Xem Nhiều 2/2023 #️ Soạn Bài Đất Nước Ngắn Gọn Đầy Đủ Nhất # Top 10 Trend | Maiphuongus.net

Xem Nhiều 2/2023 # Soạn Bài Đất Nước Ngắn Gọn Đầy Đủ Nhất # Top 10 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài Đất Nước Ngắn Gọn Đầy Đủ Nhất mới nhất trên website Maiphuongus.net. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

I. Tìm hiểu chung để soạn bài Đất nước

1. Tác giả

a) Cuộc đời tác giả

– Nguyễn Khoa Điềm (sinh năm 1943) – ông không chỉ là nhà thơ mà còn đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trong cơ quan nhà nước như Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin, nguyên Ủy viên Bộ chính trị, đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa X.

Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm

– Ông sinh ra ở Huế và hiện tại cũng đang sinh sống và nghỉ hưu an dưỡng tuổi già tại quê nhà.

– Trong sự nghiệp sáng tác của mình, ông đạt được nhiều giải thưởng như: Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Cố đô, Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật,…

b)  Phong cách sáng tác

– Ông có nhiều tập thơ được xuất bản như: Đất ngoại ô, Ngôi nhà có ngọn lửa ấm, Cõi lặng,…

– Thơ Nguyễn Khoa Điềm luôn hướng về hình ảnh con người và đất nước Việt Nam.

2. Tác phẩm Đất Nước

a)  Hoàn cảnh sáng tác

– Bài thơ Đất nước được sáng tác nằm ở ngay phần đầu của chương V bản trường ca “Mặt đường khát vọng” in vào năm 1974.

– Bài thơ ra đời trong giai đoạn nhân dân miền Nam chống Mỹ năm 1971, tại chiến trường Trị – Thiên.

b)  Nội dung tác phẩm

– Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm đưa chúng ta về cội nguồn dân tộc, khơi dậy niềm tự hào dân tộc, tình yêu con người, đất nước thiêng liêng.    

II. Soạn bài Đất nước chi tiết

Câu 1: Bố cục bài thơ: 3 phần

– Đoạn 1 (từ đầu đến “Đất nước có từ ngày đó’): Đất nước có khi nào?

– Đoạn 2 (tiếp theo đến “Làm nên đất nước muôn đời”): Khái niệm đất nước.

– Đoạn 3 (tiếp theo đến hết): đất nước là của ai và do ai hình thành nên?

Câu 2: Dựa trên phương diện nào để nhà thơ đưa ra cảm nhận về đất nước trong đoạn đầu

– Nguyễn Khoa Điềm cảm nhận trên những phương diện sau trong bài thơ Đất nước lớp 12:

a)  Chiều dài lịch sử

– Từ khi huyền thoại Lạc Long Quân và Âu Cơ xuất hiện đẻ ra bọc trăm trứng.

– Có những kiếp người bình dị nhưng lại làm nên đất nước.

– Họ bảo vệ và đóng góp những giá trị tinh thần và vật chất tốt đẹp cho đất nước.

b)  Chiều rộng không gian địa lý

– Không chỉ gò bó trong phạm vi gia đình mà còn mở rộng, trải dài cả nước.

– Đất nước là cội nguồn, gắn bó với cuộc sống của mỗi chúng ta trong không gian gắn bó, gần gũi.

– Đất nước còn là nơi sinh tồn của bao thế hệ này qua thế hệ khác.

c)  Chiều sâu về văn hóa

– Bề dày truyền thống của cha ông từ thời xưa để lại như phong tục ăn trầu thể hiện nét đẹp đặc sắc riêng của dân tộc trong đời sống dân tộc và ẩn chứa ý nghĩa tình cảm son sắc của con người Việt Nam; truyền thống đoàn kết đánh giặc và đất nước còn gắn liền với những truyền thống đạo lí tốt đẹp của dân tộc.

Câu 3: Soạn Đất nước sẽ phải nêu bật tư tưởng “Đất nước là của nhân dân” được thể hiện trong đoạn trích?

– Nhân dân đã và đang làm nên đất nước bằng nghĩa tình sâu đậm, bằng truyền thống đánh giặc bảo vệ độc lập – tự do dân tộc, bằng tinh thần ham học hỏi, bằng nếp sống bình dị. 

 Nhân dân tham gia kháng chiến chống giặc ngoại xâm

– Nhân dân chiến đấu và bảo vệ đất nước như những chuyện bình dị nhất.

– Dân ta luôn giữ gìn và truyền lại những văn hóa, bản sắc riêng biệt, tốt đẹp của dân tộc với những thứ vật thể đến những điều phi vật thể.

 Hình ảnh một góc không gian đất nước yên bình

– Tác giả khẳng định đất nước này là đất nước của nhân dân, do nhân dân tạo ra và thức tỉnh thế hệ trẻ phải có trách nhiệm bảo vệ đất nước lúc lâm nguy, khi bị xâm chiếm. – Những nét khác biệt của bài thơ so với trong các bài chống Mỹ khác vì: Trước đây, các nhà thơ hay đề cập đến đất nước trên góc nhìn địa lý, hoặc chiều dài lịch sử, văn hóa nhưng chưa từng nhắc đến những con người bình dị, vô danh.

Xem Thêm:

Phân tích bài thơ Đất Nước

Phân tích bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh

Soạn bài Rừng Xà Nu

III. Tổng kết soạn bài Đất nước

1. Giá trị nội dung

– Bài thơ mở ra những quan điểm mới mẻ về đất nước mà lần đầu được phát hiện trên nhiều phương diện khác nhau như lịch sử, địa lý, văn hóa,…

– Qua đó muốn nhắn nhủ thế hệ trẻ yêu và cống hiến cho đất nước nhiều hơn.

2. Giá trị nghệ thuật

– Vận dụng văn học dân gian.

– Bút pháp sử thi kết hợp giọng điệu trữ tình linh hoạt.

– Thể thơ tự do, phóng khoáng, không bị gò bó mà thoải mái sáng tạo.

Ngoài bài thơ Đất nước lớp 12, Kiến Guru còn hỗ trợ rất nhiều các bài soạn văn giúp các bạn nắm bài nhanh trên lớp.

Soạn Bài Vào Phủ Chúa Trịnh Ngắn Gọn, Đầy Đủ Nhất

A- Tác giả, tác phẩm Vào phủ chúa Trịnh

– Lê Hữu Trác (1724 – 1791) tên hiệu là Hải Thượng Lãn Ông, quê cha ở Hưng Yên, quê mẹ ở Hà Tĩnh.

– Ông là một danh y đồng thời là nhà văn nhà thơ lớn.

– Ông là tác giả của bộ sách y học nổi tiếng “Hải Thượng y tông tâm lĩnh”.

2. Tác phẩm Thượng kinh ký sự

– Thượng kinh ký sự là tập nhật kí bằng chữ Hán, in ở cuối bộ “Y tông tâm lĩnh“, được viết bằng chữ Hán.

