Xem Nhiều 1/2023 #️ Soạn Bài: Cảnh Ngày Xuân (Trích Truyện Kiều) – Nguyễn Du # Top 7 Trend | Maiphuongus.net

Xem Nhiều 1/2023 # Soạn Bài: Cảnh Ngày Xuân (Trích Truyện Kiều) – Nguyễn Du # Top 7 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài: Cảnh Ngày Xuân (Trích Truyện Kiều) – Nguyễn Du mới nhất trên website Maiphuongus.net. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Câu 1/ Trang 86/ SGK Ngữ văn 9 Tập 1

Bốn câu thơ đầu gợi lên khung cảnh mùa xuân.

– Những chi tiết nào gợi lên đặc điểm riêng của mùa xuân? (Chú ý những đường nét, hình ảnh, màu sắc, khí trời, cảnh vật).

– Em có nhận xét gì về cách dùng từ ngữ và bút pháp nghệ thuật của Nguyễn Du khi gợi tả mùa xuân?

Trả lời

– Những chi tiết gợi lên đặc điểm của mùa xuân: con én, cỏ non, cành lê trắng điểm.

– Với bút pháp chấm phá tài tình, từ ngữ chọn lọc, hình ảnh giàu sức gợi Nguyễn Du đã rất thành công khi phác họa một bức tranh ngày xuân khoáng đạt, tinh khôi, trong trẻo và tràn trề sức sống. Đồng thời, qua đó còn gợi lên được bao cảm xúc tươi vui, phấn chấn cũng như chút bâng khuâng trong lòng nhân vật trữ tình.

Câu 2/ Trang 86/ SGK Ngữ văn 9 Tập 1

Tám câu thơ tiếp theo gợi lên khung cảnh lễ hội trong tiết Thanh minh:

– Thống kê từ ghép là tính từ, danh từ, động từ (gần xa, yến anh, chị em, tài tử, nô nức, dập dìu,…). Những từ ấy gợi lên không khí và hoạt động của lễ hội như thế nào?

– Thông qua buổi du xuân của chị em Thúy Kiều, tác giả khắc họa một lễ hội truyền thống xa xưa. Em hãy đọc kĩ các chú thích, kết hợp với đoạn thơ để nên những cảm nhận về lễ hội truyền thống ấy.

Trả lời

– Không khí tưng bừng, tấp nập của lễ hội được gợi lên qua hàng loạt từ hai âm tiết giàu sắc thái biểu cảm:

+ Các danh từ: “yếu anh”, “chị em”, “tài tử”, “giai nhân” gợi tả sự đông vui, tấp nập trong ngày hội xuân.

+ Các động từ: “sắm sửa”, “dập dìu” gợi tả không khí rộn ràng, náo nhiệt trong ngày hội.

+ Các tính từ: “gần xa”, “nô nức” gợi tả tâm trạng hồ hởi, phấn khởi của người đi hội.

– Thông qua buổi du xuân của chị em Thúy Kiều, tác giả khắc họa một lễ hội truyền thống xa xưa:

+ “Lễ tảo mộ”: Đi viếng và sửa sang phần mộ của người thân, gia đình, tổ tiên. Gợi sự tri ân của những nam thanh, nữ tú trong ngày đi chơi xuân.

+ “Hội đạp thanh”: Đi chơi xuân ở chốn đồng quê và giẫm lên cỏ xanh. Gợi ngày hội vui mùa xuân của nam thanh nữ tú để có thể tìm đến những sợi tơ hồng của mai sau.

+ Bên cạnh không khí tưng bừng, náo nhiệt, Nguyễn Du đã khéo léo đan cài một khoảng lặng qua hình ảnh “ngổn ngang gò đống”, “tro tiền giấy bay” gợi không gian tĩnh lặng, lạnh lẽo, linh thiêng. Và trong không gian ấy, có sự xuất hiện của những nam thanh, nữ tú đang sửa sang, rắc vàng vó, hóa tiền giấy cho những người đã khuất.

Câu 3/ Trang 86/ SGK Ngữ văn 9 Tập 1

Sáu câu cuối gợi cảnh chị em Thúy Kiều du xuân trở về.

– Cảnh vật, không khí mùa xuân trong sáu câu cuối có gì khác với câu thơ đầu? Vì sao?

