưa tang.

Qua đó, nhà văn muốn phơi bày tất cả sự giả dối, bịp bợm, vô đạo đức của cái xã hội thượng lưu đang hãnh tiến, đắc chí.

Gợi ý:

Sự trào phúng thể hiện rõ trong nhan đề: Nhan đề của đoạn trích phản ánh rất đúng 1 sự thật mỉa mai, hài hước: con cháu của đại gia đình này thật sự sung sướng, hạnh phúc khi cụ cố tổ chết.

Trong cách dùng từ: chết thật, lang băm, cái chết làm cho nhiều người sung sướng, chưa đánh mất cả chữ trinh,…

Cách so sánh: như những vị danh y biết tự trọng, chết một cách bình tĩnh, …

Câu 5: Qua đoạn trích này Vũ Trọng Phụng đã tập trung phê phán điều gì ở xã hội tư sản thành thị hồi bấy giờ?

Tác giả đã tố cáo một xã hội nhố nhăng, suy tàn, thối nát, băng loạn những giá trị đạo đức, giả dối, bịp bợm, vô đạo đức của cái xã hội thượng lưu thời bấy giờ. Từ đó nhà văn đả kích châm biếm sâu cay, thâm thuý những thói xấu xa của xã hội.

5. Hướng dẫn luyện tập

Câu 2: Hãy chỉ ra những mâu thuẫn và những chân dung trào phúng ở đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia.

Mâu thuẫn trào phúng: nguyên tắc gây tiếng cười là phải phát hiện và diễn tả những mâu thuẫn nghịch lí, những điều trái khoáy, ngược đời để bóc trần bản chất của sự việc hiện tượng.

Mâu thuẫn giữa cái thật và cái giả:

Từ một cái chết thật đến đám ma giả: “ba hôm sau, ông cụ già chết thật“à một cái chết đã được mong đợi từ lâu, sự chậm trễ bấy lâu nay của cái chết kia đã là sự đau khổ của đám con cháu vô tâm vô, vô tình . Và cái chết kia cũng đã thật sự là một cái chết thật mang đến những niềm vui riêng cho đám con cháu. Để rồi, một đám ma to tát được tổ chức như đám rước, đám hội khiến ai cũng trầm trồ. Nhưng điều quan trọng nhất của một đám ma, điều cơ bản, đặc trưng lại không hề tồn tại trong đám ma của cụ cố tổ: lòng thương tiếc chân thành dành cho người quá cố không hề hiển hiện trong lòng của đám con cháu cụ và mọi người xung quanh.

Từ một đám ma giả đến hạnh phúc có thật: đằng sau những gương mặt, hành động, tiếng khóc mang vẻ đau thương là sự toan tính lạnh lùng, là niềm vui, hạnh phúc sắt đá của đám con cháu bất hiếu, là nụ cười vô tâm của bao người đến dự đám tang.

Chân dung trào phúng: những chân dung biếm họa được tác giả kí thác những nét vẽ tài tình với từng nỗi niềm riêng, những hạnh phúc quái gỡ kì lạ.

Cụ cố Hồng ( con trai cụ cố tổ): hút thuốc phiện liên tục, ngất ngây, hạnh phúc, hãnh diện vì mơ màng nghĩ đến cảnh được mặc áo xô gai, lụ khụ chống gậy, vừa ho khạc vừa khóc mếu máo để cho thiên hạ bình phẩm ngợi khen.

Cụ bà: chạy đôn chạy đáo lo đám cưới chạy tang cho cô con gái hư hỏng, biết ơn ông đốc tờ Xuân…

Ông Văn Minh: hạnh phúc vì sắp được một phần gia tài, vì tờ di chúc sắp được thực hiện, đăm đăm chiêu chiêu” vì không biết xử trí Xuân Tóc Đỏ ra sao với hai cái tội nhỏ và một cái ơn to.

Vợ Văn Minh: sốt ruột vì mãi không được mặc đồ xô gai tân thời

Cậu Tú Tân: điên người lên vì cậu đã chuẩn bị sẵn sàng mấy cái máy ảnh mà mãi chưa dùng đến, đến lúc hạ huyệt thì cậu như là một đạo diễn để bày trò diễn những điều giả dối

Tuyết: hạnh phúc vì đám tang là lúc được dịp mặc bô y phục ngây thơ để chứng tỏ sự không hư hỏng. Một nét buồn lãng mạn trên khuôn mặt cô không dành cho người quá cố mà là sự mong đợi được thấy Xuân Tóc Đỏ

Phán Mọc Sừng: hả hê vì được bố vợ nói nhỏ vào tai sẽ chia them cho tiền, khóc“oặt người đi” để kịp dúi vào tay Xuân Tóc Đỏ tờ giấy bạc năm đồng gấp tư.

⇒ Những nỗi niềm riêng bên cạnh hạnh phúc chung của một đại gia đình bất hiếu đã được tác giả khắc họa một cách tinh tế và tài tính. Chỉ một hành động nhỏ, một cử chỉ hay một ánh mắt, tác giả đã đưa người đọc đến gần hơn với bản chất, với sự thật về của việc và con người. Mỗi chân dung nhân vật là một khía cạnh của sự thật đời sống bấy giờ, mỗi nhân vật bước ra từ trang sách lại để lại lòng người những đặc điểm riêng về bản chất không thể quên. Vũ Trọng Phụng đã kết hợp những sắc thái chung và riêng để miêu tả cái toàn cảnh, viễn cảnh với cái cụ thể, cận cảnh làm cho bức tranh hiện thực được tái hiện sinh động hơn, ý nghĩa phê phán càng sâu sắc hơn.

6. Một số bài văn mẫu về văn bản Hạnh phúc của một tang gia

7. Hỏi đáp về văn bản Hạnh phúc của một tang gia

Nếu có thắc mắc cần giải đáp các em có thể để lại câu hỏi trong phần Hỏi đáp, cộng đồng Ngữ văn HỌC247 sẽ sớm trả lời cho các em.

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài: Hạnh Phúc Của Một Tang Gia – Ngữ Văn 11 Tập 1 trên website Maiphuongus.net. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!