– Hoàn cảnh sáng tác: Tác phẩm được trích từ quyển Thượng kinh kí sự nói về việc Lê Hữu Trác tới kinh đô được dẫn và phủ Chúa để bắt mạch kê đơn cho Thế tử Trịnh Cán.

– Nội dung chính: miêu tả quang cảnh ở kinh đô, cuộc sống xa hoa trong phủ chúa và quyền uy thế lực của nhà chúa qua những điều mắt thấy tai nghe, nhân dịp Lê Hữu Trác được chúa Trịnh Sâm triệu về kinh đô chữa bệnh cho chúa và thế tử Trịnh Cán. Tác phẩm còn thể hiện thái độ kinh thường danh lợi của tác giả.

– Bố cục

Bố cục Vào phủ chúa Trịnh được chia làm 4 phần chính, bao gồm:

+ Phần 1: Quang cảnh bên ngoài phủ chúa.

+ Phần 2: Những điều mắt thấy tai nghe khi vào phủ chúa

+ Phần 3: Quang cảnh khi đi sâu vào nội cung và khám bệnh cho thế tử

+ Phần 4: Tác giả nhận định và đề ra phương án chữa bệnh

3. Tóm tắt đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh

+ Cách tóm tắt 1

Nhân vật trong câu chuyện là Lê Hữu Trác, thầy lang giỏi. Ông có lệnh vào phủ chúa Trịnh để chữa bệnh, ông đi vào chốn phồn hoa, vốn là quan trong triều đình nhưng khi thấy cảnh giàu sang, sung sướng, phồn hoa của vua chúa Trịnh cũng lấy làm ngạc nhiên. Sau khi trải qua nhiều lớp cửa ông cũng đến được nơi chúa ở, phòng chúa ở rất đặc biệt được sơn son thếp vàng, đều là những đồ quý giá mà nhân gian chưa từng thấy. Trong khi chờ đợi chúa, ông được ăn những đồ ngon vật lạ hiếm có trên đời, qua đó biết được khẩu vị của những bậc quyền quý. Ông có nhiệm vụ bắt mạch, tìm bệnh cho thế tử, nhận thấy bệnh của thế tử xuất phát từ chúa thường ở chốn màn che trướng phủ, ăn sướng, mặc ấm phủ tạng yếu, bệnh đã lâu nên trầm trọng. Vì nghĩ đến nước nhà, lòng trung thành đối với đất nước ông đã kê đơn thuốc giúp thế tử chữa trị bệnh. Sau khi hoàn thành công việc khám bệnh, ông từ giã trở về đợi thánh chỉ.

+ Cách tóm tắt 2

Vào ngày đầu tiên của tháng 2, thầy lang Lê Hữu Trác được lệnh triệu tập vào phủ chúa để khám bệnh cho thế tử Trịnh Cán. Mặc dù chỉ đi từ cửa sau của phủ chúa nhưng ông cũng thấy được mức độ xa hoa, giàu có như thế nào. Đồ đạc đều được sơn thếp vàng, đồ cổ quý giá nhiều vô kể, cả một căn nhà lớn lại là phòng trà, thực sự quá xa hoa. Cho dù cuộc sống xa hoa nơi phủ chúa là vậy nhưng Lê Hữu Trác vẫn có thể nhận ra được bức tranh hiện thực ở nơi đây là rất tùng túng và ngột ngạt. Thế tử ở nơi trưởng rủ màn che đến mức mà thầy lang phải đi qua mấy lớp cửa, vài hàng lang dài miên man mới có thể đến được nơi để thăm khám. Cũng bởi sống cuộc sống sung sướng như ở trong nơi nắng mưa chẳng tới đầu, ăn quá no, mặc quá ấm, lại thêm không chịu vận động nên mới khiến cho nội phủ mới yếu đi mà sinh ra bệnh. Lê Hữu Trác vốn là người không màng công danh, lợi lộc nên sau khi kê đúng đơn thuộc đã từ giã về quê đợi thành chỉ.

+ Cách tóm tắt 3

Tôi vẫn nhớ ngày hôm đó vào sáng sớm ngày 1/2 nhận được thánh chỉ vào phủ chầu ngay lập tức. Đi từ cửa sau vào phủ tôi nhìn thấy cây cối um tùm, chim hót líu lo, muôn hoa đua nở, chỉ vậy thôi cũng đủ nhận thấy sự giàu sang của vua chúa lớn đến nhường nào. Đi tiếp qua vài lần cửa nữa, qua các hàng lang dài miên man thì cuối cùng tôi được dẫn vào ngôi nhà lớn mà được gọi là phòng trà. Đồ đạc đều được sơn thếp vàng, tôi cũng thấy cả những đồ vật cổ quý giá. Tôi không được yết kiến Thánh thượng vì lúc đó người đang ngự phòng thuốc cùng các phi tần. Sau khi được dùng bữa với những thứ sa hoa thôi được đưa đến yết kiến ở Đông Cung để thăm khám cho thế tử Trịnh Cán. Bởi nằm lâu trong chốn màn che trướng rủ, ăn quá nó, mắc quá ấm lại thêm lười vận động nên nội phủ tạng yếu đi, dẫn đến phát bệnh. Tôi nghĩ còn nợ ơn nước nên đã kê đơn thuốc theo đúng bệnh rồi từ giã trở về quê chờ thánh chỉ.

B- Soạn bài Vào phủ Chúa Trịnh

I. Soạn bài Vào phủ chúa Trịnh ngắn nhất

Câu 1 (trang 9 SGK Ngữ văn 11 tập 1). Quang cảnh trong phủ chúa được miêu tả như thế nào? Cung cách sinh hoạt trong phủ chúa ra sao? Những quan sát, ghi nhận này nói lên cách nhìn, thái độ của Lê Hữu Trác đối với cuộc sống nơi phủ chúa như thế nào?

Trả lời:

– Quang cảnh trong phủ chúa: Lộng lẫy, tráng lệ.

+ Phải qua nhiều lần cửa, “ai muốn ra vào phải có thẻ”.

+ Vườn hoa: cây hoa um tùm, chim kêu, gió đưa.

+ Lầu son gác tía.

+ Đồ đạc quý hiếm, sơn son thếp vàng.

+ Nội cung thế tử: Phải qua năm sáu lần trướng gấm, phòng thắp nến, sập thếp vàng, ghế rồng sơn son thếp vàng lấp lánh, hương hoa ngào ngạt.

– Cung cách sinh hoạt nơi phủ chúa là cung cách sinh hoạt sa hoa, quyền quý.