– Những từ ngữ: tà tà, thanh thanh, nao nao chỉ có tác dụng miêu tả sắc thái cảnh vật hay còn bộc lộ tâm trạng con người? Vì sao?

– Cảm nhận của em về khung cảnh thiên nhiên và tâm trạng con người trong sáu câu thơ cuối.

Trả lời

– Cảnh vật, không khí trong sáu câu thơ cuối yên tĩnh, êm ả dường như lắng lại, đối lập với không khí rộn ràng, tấp nập, hồ hởi ở những câu thơ đầu.

– Những từ ngữ: tà tà, thanh thanh, nao nao không chỉ có tác dụng miêu tả sắc thái cảnh vật mà còn bộc lộ tâm trạng con người:

+ Từ “tà tà”, “thanh thanh” gợi không khí yên tĩnh, không gian nhỏ hẹp, sự chuyển động nhẹ nhàng khi chiều xuống và tâm trạng phảng phất một nỗi u buồn.

+ Từ “nao nao” gợi nét buồn rất khó tả, thể hiện tâm trạng con người như nhuốm lên cảnh vật.

– Cảm nhận về khung cảnh thiên nhiên và tâm trạng con người trong sáu câu thơ cuối:

ruyện Kiều của Nguyễn Du không chỉ có giá trị lớn về mặt nội dung mà còn thể hiện được bút pháp nghệ thuật tài tình của tác giả. Đặc biệt, sáu câu thơ cuối trong đoạn trích “Cảnh ngày xuân” đã cho thấy được bút pháp tả cảnh ngụ tình xuất sắc của đại thi hào Nguyễn Du.

“Tà tà bóng ngả về tây

Chị em thơ thẩn dang tay ra về

Bước dần theo ngọn tiểu khê

Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh

Nao nao dòng nước uốn quanh

Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang”

   Sáu câu thơ là cảnh chị em Thúy Kiều du xuân trở về –  một bức tranh chiều xuân nên thơ và đượm buồn. Bức tranh ấy được tác giả miêu tả với những nét dịu dàng, chậm rãi, nhuốm màu tâm trạng bâng khuâng, lưu luyến của con người. Với bút pháp nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đầy độc đáo, Nguyễn Du đã gợi lên tâm trạng lưu luyến, tiếc nuối của chị em Thúy Kiều khi phải chia tay hội xuân để ra về:

“Tà tà bóng ngả về tây

Chị em thơ thẩn dang tay ra về”

    Câu thơ ẩn chứa một nỗi buồn sâu xa. Từ láy “tà tà” với nhịp điệu chậm rãi vừa gợi lên hình ảnh mặt trời đang ngả bóng dần vừa gợi lên sự tiếc nuối rằng chị em Thúy Kiều chưa muốn ra về, muốn níu kéo thêm chút khoảnh khắc tươi đẹp của ngày xuân. Từ “thơ thẩn” được sử dụng rất đắt giá, thể hiện sự luyến tiếc khôn nguôi.

“Bước dần theo ngọn tiểu khê

Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh”

     Cảnh vật không còn rộn ràng, tràn đầy sức sống giống như ở bốn câu thơ đầu tiên của bài thơ nữa mà đã nhuốm tâm trạng của con người. Khi con người đắm chìm trong cảnh xuân đẹp đẽ thì cũng là lúc thời gian lặng lẽ trôi đi. Cảnh xuân dù có đẹp đến mấy rồi cũng sẽ tàn phai. Trời đã xế chiều và cuộc du xuân cũng đã kết thúc, tâm hồn của con người dường như cũng đồng điệu với cảnh vật. Cảnh vật vẫn mang một nét đẹp dịu dàng nhưng chuyển động chậm dần, mang dáng dấp nhỏ bé, phảng phất một nỗi buồn. Những từ láy được sử dụng rất hiệu quả: “tà tà”, “nao nao”, “thanh thanh” không chỉ gợi cảnh mà còn bộc lộ tâm trạng tiếc nuối của con người. Cảnh và người dường như có sự đồng điệu. Khi mà con người lưu luyến khôn nguôi thì khung cảnh cũng theo đó mà nhỏ đi như để phù hợp với tâm trạng con người: “ngọn tiểu khê” – dòng suối nhỏ hay như chiếc cầu be bé ở “cuối ghềnh” phía xa xa. Dường như có một linh cảm điều gì đó sắp xảy ra:

“Nao nao dòng nước uốn quanh

Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang”

    Bốn bề trở nên yên ắng, tĩnh lặng. “Nao nao” là trạng thái của dòng nước dường như để đồng cảm với tâm trạng con người với một nỗi buồn khó tả. Dịp cầu nhỏ bé xinh xinh bắc ngang qua dòng suối tạo nên vẻ đẹp bình yên và thơ mộng. Nguyễn Du dùng từ “nao nao” đầy tinh tế. Tả cảnh nhưng cũng để nói lên tâm trạng con người với một nỗi buồn vô cớ chẳng lí giải được. Cũng giống như những câu thơ mà Nguyễn Du từng viết:

“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”

    Với sáu câu thơ cuối trong đoạn trích “Cảnh ngày xuân”, Nguyễn Du đã cho người đọc thấy được bút pháp tả cảnh ngụ tình độc đáo. Miêu tả cảnh hay cũng chính là gợi lên tâm trạng của con người. Cảnh không còn náo nhiệt, sôi động nữa mà trở nên dịu dàng, yên ả cũng giống như tâm trạng luyến tiếc, bâng khuâng của chị em Thúy Kiều khi phải chia tay với hội xuân.

Câu 4/ Trang 87/ SGK Ngữ văn 9 Tập 1

Phân tích những thành công về nghệ thuật miêu tả thiên nhiên của Nguyễn Du trong đoạn trích Cảnh ngày xuân.

(Gợi ý: Đoạn thơ có kết cấu hợp lí như thế nào? Cách sử dụng từ ghép, từ láy giàu chất tạo hình. Sự kết hợp giữa bút pháp tả cụ thể, chi tiết và bút pháp gợi có tính chất điểm xuyết, chấm phá,…).

Trả lời

Thành công của đoạn trích là nghệ thuật miêu tả thiên nhiên, nghệ thuật sử dụng từ ngữ của Nguyễn Du. Tác giả đã sử dụng một hệ thống từ ghép.

Đoạn trích là ba bức tranh đặc sắc về cảnh ngày xuân:

– Bức tranh đầu là cảnh thiên nhiên đặc trưng của mùa xuân. Với vài nét chấm phá của thi nhân, mùa xuân hiện lên tươi đẹp, trong sáng.

– Bức tranh tiếp theo là khung cảnh lễ hội thanh minh nhộn nhịp, đông vui. Hình ảnh con người vui vẻ. Chen chúc đi dự hội đạp thanh. Bằng hàng loạt tính từ, động từ, danh từ, kết hợp với nhịp đội, tác giả đã tạo được không khí vui tươi của ngày hội: nô nức yến oanh, tài tử giai nhân, ngựa xe như nước áo quần như nêm.

– Bức tranh cuối cùng là cảnh ngày hội tan, chị em Thúy Kiều tha thẩn ra về. Tâm trạng bâng khuâng, nuối tiếc của hai chị em dường như hòa trong không gian êm đềm, lắng đọng của chiều tà ấy bằng các từ: thơ thẩn, bước dần, lần xem, nao nao…

Soạn Bài Cảnh Ngày Xuân ( Trích Truyện Kiều Của Nguyễn Du)

Soan bai Canh ngay xuan – Đề bài: Soạn bài Cảnh ngày xuân ( Trích Truyện Kiều của Nguyễn Du) 1. Những chi tiết gợi lên đặc điểm riêng của mùa xuân: + “Ngày xuân” + “Thiều quang” + “Con én” + “Cỏ non” + “Cành lê” Nhà thơ Nguyễn Du đã sử dụng những từ ngữ có chức năng gợi tả mùa xuân, đó là nhữn sự vật, những hiện tượng đi liền, báo hiệu mùa xuân đến. Nhà thơ đã sử dụng những hình ảnh của tự nhiên để …

– Đề bài:

1. Những chi tiết gợi lên đặc điểm riêng của mùa xuân:

+ “Ngày xuân” + “Thiều quang” + “Con én” + “Cỏ non” + “Cành lê”

Nhà thơ Nguyễn Du đã sử dụng những từ ngữ có chức năng gợi tả mùa xuân, đó là nhữn sự vật, những hiện tượng đi liền, báo hiệu mùa xuân đến. Nhà thơ đã sử dụng những hình ảnh của tự nhiên để vẽ nên một bức tranh mùa xuân đầy tươi đẹp, tràn đầy sức sống, đó là những cánh chim én chao liệng, những đám cỏ non xanh mướt kéo dài đến tận chân trời, những cánh lê trắng điểm làm cho bức tranh mùa xuân thêm rực rỡ, sống động. Điều đặc biệt trong bức tranh mùa xuân này, đó là sự chuyển động của thời gian, bằng cách so sánh đầy thú vị, Nguyễn Du đã mang đến mạch vận động nhanh chóng của ngày xuân, đó là những tháng ngày đẹp nhất trong năm nhưng cũng chảy trôi tựa như con thoi trên khung cửi của người thợ may.

2. Những từ ghép là tính từ trong tám câu thơ tiếp là:

+ “Nô nức” + “Sắm sửa” + “Thơ thẩn” Những từ ghép là động từ: +”Ngổn ngang” + “Dập dìu” Những từ ghép là danh từ: + “Tài tử giai nhân” + “Thoi vàng vó” + “Tiền giấy”

Những từ ghép này góp phần làm cho không khí ngày xuân thêm rộn rã, náo nức tươi vui. Không chỉ không gian tươi đẹp, sắc trời tươi xanh mà chính sự xuất hiện của con người càng làm cho bức tranh ấy trở nên sống động, rộn rã hơn.

– Ngày xuân thường gắn liền với một hoạt động lễ hội truyền thống của dân tộc. Đó là tiết thanh minh với hai hoạt động diễn ra song song là phần lễ và phần hội. Đây là một nét văn hóa đẹp và độc đáo của Việt Nam, bởi vào tiết Thanh minh, mọi người sẽ đi Tảo mộ, đốt hương và giấy vàng như sự biết ơn, lời tri ân với ông bà tổ tiên. Đồng thời, tiết thanh minh cũng là một dịp để nam thanh nữ tú, tài tử giai nhân đi chơi xuân, đốt nên những khát vọng thầm kín của tuổi trẻ, đó là khát vọng kết bạn, khát vọng tình yêu, tuổi trẻ.

3. Nếu như những câu thơ đầu, nhà thơ Nguyễn Du mở ra không khí ngày xuân đầy tấp nập, rộn rã với cảnh sắc tràn đầy nhựa sống, người qua kẻ lại đông vui, nhộn nhịp thì trong 6 câu thơ cuối không khí lại trầm xuống, cảnh vật dường như thấm đượm tâm trạng của con người mà nhuốm màu buồn bã, lưu luyến.

– Những từ “tà tà”, “thanh thanh” “nao nao” là những từ láy diễn tả tâm trạng lắng sâu của con người, đó là sự luyến tiếc trước cảnh ngày xuân khi chiều buông, cũng là lúc kết thúc không khí của lễ hội. – Sáu câu thơ cuối dường như có sự hòa nhịp, đồng điệu giữa tâm trạng con người và cảnh vật.

4. Thành công về nghệ thuật của bài thơ “Cảnh ngày xuân”

+ Nhà thơ đã lựa chọn được những hình ảnh, màu sắc, âm thanh tiêu biểu, đặc trưng của ngày xuân để làm chất liệu xây dựng lên bức tranh ngày xuân đầy sống động, chân thực. + Dùng hệ thống những từ láy để làm nổi bật nên tâm trạng vui vẻ, náo nức của con người đi chơi mùa xuân, cũng như nhấn mạnh tâm trạng muộn phiền, lưu luyến khi ngày tàn, lễ hội kết thúc. + Bút pháp miêu tả giàu tính tạo hình, giàu nhạc điệu.