+ Đầy quyền uy, có đầy tớ truyền lệnh

+ Nhắc đến chúa và thế tử một cách cung kính: “thánh thượng đang ngự ở đấy, chưa thể yết kiến”, “hầu mạch Đông cung thế tử”, “hầu trà”…

+ Nhiều phi tần, kẻ hầu người hạ, thế tử có 7-8 thầy thuốc,…

– Cách nhìn, thái độ của Lê Hữu Trác: không màng tới những thứ sa hoa, không đồng tình với cuộc sống quá no đủ, tiện nghi nhưng thiếu tự do.

Câu 2 (trang 9 SGK Ngữ văn 11 tập 1). Phân tích những chi tiết trong đoạn trích mà anh (chị) cho là “đắt”, có tác dụng làm nổi bật giá trị hiện thực của tác phẩm.

Trả lời:

– Chi tiết đắt: ” Mâm vàng chén bạc, đồ ăn toàn là của ngon vật lạ” hay chi tiết miêu tả về nơi ở của thế tử: qua năm sáu lần trướng gấm, phòng thắp nến, sập thếp vàng, ghế rồng sơn son thếp vàng lấp lánh, hương hoa ngào ngạt.

– Các chi tiết thể hiện sự quyền quý, giàu có, chứng tỏ quyền uy và cuộc sống sa hoa, ăn chơi hưởng lạc của nhà chúa lúc bấy giờ.

Câu 3 (trang 9 SGK Ngữ văn 11 tập 1). Cách chẩn đoán và chữa bệnh của Lê Hữu Trác cùng những diễn biến tâm tư của ông khi kê đơn cho ta hiểu gì về người thầy thuốc này?

Trả lời:

Cách chẩn đoán bệnh của Lê Hưu Trác trong Vào phủ chúa Trịnh cho thấy ông là

– Một người thầy thuốc giỏi, giàu kinh nghiệm.

– Một thầy thuốc có lương tâm và đức độ.

– Đặc biệt ông còn khinh thường danh lợi, quyền quý, yêu thích tự do và nếp sống thanh đạm, giản dị.

Câu 4 (trang 9 SGK Ngữ văn 11 tập 1). Theo anh (chị), bút pháp kí sự của tác giả có gì đặc sắc? Phân tích những nét đặc sắc đó.

Trả lời:

Bút pháp đặc sắc trong truyện

– Sự quan sát tỉ mỉ, ghi chép trung thực những gì đã nhìn thấy

– Tả cảnh sinh động

– Kể diễn biến sự việc một cách khéo léo, lôi cuốn người đọc

LUYỆN TẬP

Câu hỏi trang 9 SGK Ngữ văn 11 tập 1

So sánh Vào phủ chúa Trịnh với một tác phẩm (hoặc đoạn trích) kí khác của văn học trung đại Việt Nam và nêu nhận xét về nét đặc sắc của đoạn trích này.

Trả lời:

– Điểm chung của đa số các tuỳ bút là giá trị hiện thực và thái độ của nhà văn trước hiện thực ấy.

– Tuy nhiên mỗi tuỳ bút lại có sự khác nhau trong cách bộc lộ thái độ của nhà văn trước hiện thực (trực tiếp hay gián tiếp, rõ ràng hay kín đáo,…); khác nhau trong việc lựa chọn các chi tiết nghệ thuật, cũng như cách thể hiện nghệ thuật.

– Có thể tự làm rõ những điều này khi so sánh Thượng kinh kí sự với Vũ trung tuy bút của Phạm Đình Hổ (một tác phẩm cùng thời) hoặc với Nhật kí Đặng Thuỳ Trâm (một tác phẩm kí thời hiện đại).

II. Soạn bài Vào phủ chúa Trịnh chi tiết

Trả lời: * Về quang cảnh trong phủ chúa:

– Vào phủ chúa Trịnh phải qua rất nhiều lần cửa, với “những dãy hành lang quanh co nối nhau liên tiếp”. Ở mỗi cửa đều có vệ sĩ canh gác, ” ai muốn ra vào phải có thẻ“, trong khuôn viên phủ chúa có điếm “Hậu mã quân túc trực” để chúa sai phái đi truyền bá mệnh lệnh ra bên ngoài. Vườn hoa trong phủ chúa ” cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm, gió đưa thoang thoảng mùi hương“.

– Bên trong phủ bày biện toàn những đồ sang trọng như: kiệu son, võng điều, đồ nghi trượng sơn son thếp vàng rồi những đồ dùng tiếp khách ăn uống toàn là ” mâm vàng, chén bạc“. Trong nội cung thế tử cũng vậy: phòng thắp nến, có sập thếp vàng, ghế rồng sơn son thếp vàng, trên ghế bày nệm gấm, màn che ngang sân, ” xung quanh lấp lánh, hương hoa ngào ngạt“.

Có thể nói, chính những gì đang hiển hiện ra trước mắt người đọc đã tự nói lên tất cả cái quyền uy tối thượng đang nằm trong tay nhà chúa cũng như nếp hưởng thụ cực kì xa xỉ của Trịnh Sâm và gia đình.

* Cung cách sinh hoạt đầy kiểu cách:

– Khi tác giả lên cáng vào phủ theo lệnh của chúa thì có ” tên đầy tớ chạy đàng trước hét đường“. ” Cáng chạy như ngựa lồng” khiến người trong cáng “bị xốc một mẻ, khổ không nói hết”. Trong phủ chúa, ” người giữ cửa truyền báo rộn ràng, người có việc quan qua lại như mắc cửi“.

– Trong cuộc tiếp kiến vị Đông cung thế tử, tất cả những lời lẽ nhắc đến chúa và thái tử đều phải hết sức cung kính, lễ độ (” Thánh thượng đang ngự ở đấy”, “chưa thể yết kiến”, “hầu mạch Đông cung thế tử”, “hầu trà” (cho thế tử uống thuốc), “phòng trà” (nơi thế tử uống thuốc),…).

– Trong cuộc tiếp kiến ấy, tác giả cũng không được thấy mặt chúa. Tất cả những mệnh lệnh của chúa đều được phán bảo qua quan Chánh đường hoặc người truyền mệnh. Thầy thuốc xem bệnh xong cũng không được phép trao đổi với chúa mà phải viết tờ khải để quan Chánh đường dâng lên chúa. Nội cung trang nghiêm đến nỗi vị thầy thuốc cũng phải “nín thở” khi đứng chờ ở xa và “khúm núm” khi đến trước sập để xem mạch cho thế tử.

* Cách nhìn của tác giả:

– Tác giả không bộc lộ trực tiếp thái độ nhưng qua việc chọn chi tiết để kể và tả, đôi lúc xen vào lời nhận xét khách quan, phần nào thấy được thái độ của ông:

+ Ông nhận xét cảnh xa hoa, lộng lẫy tấp nập ở phủ chúa ” khác hẳn người thường” đến mức không tưởng tượng nổi, ” khác nào ngư phủ đào nguyên thưa nào“.