Soạn Văn Bài: Cảnh Ngày Xuân (Trích Truyện Kiều)

Đánh giá bài viết Soạn văn bài: Cảnh ngày xuân (Trích Truyện Kiều) – Nguyễn Du Đọc hiểu văn bản Câu 1: Bốn câu thơ đầu gợi tả khung cảnh thiên nhiên với vẻ đẹp riêng của mùa xuân. Đó là hình ảnh chim én chao liệng như thoi đưa giữa bầu trời xuân trong sáng, thảm cỏ non xanh mượt mà của bức tranh xuân điểm xuyết một vài bông hoa lê …

Soạn văn bài: Cảnh ngày xuân (Trích Truyện Kiều) – Nguyễn Du

Đọc hiểu văn bản

Câu 1:

Bốn câu thơ đầu gợi tả khung cảnh thiên nhiên với vẻ đẹp riêng của mùa xuân. Đó là hình ảnh chim én chao liệng như thoi đưa giữa bầu trời xuân trong sáng, thảm cỏ non xanh mượt mà của bức tranh xuân điểm xuyết một vài bông hoa lê trắng. Màu sắc có sư hài hòa tới mức tuyệt diệu. Tất cả hòa quyện, gợi lên vẻ đẹp riêng của mùa xuân mới mẻ, tinh khôi, tràn trề sức sống (cỏ non), khoáng đạt, trong trẻo (xanh tận chân trời), nhẹ nhàng, thanh khiết (trắng điểm một vài bông hoa). Chữ “điểm” làm cho cảnh vật trở nên sinh động, có tâm hồn, không tĩnh tại. Trong đoạn thơ cùng với bút pháp ước lệ vừa gợi thời gian vừa gợi không gian mùa xuân, tác giả còn dùng nhiều từ ngữ giàu chất tạo hình gợi tả màu sắc, đường nét, cái hồn của cảnh vật.

Câu 2: Khung cảnh lễ hội trong tiết Thanh Minh được gợi tả trong tám câu thơ tiếp:

Phong tục tảo mộ (viếng mộ, sửa sang phần mộ của người thân) và du xuân (hội đạp thanh)

Không khí rộn ràng của lễ hội mùa xuân được gợi lên bởi hàng loạt các từ ghép tính từ, danh từ, động từ:

Từ ghép danh từ: yến anh, chị em, tài tử, giai nhân.

Từ ghép động từ: sắm sửa, dập dìu.

Từ ghép tính từ: gần xa, nô nức.

Câu 3:

Sáu câu cuối gợi tả cảnh chị em Thúy Kiều du xuân trở về. Cảnh vẫn mang cái thanh, cái dịu của mùa xuân nắng nhạt, khe nước nhỏ, một nhịp cầu như bắc ngang. Mọi chuyển động đều nhẹ nhàng. Mặt trời từ từ ngả bóng về tây, bước chân người thơ thần, dòng nước uốn quanh. Tuy nhiên, cái không khí nhộn nhịp, rộn ràng của lễ hội không còn nữa, tất cả đang nhạt dần, lắng dần. Cảnh thay đổi bởi không gian, thời giant hay đổi, và cảnh lúc này được cảm nhận qua tâm trạng. Những từ láy: “tà tà”, “thanh thanh”, “nao nao” không chỉ gợi ta sắc thái cảnh vật mà còn bộc lộ tâm trạng con người. Từ “nao nao” như nhuốm màu tâm trạng lên cảnh vật. Đó là cảm giác bâng khuâng xao xuyến, thấm đượm một nỗi buồn man mác dịu nhẹ.

Câu 4:

Đoạn trích Cảnh ngày xuân có bố cục cân đối, hợp lí. Mặc dù không thật rõ ràng nhưng cũng có thể nói đến kết cấu ba phần: mở đầu, diễn biến và kết thúc.

Tác giả đã sử dụng nhiều từ ngữ giàu chất tạo hình những từ láy gợi hình, tình tứ tả màu sắc, từ ghép… Tác giả kết hợp tài tình bút pháp tả cụ thể, chi tiết và bút pháp gợi có tính chất chấm phá, điểm xuyết.

Nguyễn Du đã cho thấy một nghệ thuật miêu tả thiên nhiên điêu luyện, sắc sảo.

Soạn Bài Thề Nguyền Trích Truyện Kiều Của Nguyễn Du

1. Tóm tắt nội dung bài học

Kể về lễ thề nguyền thiêng liêng, trang trọng – cao trào tình yêu của Thúy Kiều và Kim Trọng mà Kiều là người đóng vai trò chủ động.

→ Đây là nét mới trong cách nhìn nhận tình yêu của Nguyễn Du trong xã hội Phong kiến thời bấy giờ.

​1.2. Nghệ thuật

Vận dụng từ ngữ, cách nói quen thuộc của người bình dân một cách nghệ thuật.

Sử dụng nhiều từ Hán Việt, điển tích, điển cố.

2. Soạn bài Thề nguyền chương trình chuẩn

Câu 1: Nêu nhận xét về hàm nghĩa của các từ “vội”, “xăm xăm”, “băng”?

→ Sự khẩn trương, vội vã.

→ Hành động táo bạo, đột xuất, bất ngờ ngay cả với chính Thúy Kiều.

⇒ Thời gian nghệ thuật: Gấp, vội, khẩn trương.

Nguyên nhân:

Sợ cha mẹ về sẽ trách mắng hành động táo bạo của nàng → Phải vội vã tranh đua với thời gian.

Tiếng gọi của tình yêu mãnh liệt thôi thúc.

Kiều bị ám ảnh bởi định mệnh dành cho người tài sắc: “Vì hoa nên phải trổ đường tìm hoa/ Bây giờ rõ mặt đôi ta/Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao” → Chủ động tìm đến với tình yêu để chống lại định mệnh.

⇒ Nỗi ám ảnh ở Kiều là tính hư ảo. Nỗi lo lắng trước tương lai mong manh, mơ hồ, không vững chắc của tình yêu, của số phận khiến nàng phải bám víu lấy hiện tại. Đó là do những ám ảnh hình thành sau sự kiện gặp mộ Đạm Tiên trong tiết thanh minh – luôn nghĩ về sự bất hạnh của cuộc đời. Việc để Kiều chủ động tìm đến và bày tỏ tình yêu là một cách nhìn mới mẻ, vượt thời đại của Nguyễn Du về tình cảm đôi lứa.

Câu 2: Không gian thơ mộng và thiêng liêng của cuộc thề nguyền được Nguyễn Du mô tả

Không gian thơ mộng

Cảnh Kim Trọng đang thiu thiu, mơ màng dưới ánh trăng nhặt thưa, ngọn đèn hưu hắt.

Tiếng bước chân khe khẽ, êm nhẹ lại ngần của Thúy Kiều.

Những hình ảnh ước lệ hoa mỹ, sang trọng: Giấc hòe, bóng trăng xế, hoa lê, giấc mộng đêm xuân…

Tâm trạng con người

Kim Trọng: Bâng khuâng, nửa tỉnh nửa mơ, khó tin là sự thực.

Thúy Kiều: Ngỡ ngàng, cứ ngỡ trong mơ.

→ Tính chất thơ mộng, huyền ảo, thần tiên.

Không gian thiêng liêng

Các hình thức lễ nghi trang trọng

Đài sen nối sáp- thắp thêm nến.

Lò đào thêm hương- đốt thêm trầm hương.

Viết lời nguyện ước.

Trao kỉ vật.

Hai người cùng đọc lời thề son sắt trước “vầng trăng vằng vặc giữa trời”.

Câu 3: Liên hệ với trích đoạn “Trao duyên” để chỉ ra tính nhất quán trong quan niệm về tình yêu của Kiều

Sự nhất quán trong quan niệm về tình yêu của Thúy Kiều

Tình yêu- tình cảm thủy chung và thiêng liêng.

Thủy chung: Trước sau như một.

Thiêng liêng: Tình yêu gắn liền chữ “tình” và “nghĩa”, là lời nguyện thề trước trời đất.

→ Nàng đau xót tột cùng khi phải trao duyên.

→ Trao duyên là việc làm trả nghĩa với Kim Trọng, dịu di phần nào nỗi đau, mất mát không gì bù đắp nổi của nàng.