+ Được mời ăn cơm: tác giả nhận xét ” toàn của ngon vật lạ“

Câu 2 (trang 9 SGK Ngữ văn 11 tập 1). Phân tích những chi tiết trong đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh mà anh (chị) cho là “đắt”, có tác dụng làm nổi bật giá trị hiện thực của tác phẩm.

Trả lời:

– Đoạn trích có nhiều chi tiết nghệ thuật rất “đắt”, thể hiện nổi bật nội dung hiện thực của tác phẩm. Sự tinh tế và sắc sảo của tác giả đọng lại trong đoạn trích là ở những chi tiết tuy nhỏ nhưng rất gây ấn tượng. Ví như chi tiết đối lập: thế tử – mội đứa bé – ngồi chễm chệ trên sập vàng cho thầy thuốc – một cụ già – quỳ lạy. Để rồi “ngài” cười và ban một lời khen “rất trẻ con”: ” Ông này lạy khéo !“.

– Hoặc ở một chi tiết khác khi tác giả đi vào nơi ở của thế tử để xem mạch: ” Đột nhiên thấy ông ta (quan Chánh đường) mở một chỗ trong màn gấm rồi bước vào. Ở trong tối om, không thấy có cửa ngõ gì cả. Đi qua độ năm, sáu lần trướng gấm như vậy…“.

– Chi tiết miêu tả nơi ” Thánh thượng đang ngự” (” có mấy người cung nhân đang đứng xúm xít. Đèn sáp chiếu sáng làm nổi màu mặt phấn và màu áo đỏ. Xung quanh lấp lánh, hương hoa ngào ngạt“), rồi chi tiết miêu tả những dụng cụ dùng để ăn uống, những món ăn khi quan Chánh đường mời thầy thuốc dùng bữa sáng,..

Câu 3 (trang 9 SGK Ngữ văn 11 tập 1) . Cách chẩn đoán và chữa bệnh của Lê Hữu Trác cùng những diễn biến tâm tư của ông khi kê đơn cho ta hiểu gì về người thầy thuốc này?

Trả lời:

Dõi theo từng bước đi của người thầy thuốc, người đọc có thể nhận thấy thái độ, tâm trạng và những suy nghĩ khá sâu sắc của nhà văn:

– Đứng trước cảnh xa hoa lộng lẫy, tấp nập người hầu kẻ hạ nơi phủ chúa, tác giả nhận xét: ” Bước chân đến đây mới hay cảnh giàu sang của vua chúa khác hẳn người thường“. Trước cảnh ấy, tác giả đã vịnh một bài thơ tả hết cái sang trọng, vương giả nơi phủ chúa. Trong bài thơ ấy, tác giả đã phải thốt lên: ” Cả trời Nam sang nhất là đây!“.

+ Khi được mời ăn cơm sáng, tác giả đã khéo léo bày tỏ nhận xét: ” mâm vàng, chén bạc, đồ ăn toàn là của ngon vật lạ, tôi bấy giờ mới biết cái phong vị của nhà đại gia“.

+ Nói về bệnh trạng của thế tử, tác giả nhận xét: ” Vì thế tử ở trong chốn màn che trướng phủ, ăn quá no, mặc quá ấm nên tạng phủ yếu đi“.

Tác giả tỏ ra dửng dưng trước những quyến rũ vật chất, đồng thời có những biểu hiện chứng tỏ thái độ không đồng tình với cuộc sống tuy quá no đủ và tiện nghi nhưng lại thiếu khí trời và không khí tự do.

– Tâm trạng và cảm nghĩ của Lê Hữu Trác trong Vào phủ chúa Trịnh khi chữa bệnh cho thế tử còn diễn biến phức tạp hơn.

+ Thăm bệnh xong, người thầy thuốc đã hiểu được rõ nguyên nhân căn bệnh của thái tử. Ông đưa ra những luận giải rất hợp lí, có cách chữa trị riêng. Nhưng trong lúc ấy, ông lại lo nếu chữa bệnh hiệu quả ngay sẽ được chúa tin dùng, lúc đó lại bị trói buộc bởi vòng danh lợi.

+ Thoáng nghĩ đến việc kê một đơn thuốc vô thưởng, vô phạt nhưng rồi ông lại quên ý nghĩ đó ngay. Việc làm ấy trái với y đức, trái với lương tâm ông và thậm chí phụ lòng trung của tổ tiên. Hai suy nghĩ đó giằng co, xung đột với nhau. Cuối cùng ông đã chọn theo lương tâm, phẩm chất của người thầy thuốc. Ông thẳng thắn đưa ra bài thuốc của mình – một bài thuốc trái với ý của nhiều người khiến quan Chánh đường thậm chí có ý đắn đo.

Từ những chi tiết về việc chữa bệnh của thầy thuốc Lê Hữu Trác, có thể thấy:

+ Tác giả là một thầy thuốc giàu kinh nghiệm, có kiến thức sâu và rộng.

+ Bên cạnh tài năng, ông còn là một người thầy giàu y đức.

+ Trên cả những điều đó là một thái độ coi thường danh lợi, yêu thích nếp sống tự do, thanh đạm ở quê nhà. Quan điểm này tất nhiên cũng gián tiếp cho thấy, tác giả không đồng tình với lối sống xa hoa của những người nắm giữ trọng trách quốc gia.

Câu 4 (trang 9 SGK Ngữ văn 11 tập 1) . Theo anh (chị), bút pháp kí sự của tác giả có gì đặc sắc? Phân tích những nét đặc sắc đó.

– Sự quan sát tỉ mỉ, tinh tế và sắc sảo; bút pháp tả cảnh sinh động.

– Nội dung ghi chép trung thực.

– Kể diễn biến sự việc khéo léo, lôi cuốn, hấp dẫn, đặc biệt là những chi tiết nhỏ có tính chất tạo nên cái thần của cảnh và việc.

– Giọng điệu châm biếm, phê phán một cách nhẹ nhàng, kín đáo.

– Kết hợp tự sự, miêu tả và biểu cảm tạo sức hút, tăng giá trị hiện thực, gây ấn tượng sâu sắc về cảnh và người nơi phủ chúa.

LUYỆN TẬP

Câu hỏi luyện tập trang 9 SGK Ngữ văn 11 tập 1. So sánh đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh với một tác phẩm (hoặc đoạn trích) kí khác của văn học trung đại Việt Nam mà anh (chị) đã đọc và nêu nhận xét về nét đặc sắc của đoạn trích này. (Bài tập chương trình cơ bản)

Trả lời:

– Điểm chung: kể về người thật, việc thật, đề cao giá trị hiện thực và thái độ của nhà văn trước hiện thực ấy.

– Điểm riêng: Tuy nhiên mỗi tuỳ bút lại có sự khác nhau trong cách bộc lộ thái độ của nhà văn trước hiện thực (trực tiếp hay gián tiếp, rõ ràng hay kín đáo,…); khác nhau trong việc lựa chọn các chi tiết nghệ thuật, cũng như cách thể hiện nghệ thuật.