3. Soạn bài Thề nguyền chương trình Nâng cao

Câu 1: Đây là cuộc thề nguyền chưa được phép cha mẹ – theo quan niệm xưa – nhưng được miêu tả rất nên thơ, trang trọng. Tình yêu táo bạo, say đắm của Kiều được thể hiện qua bước chân “xăm xăm”, động tác vội vàng. Cuộc gặp gỡ được miêu tả trong trạng thái mơ màng của Kim Trọng. Tìm các chi tiết miêu tả tâm trạng đắm say, mơ màng của Kim Trọng khi người yêu đến và thái độ trân trọng của chàng đối với Kiều. Câu 2: Câu nói của Thúy Kiều với Kim Trọng khi chàng mới tỉnh dậy có nội dung rất thú vị và quan trọng. Hãy phân tích để thấy nội dung tâm lí và tư tưởng của câu nói đó. Chỉ cách một bức tường từ nhà Kiều sang nhà Kiều sang nhà Kim Trọng mà sao Kiều lại nói đến “khoảng vắng đêm trường”? Phải chăng đó là cái không gian, thời gian tâm lí rợn ngợp mà nàng phải vượt qua để vươn tới làm chủ số phận? Trong câu “Vì hoa nên phải trổ đường tìm hoa”, thông thường chữ “hoa” dùng để chỉ người con gái, ở đây, thốt ra từ miệng của Kiều, có người cho rằng chữ “hoa” thứ nhất có nghĩa là tình yêu, chữ “hoa” thứ hai chỉ người yêu của nàng. Câu này nói rõ mục đích cuộc trở lại nhà Kim Trọng của Kiều. Hãy cho biết lí do nào khiến Kiều phải đến với Kim Trọng để thực hiện nghi thức thề nguyền. Câu 3: Tìm những biện pháp tu từ mà Nguyễn Du đã sử dụng để miêu tả cuộc gặp gỡ, thề nguyền rất nên thơ và trang trọng của dôi tình nhân. (Chú ý các điển cố, các hình ảnh ẩn dụ).

Đây là cuộc gặp gỡ, thề nguyền táo bạo, xuất phát từ tình yêu đắm say, trong trắng, tự nguyện của Thúy Kiều – Kim Trọng. Cuộc thề nguyền này chưa được phép của cha mẹ nàng nhưng đã được miêu tả nên thơ và trang trọng với sự đồng cảm cao của tác giả.

Các chi tiết miêu tả tâm trạng đắm say, mơ màng của Kim Trọng khi người yêu đến và thái độ trân trọng của chàng đối với Kiều:

Vội vàng làm lễ rước Kiều vào trong nhà, thêm nến và trầm hương vào lò.

Lời nói của Thuý Kiều hàm chứa nhiều nét nghĩa.

Thứ nhất, nhà nàng ở liền với nhà Kim Trọng trọ học, vậy mà nàng lại nói là Khoảng vắng đêm trường, đó là biểu hiện của khổng gian và thời gian tâm lí. Khi yêu nhau, người ta cảm thấy gắn nhau bao nhiêu vẫn là chưa đủ, cứ muốn gần thêm nữa. Bởi thế, việc Thuý Kiều sang nhà Kim Trọng trong đêm cũng có thể coi là nàng đă tự vượt qua sự ngăn cách của thời gian và không gian tâm lí đề vươn tới làm chủ tình yêu, tự sắp xếp số phận của mình.

Thứ hai, Thuý Kiều nói: Vì hoa nên phải trổ đường tìm hoa là cớ ý nói vì tinh yêu mãnh liệt mà mình phải chủ động sang nhà Kim Trọng.

Chữ hoa thông thường để chỉ người con gái, nhưng ở đây, Kiểu dùng chữ hoa như một hàm ý tốt đẹp chỉ tình yêu nồng nàn, tha thiết của minh dành cho Kim Trọng. Tiếp đó, Kiều nói: Bây giờ rõ mặt đôi ta, Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao? Trong lời vừa là thanh minh vừa là bày tỏ của Kiều đã ẩn chứa dự cảm chẳng lành về sự dang dở của tình yêu đối lứa. Nàng như dang cổ chạy đua với thời gian, muốn vượt qua định mệnh khắc nghiệt của đời minh. Nguyễn Du đã nhập thân vào nhân vật Thuý Kiều để hiểu và thông cảm với thái độ, hành động trái với lỗ thường của nàng.

Các điển cố: Tiếng sen, giấc hòe, Đình Giáp non thần.

Các hình ảnh ẩn dụ: hoa, tóc tơ.

Nếu có thắc mắc cần giải đáp các em có thể để lại câu hỏi trong phần Hỏi đáp, cộng đồng Ngữ văn HỌC247 sẽ sớm trả lời cho các em.

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài: Cảnh Ngày Xuân (Trích Truyện Kiều) – Nguyễn Du trên website Maiphuongus.net. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!