– Có thể tự làm rõ những điều này khi so sánh Thượng kinh kí sự với Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ (một tác phẩm cùng thời) hoặc với Nhật kí ĐặngThuỳ Trâm (một tác phẩm kí thời hiện đại).

* Vào phủ chúa Trịnh với Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh

– Giống nhau: Giá trị của hiện thực và thái độ của tác giả đối với hiện thực

+ Cả 2 tác phẩm đều phản ánh hiện thực thói sống xa hoa, hưởng lạc

+ Thái độ của tác giả: Không đồng tình với cuộc sống xa hoa, tỏ ý phê phán cuộc sống nơi phủ chúa và những con người ở đấy. Đặc biệt là chúa Trịnh Sâm, thế tử Trịnh Cán và quan lại quyền quý.

– Khác nhau:

Vào phủ chúa Trịnh:

+ Nội dung: là kí sự nhân chuyến tác giả được triệu về kinh chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán

+ Nét đặc sắc về nghệ thuật: quan sát tỉ mỉ, ngòi bút tinh tế ghi chép việc thực người thực, chon lọc chi tiết đắt giá; miêu tả khách quan, có sự kết hợp hài hòa giữa giữa thơ và văn xuôi tạo nên chất trữ tình; đặc biệt sự khéo léo trong cách kể xen lẫn lời bình.

Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh:

+ Nội dung: kể lại những thú ham chơi của chúa Trịnh Sâm

+ Nét đặc sắc nghệ thuât: ghi chép chân thực, sinh động, giàu chất trữ tình. Các chi tiết miêu tả đắt giá, tả cảnh tỉ mỉ nhưng nhuốm màu sắc u ám, mang tính chất dự báo. Giọng điệu gần như khách quan nhưng lại khéo léo thể hiện thái độ lên án bọn vua quan thông qua thủ pháp liệt kê.

* Vào phủ chúa Trịnh với Vũ trung tùy bút

– Giống nhau:

+ Giá trị hiện thực

+ Thái độ của tác giả trước hiện thực

– Những điểm đặc sắc riêng của đoạn trích:

+ Vào phủ chúa Trịnh: Sự chú ý chi tiết, bút pháp kể và tả khách quan, những chi tiết chọn lọc sắc sảo tự nói lên ý nghĩa sâu xa …

+ Đặc biệt là của bút pháp kí sự Lê Hữu Trác:

Quan sát tỉ mỉ, ghi chép trung thực.

Tả cảnh sinh động, kể khéo léo, lôi cuốn.

Nghệ thuật tương phản càng thể hiện rõ giá trị hiện thực tác phẩm và chân dung tác phẩm.

III. Soạn Vào phủ chúa Trịnh nâng cao

Câu 1. Cho biết Lê Hữu Trác dùng bao nhiêu lần từ thánh chỉ, thánh thượng, thánh thể trong đoạn trích? Những từ đó dùng để chỉ cái gì, chỉ ai và dụng ý của tác giả?

Trả lời:

Trong đoạn trích, Lê Hữu Trác đã dùng từ thánh chỉ 4 lần (” có thánh chỉ triệu cụ vào”, “có thánh chỉ triệu”, “nay vâng thánh chỉ vào kinh”, “để chờ xem thánh chỉ như thế nào”), từ thánh thượng 3 lần (” thánh thượng cho phép cụ vào hầu mạch”, “thánh thượng đang ngự ở đấy”, “thánh thượng thường vẫn ngồi trên ghế rồng này”) và từ thánh thể 1 lần ( “tôi thấy thánh thể gầy, mạch lại tế, sác”).

Những từ này dùng để chỉ:

+ Thánh chỉ: chiếu chỉ của vua, ở đây là chiếu chỉ của chúaTrịnh Sâm.

+ Thánh thượng: từ dùng để chỉ nhà vua, ở đây chỉ chúa Trịnh Sâm.

+ Thánh thể: thân thể, cơ thể của vua, ở đây chỉ thế tử Trịnh Cán.

Câu 2. Trong đoạn trích, tác giả kể ra rất nhiều người phục vụ, từ quan quân đến người hầu. Điều này gợi cho anh (chị) suy nghĩ gì về uy quyền của chúa Trịnh Sâm?

Trả lời:

Trong đoạn trích, tác giả kể ra rất nhiều người phục vụ, từ quan quân đến người hầu. Số lượng cùng chức vụ và tính chất của những người phục vụ đó cho thấy uy quyền của nhà chúa và hệ thống quan liêu ăn bám rất lớn. Phủ chúa chẳng những giống mà còn hơn cả cung vua. Sự thực ấy không chỉ được Lê Hữu Trác phản ánh mà sử sách bấy giờ ghi chép cũng rất nhiều.

Câu 3. Để đến được nơi ở của thế tử Cán, Lê Hữu Trác phải đi qua những nơi nào? Quang cảnh và cách bài trí từng nơi tác giả đi qua gợi cho anh (chị) suy nghĩ gì về cuộc sống của chúa Trịnh?

Trả lời:

Để đến được nơi ở của thế tử Cán, Lê Hữu Trác phải bước qua màn gấm đi vào bên trong tối om, sau đó đi qua độ năm, sáu lần trướng gấm như vậy và đến một cái phòng rộng nơi thế tử sống.

Quang cảnh và cách bài trí từng nơi tác giả đi qua gợi ra một cuộc sống quyền quý, giàu sang khác hẳn người thường của chúa Trịnh trong phủ chúa.

Câu 4. Dựng lại không khí khám bệnh cho thế tử Cán trong phủ chúa Trịnh. Chú ý tới sự hối hả, tấp nập có vẻ trang nghiêm nhưng hài hước qua cách kể của người tường thuật.

Trả lời:

Ngay từ “sáng tinh mơ” Lê Hữu Trác đã bị hối thúc bởi “tiếng gõ cửa rất gấp”, người đưa tin thì “thở hổn hển” vì phải “chạy” để báo tin cho kịp, lính thì đã đem cáng đến chờ sẵn ở ngoài cửa và yêu cầu phải “vào phủ chầu ngay”.

Không khí đi đường được miêu tả vừa buồn cười, vừa đáng thương. Trong Thượng kinh kí sự tác giả viết: Đầy tớ phải “chạy đàng trước hét đường”, cáng thì “chạy như ngựa lồng” khiến người được khiêng bị xóc “khổ không nói hết”… Khi bước chân vào cửa phủ chúa, không khí càng gấp gáp hơn. Người giữ cửa thì truyền báo “rộn ràng”, người khác thì “qua lại như mắc cửi”,…

⇒ Không khí hối hả, tấp nập có vẻ trang nghiêm nhưng qua cách kể, cách nhìn của người tường thuật nó lại trở nên hài hước và mỉa mai.

Câu 5. Theo anh (chị), cách viết kí của Lê Hữu Trác có gì đặc sắc?

Trả lời:

– Cách viết kí của Lê Hữu Trác có sự kết hợp với nhiều hình thức nghệ thuật như du kí, nhật kí, hồi kí, kí phong cảnh,…

– Có nhiều chi tiết, sự việc được ghi chép một cách trung thực.

– Bộc lộ thái độ một cách kín đáo qua việc miêu tả khách quan.

– Sự quan sát tỉ mỉ, tinh tế và sắc sảo; bút pháp tả cảnh sinh động.

– Kể diễn biến sự việc khéo léo, lôi cuốn, hấp dẫn, đặc biệt là những chi tiết nhỏ có tính chất tạo nên cái thần của cảnh và việc.

– Giọng điệu châm biếm, phê phán một cách nhẹ nhàng, kín đáo.

– Kết hợp tự sự, miêu tả và biểu cảm tạo sức hút, tăng giá trị hiện thực, gây ấn tượng sâu sắc về cảnh và người nơi phủ chúa.

LUYỆN TẬP

Câu hỏi. Anh chị hãy dựng lại hình tượng nhân vật Lê Hữu Trác qua đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh (Bài tập chương trình nâng cao).

Gợi ý:

Qua đoạn trích có thể dựng lại hình tượng nhân vật Lê Hữu Trác như sau:

− Lê Hữu Trác – nhà văn, nhà thơ tài năng, khái quát được cảnh giàu sang của chúa khác hẳn người thường qua đoạn trích. Lời thơ pha một chút châm biếm, từ ngữ đăng đối, ý tứ sâu xa.

− Lê Hữu Trác – bậc túc nho, tính tình thâm trầm, hóm hỉnh, luôn mỉm một nụ cười kín đáo châm biếm chúa Trịnh.

− Lê Hữu Trác – một danh y từ tâm và am hiểu y lí sâu sắc. Quan niệm chữa bệnh của ông khác hẳn các danh y của hai cung, sáu viện.

– Vì y lí sâu sắc, lại có lòng từ tâm của một bậc danh y, nên ở Lê Hữu Trác có sự mâu thuẫn khó xử: nếu chữa chạy cho thế tử Cán khỏi bệnh, sẽ được chúa trọng dụng, nghĩa là bị giữ lại trong cung không được về với núi xưa vườn cũ, nhưng nếu không hết lòng vì con bệnh thì trái với đạo đức của bậc lương y. Cuối cùng, y đức thắng sở thích ẩn dật của bậc trí ẩn. Lê Hữu Trác đành phải tận tâm chữa bệnh cho thế tử Cán. Chỉ tiếc rằng, chúa và những kẻ “quân sư” cho chúa không dám dùng phương thuốc của ông.

C – Kiến thức mở rộng

Đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh mang giá trị hiện thực sâu sắc. Bằng tài quan sát tinh tế và ngòi bút ghi chép chi tiết, chân thực, sắc sảo, tác giả đã vẽ lại một bức tranh sinh động về cuộc sống xa hoa, quyền quý của chúa Trịnh, đồng thời cũng bộc lộ thái độ coi thường danh lợi.

Đoạn trích ” Vào phủ chúa Trịnh” vẽ lại một bức tranh sinh động về cuộc sống xa hoa quyền quý của chúa Trịnh. Lê Hữu Trác sử dụng người trần thuật ngôi thứ nhất,trực tiếp tiếp cận cung cách sinh hoạt xa hoa của chúa Trịnh. Nhà văn quan sát tỉ mỉ, ghi chép trung thực, tả cảnh sinh động, thuật việc khéo léo.

Bức tranh chân thực, sinh động về cuộc sống xa hoa đầy quyền uy nơi phủ chúa Trịnh và thái độ, tâm trạng của nhân vật “tôi” khi vào phủ chúa Trịnh chữa bệnh cho Trịnh Cán.

– Vẻ đẹp tâm hồn của Hải Thượng Lãn Ông: lương y, nhà nho thanh cao, coi thường danh lợi.

– Những nét đặc sắc của bút pháp kí sự: tài quan sát, miêu tảsinh động những sự việc có thật; lối kểchuyện lôi cuốn, hấp dẫn; chọn lựa chi tiết đặc sắc, đan xen văn xuôi và thơ.

Đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh phản ánh quyền lực to lớn của Trịnh Sâm, cuộc sống xa hoa hưởng lạc trong phủ chúa, đồng thời bày tỏ thái độ coi thường danh lợi, quyền quý của tác giả.

3. Giá trị nội dung và nghệ thuật

* Giá trị nội dung

– Đoạn trích mang giá trị hiện thực sâu sắc

+ Cuộc sống sa hoa, quyền quý của chúa Trịnh và tầng lớp quan lại thực dân. Sự sa hoa trong cách bày trí, kiến trúc, nội thất ở đây hoàn toàn đối lập với sự nghèo đói, thiếu thốn, khổ cực của nhân dân ở ngoài kia.

+ Bộ máy quan lại, guồng máy phục vụ đông đúc, tấp nập với những nghi lễ kì lạ, sự kiểm soát nghiêm ngặt và những phép tắc , quy củ ngặt nghèo, ngay cả với việc khám bệnh cho thế tử.

+ Cuộc sống ăn chơi, trụy lạc, sa đọa dẫn tới bện tật của cha con chúa Trịnh Sâm, Trịnh Cán được hiện lên rõ nét chỉ bằng một vài chi tiết miêu tả của tác giả.

– Hình ảnh của người thầy thuốc Lê Hữu Trác.

+ Thờ ơ, dửng dưng thậm chí là châm biếm, mỉa mai với cuộc sống sa hoa, giàu sang quyền quý trong phủ Chúa. Đồng thời cũng cho ta thấy được ông là một con người coi thường danh lợi, không để vinh hoa phú quý, tiền tài công danh ràng buộc.

+ Là một người thầy thuốc giỏi, có lương y, có đạo đức cao cả: ông bắt được ngay bệnh của chúa Trịnh Cán và có cách chữa trị từ cội nguồn, gốc rễ của bệnh. Dù biết có thể sẽ bị vướng chân vào vòng danh lợi nhưng lương tâm của người thầy thuốc không cho phép ông chữa bệnh theo cách cầm chừng, vô thưởng, vô phạt.

+ Là người cương trực, thẳng thắn, bảo vệ quan điểm, ý kiến của mình mặc dù ý kiến ấy không đồng thuật với số đông ý kiến của các lương y trong phủ Chúa lúc bấy giờ và cả chính quan Chánh đường, người đã tiến cử ông.

* Giá trị nghệ thuật

– Tài quan sát tinh tế và ngòi bút ghi chép chi tiết, chân thực, sắc sảo đã dựng nên bức tranh phủ chúa với hiện thực cuộc sống vô cùng sinh động.

– Tác giả đã lựa chọn khắc họa những chi tiết đặc sắc tạo nên cái thần của cảnh vật. Những chi tiết đắt giá ấy đã giúp cho người đọc hình dung ngay về hiện thực, nhân vật mà tác giả đang nói tới.

– Sự đang xen thơ vào trong tác phẩm làm cho bài kí của ông đậm chất trữ tình.

-/-

Với toàn bộ nội dung chi tiết phía trên các em hoàn toàn có thể tự tin chuẩn bị bài soạn Vào phủ chúa Trịnh trong phần soạn văn 11 tốt nhất trước khi lên lớp. Chúc các em học tốt.

Soạn Văn 8 (Ngắn Gọn, Đầy Đủ Và Chi Tiết Nhất)

I. Khái quát chung về Kiến thức Ngữ văn 8

Chương trình Văn 8 gồm 3 phần: phần Đọc – Hiểu Văn bản, phần Tiếng Việt và phần Tập làm văn. Mỗi phần đều có những lưu ý riêng, các em nên nắm được những điều này cho từng phần.

Chương trình Văn 8 đề cập tới rất nhiều đề tài, qua mỗi đề tài đều thể hiện được nội dung mà nó muốn gửi gắm, từ tình cảm thời học trò trong sáng, đến tình mẫu tử thiêng liêng, cao cả, rồi vươn xa đến khát vọng to lớn, muốn thoát khỏi những lối sống tầm thường, khuôn phép,….

+ Những hình ảnh trong sáng của các em học sinh trong buổi tựu trường đầu tiên trong cuộc đời, những tình cảm đầu tiên của tuổi học trò trong những tác phẩm: Tôi đi học; Người thầy đầu tiên.

+ Những Tác phẩm về đề tài cuộc sống, con người trong xã hội phong kiến. Số phận đáng thương của những con người nghèo khổ, những người Nông dân bị áp bức, bóc lột, bị xã hội chà đạp mà không làm thế nào để thoát khỏi: Tức nước vỡ bờ, Lão hạc.

+ Câu chuyện cảm động về tình mẫu tử cao Quý, thiêng liêng : Trong lòng mẹ.

+ Một bức tranh đẹp đẽ về thiên nhiên, về con người qua cái nhìn xuất phát từ tấm lòng nhân hậu của cáo Nhà văn: Cô bé bán diêm, Hai cây phong, Đánh Nhau với cối xay gió, và Tác phẩm Chiếc lá cuối cùng.

+ Những tình cảm chân thật, khát vọng muốn thoát khỏi những lối sống tầm thường, khuôn phép, khát vọng muốn được khẳng định mình, khát khao về một cuộc sống đích thực: Nhớ rừng và Quê hương.

+ Tinh thần yêu nước sâu sắc, không gì ngăn cản được, đi đôi với Tinh thần lạc quan, yêu đời: Khi con tu hú, Tức cảnh Pác Bó, Ngắm trăng, Đi đường, Vào Nhà ngục Quảng Đông cảm Tác, Đập đá ở Côn Lôn.

+ Kí: Các tác phẩm nổi bật là Tôi đi học và Trong lòng mẹ

+ Truyện: Tức nước vỡ bờ và Lão Hạc.

+ Thơ 1930 – 1945: Đập đá ở Côn Lôn, Vào nhà ngục Quảng Đông cảm Tác, Ông đồ, Nhớ rừng, Khi con tu hú, Ngắm trăng, Đi đường, tức cảnh Pác Bó.

+ Văn học nước ngoài: Hai cây phong, Cô bé bán diêm, Chiếc lá cuối cùng, Đánh nhau với cối xay gió.

+ Văn học cổ: Hịch tướng sĩ, Chiếu dời đô và nước Đại Việt ta.

+ Văn bản nhật dụng: Thông tin Trái Đất ngày 2000, Bài toán dân số, Ôn dịch thuốc lá.

+ So sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, điệp từ, nói quá, nói giảm nói tránh, chơi chữ.

+ Lặp cú pháp, câu hỏi tu từ, đảo trật tự cú pháp.

+ Điêp từ, đối Thanh, hài thanh, từ láy tượng hình, tượng Thanh.

Trường từ vựng, từ loại, hiện tượng chuyển loại của từ: Thực từ và Hư từ.

Dấu câu

Các kiểu câu: phủ định, cầu khiến, nghi vấn, cảm thán và trần thuật.

Hành động nói: hành động hỏi, hành động trình bày, hành động cảm thán, hành động từ chối,…

Phân biệt từ thuần việt và hán việt, từ ghép và từ láy.

Các em sẽ được ôn tập lại kiến thức về Văn tự sự, Văn nghị luận, và được học một thể loại văn mới, đó là văn thuyết minh.

– Văn nghị luận: Chủ yếu là 2 dạng nghị luận văn học và nghị luận xã hội. Nghị luận xã hội lại có 2 dạng là Nghị luận về hiện tượng đời sống: bạo lực học đường, gian lận trong thi cử, tệ nạn xã hội,… và Nghị luận về tư tưởng đạo lý: uống nước nhớ nguồn, tình yêu thương giữa con người với con người,…

II. Các bước để học Ngữ văn tốt hơn

Cần phải Soạn văn trước khi tới lớp

Đầu tiên, thì chúng mình xin khẳng định là Soạn văn trước khi tới lớp là hoàn toàn cần thiết. Và đây sẽ là bước đầu tiên trong công cuộc Chinh phục bộ môn Ngữ Văn.

Soạn văn chính là bước chúng ta đọc trước tác phẩm ở nhà, trả lời trước các câu hỏi trong phần Đọc – Hiểu Văn bản để hiểu rõ và sâu hơn Tác phẩm mà chúng ta sắp được học. Khi Soạn văn trước ở nhà, đồng nghĩa với việc chúng ta đã hiểu sơ qua về tác phẩm. Và khi đến lớp, được nghe cô giáo giảng lại một lần nữa, sẽ giúp chúng ta hiểu sâu hơn tác phẩm. Một phần, nó còn giúp chúng ta tiết kiệm được thời gian trên lớp. Bạn sẽ biết phải nắm bắt những nội dung nào, những ý chính nào của tác phẩm khi thầy cô giảng bài. Không bị bỏ lỡ những kiến thức quan trọng mà thầy cô nhấn mạnh.

Một khi đã hiểu được những ý cơ bản trong tác phẩm được học, thì chắc chắn trong giờ học, bạn sẽ có một sự chủ động nhất định. Bạn có thể không bị bất ngờ khi bị thầy cô gọi đứng lên Phát biểu về một tình huống truyện, hay nhận xét về một hành động của một nhân vật nào đó,.. Bạn sẽ chủ động hỏi lại thầy cô về những vấn đề mà bạn thắc mắc trong tác phẩm,… Tất cả điều đó sẽ đem lại cho bạn một sự chủ động trong học tập, mà chủ động bao giờ cũng tốt hơn bị động, đặc biệt là trong học tập. Phải không nào các bạn!

Dù bạn có chuẩn bị bài trước ở nhà, nhưng chắc chắn một điều rằng sẽ còn những thứ mà bạn chưa cảm nhận được. Và thầy cô chính là những người giúp bạn chạm tới được những cảm nhận còn thiếu đó. Cho nên, trong những giờ học Văn, hay bất kể một giờ học nào đó, hãy chú ý lắng nghe những lời thầy cô giảng nói, nó chính là chìa khóa đưa bạn đến cánh cửa của thành công.

Văn học thực sự là một điều kì diệu. Nó có thể xoa dịu trái tim cho một kẻ chịu tổn thương, có thể khiến con người đau khổ khi đồng cảm cho một số phận đáng thương nào đó hay giúp ta nuôi ý chi khát vọng mãnh liệt, chứng tỏ bản thân mình,…. Bởi vậy, hãy đọc sách mỗi ngày. Đọc để khám phá những điều mới lạ, những thứ mà mình chưa được thấy nhưng lại được miêu tả rất chi tiết và chân thực qua lời kể của những nhà văn tài ba. Đọc để đúc rút ra cách dùng từ, lối hành văn của các Tác giả đó, rồi áp dụng vào trong chính những bài văn của mình. Đọc để có thêm nhiều kiến thức và kinh nghiệm.

III. Một số tác phẩm tiêu biểu trong chương trình Ngữ văn 8

+ Sử dụng những câu văn biền ngẫu, sóng đôi tạo một nhịp điệu cho cả bài chiếu.

+ Những hình ảnh giàu sức gợi hình và gợi cảm

>>> Bài soạn, phân tích Chiếu dời đô >>> Bài soạn, phân tích Nước Đại Việt ta >>> Bài soạn, phân tích Tức cảnh Pác Bó

+ Tư liệu phong phú, xác thực

+ Ngòi bút trào phúng sắc sảo.

Soạn Bài Rút Gọn Câu Lớp 7 Đầy Đủ Hay Nhất

Hớng dẫn Soạn bài Rút gọn câu lớp 7 do wikihoc biên soạn để các bạn tham khảo và đạt kết quả tốt trong học tập

Các bài soạn trước đó:

SOẠN BÀI RÚT GỌN CÂU.

I. Thế nào là rút gọn câu?

Câu 1 trang 14 SGK ngữ văn 7 tập 1:

Câu (a) không có chủ ngữ, các cụm động từ làm vị ngữ

Câu (b) chủ ngữ là “chúng ta”, cụm động từ “học ăn, học nói, học gói, học mở” là vị ngữ

Câu 2 trang 15 SGK ngữ văn 7 tập 2:

Có thể thêm “chúng tôi, người Việt Nam, chúng ta, các em,… rất nhiều các từ ngữ có thể làm chủ ngữ câu (a).

Câu 3 trang 15 SGK ngữ văn 7 tập 2:

Chủ ngữ câu (a) được lược bỏ để cụm động từ vị ngữ “học ăn, học nói, học gói, học mở” trở thành kinh nghiệm chung, lời khuyên, đúng với tất cả mọi người.

Câu 4 trang 15 SGK văn 7 tập 2:

Câu “rồi ba bốn người, sáu bảy người” được rút gọn vị ngữ. Vì ta có thể căn cứ vào câu đứng trước để xác định được vị ngữ của câu này là :đuổi theo nó

Câu “ngày mai” được rút gọn cả chủ ngữ và vị ngữ. Vì người ta có thể căn cứ vào câu đứng trước nó để hiểu được là ” Tôi Hà Nội vào ngày mai” hoặc “Ngày mai tôi đi Hà Nội”

II. Cách dùng câu rút gọn.

Câu 1 trang 15 SGK ngữ văn 7 tập 2:

Những câu in đậm thiếu thành phần chủ ngữ. Không phải bao giờ việc rút gọn câu cũng hợp lí. Tùy tiện lược bỏ thành phần câu như những câu trên khiến cho lời văn trở nên cộc lốc

Câu 2 trang 15 SGK ngữ văn 7 tập 2:

Cần thêm từ ngữ và sửa thành “bài kiểm tra toán mẹ ạ”

Câu 3 trang 16 SGK ngữ văn 7 tập 2:

Khi rút gọn cần lưu ý:

Tránh làm cho người nghe khó hiểu hoặc hiểu sai nội dung cần nói

Tránh sự khiếm nhã, thiếu lễ độ

III. Luyện tập bài Rút gọn câu.

Câu 1 trang 16 SGK ngữ văn 7 tập 2:

Các câu rút gọn: 2, 3

Thành phần bị lược là thành phần chủ ngữ

Hai câu trên rút gọn, một câu nêu nguyên tắc ứng xử, một câu nêu kinh nghiệm sản xuất chung cho tất cả mọi người nên có thể rút gọn làm câu gọn hơn.

Câu 2 trang 16 SGK ngữ văn 7 tập 2:

Các câu rút gọn:

a) rút gọn chủ ngữ

Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà

Dừng chân đứng lại trời non nước

Khôi phục:

Ta bước tới Đèo Ngang bóng xế tà

Ta dừng chân đứng lại trời non nước

b) Rút gọn chủ ngữ

Đồn rằng quan tướng có danh

Cưỡi ngựa một mình chẳng phải vịn ai

Ban khen rằng: “ấy mới tài”

Ban cho cái áo với hai đồng tiền

Đánh giặc thì chạy trước tiên

Trở về gọi mẹ mổ gà khao quân

Khôi phục:

Người ta đồn rằng quan tướng có danh

Hắn cưỡi ngựa một mình chẳng phải vịn ai

Vua ban khen rằng: “ấy mới tài”

Vfa ban cho cái áo với hai đồng tiên

Quan tướng khi đánh giặc thì chạy trước tiên

Khi xông vào trận tiền cởi khổ giặc ra

Quan tướng trở về gọi mẹ mổ gà khao quân

Câu 3 trang 17 SGK ngữ văn 7 tập 2:

Nguyên nhân hiểu lầm: Cậu bé dùng những câu thiếu chủ ngữ để trả lời người khách

Rút ra bài học: để tránh hiểu lầm như trên khi nói năng chúng ta phải tránh dùng những câu rút gọn trong trường hợp ý nghĩa cảu ngữ cảnh không rõ rang, gây hiểu nhầm cho người nghe.

Câu 4 trang 18 SGK ngữ văn 7 tập 2:

Chi tiết có tác dụng gây cười và phê phán là những câu trả lời của anh chàng tham ăn tục uống

Anh ta rút gọn câu một cách quá đáng nhằm mục đích trả lời thatah nhanh,, không mất thời gian ăn uống của mình

Các bài soạn tiếp theo:

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài Đất Nước Ngắn Gọn Đầy Đủ Nhất trên website Maiphuongus.net. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!