Xem Nhiều 1/2023 #️ Soạn Bài: Cảnh Khuya, Rằm Tháng Giêng – Ngữ Văn 7 Tập 1 # Top 5 Trend | Maiphuongus.net

Xem Nhiều 1/2023 # Soạn Bài: Cảnh Khuya, Rằm Tháng Giêng – Ngữ Văn 7 Tập 1 # Top 5 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài: Cảnh Khuya, Rằm Tháng Giêng – Ngữ Văn 7 Tập 1 mới nhất trên website Maiphuongus.net. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả (các em tham khảo phần giới thiệu về Hồ Chí Minh trong SGK Ngữ văn 7 tập 1).

2. Tác phẩm

Hai bài thơ Cảnh khuya và Rằm tháng giêng được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt. Được Bác Hồ viết ở chiến khu Việt Bắc, trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946 – 1954). Hai bài thơ đã thể hiện tình cảm với thiên nhiên, tình yêu đối với đất nước và phong thái ung dung, tự tại của Bác Hồ.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

* Hai bài Cảnh khuya và Rằm tháng giêng (phiên âm) được làm theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt.

* Đặc điểm của thể thơ thất ngôn tứ tuyệt:

Bài thơ có 4 câu

Mỗi câu có 7 chữ

Hiệp vần: chữ cuối của câu thứ 1,2,4 (xa – hoa – nhà, viên – thiên – thuyền).

Cách ngắt nhịp: Cảnh khuya (câu 1: 3/4, câu 2 + 3: 4/3, câu 4: 2/5), Rằm tháng giêng (toàn bài đều nhịp 4/3).

Câu 2:

Phân tích hai câu thơ đầu của bài Cảnh khuya:

Tiếng suối trong như tiếng hát xa

Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa

Hai câu thơ đầu miêu tả cảnh trăng sáng về khuya. Tiếng suối chảy trong đêm khuya thanh tĩnh nghe trong trẻo như tiếng hát xa. Trăng sáng lồng bóng cây cổ thụ, rồi xuyên qua từng khe lá rải xuống mặt đất như hoa.

Câu 3:

Hai câu thơ cuối của bài Cảnh khuya:

Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.

Hai câu thơ chính là cái tình say đắm của tác giả trước vẻ đẹp của thiên nhiên. Có thể nói, một trong những lý do khiến “người chưa ngủ” chính là vì cảnh thiên nhiên quá tươi đẹp. Người vì say đắm trước vẻ đẹp thiên hiên mà không nỡ ngủ.

Bên cạnh đó, hai câu thơ này còn khắc họa một phương diện khác của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bác “chưa ngủ” không chỉ vì thiên nhiên quá đẹp mà còn bởi “Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”. Cụm từ “chưa ngủ” được lặp lại hai lần càng khắc sâu thêm nỗi băn khoăn, lo lắng về vận mệnh nước nhà. Không lúc nào Người không nghĩ về dân, về nước, dù là lúc ngắm cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp. Qua đó, cho thấy tấm lòng thiết tha vì dân, vì nước của Bác Hồ.

Câu 4:

* Hình ảnh không gian và cách miêu tả không gian trong bài thơ Rằm tháng giêng:

Rộng lớn, bao la: bầu trời, mặt nước, dòng sông như nối liền, trải rộng bởi sắc xuân bát ngát.

Tràn ngập ánh trăng: trời trăng, sông trăng và con thuyền chở đầy trăng. Hơn thế nữa, rằm tháng giêng là mùa trăng đầu tiên của năm, bao sự tinh khôi, mới mẻ, linh thiêng và đẹp đẽ nhất đều quy tụ lại trong hình ảnh trăng ngày rằm.

Tràn đấy sức xuân: sông xuân, nước xuân, trời xuân, vạn vật căng nồng sự sống

Tác giả không miêu tả một cách cụ thể, chi tiết mà chú ý sự khái quát của toàn cảnh và sự hài hòa giữa các cảnh vật.

* Điểm đặc biệt về từ ngữ của câu thơ thứ hai: Có 3 chữ “xuân” nối tiếp nhau: xuân giang, xuân thủy, xuân thiên.

Câu 5:

Bài thơ Nguyên tiêu (phiên âm) gợi cho em nhớ đến tứ thơ, câu thơ của Trương Kế đời Đường trong bài Phong Kiều dạ bạc có câu: “Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền”.

Câu cuối của bài Nguyên tiêu giống với câu thơ trên đều nói về lúc đêm khuya và đều nói về hình ảnh con thuyền trên sông nước. Tuy nhiên, điểm khác là ở chỗ, một bên “người khách” đến thăm tác giả là tiếng chuông chùa, còn một bên “người khách” ấy chính là trăng xuân chứa chan bát ngát và đượm tình.

Câu 6:

Cảnh khuya và Rằm tháng giêng được viết trong những năm đầu rất khó khăn của cuộc kháng chiến chống Pháp, nhưng vẫn thể hiện được phong thái ung dung và tinh thần lạc quan của Bác Hồ.

Tâm hồn chan hòa thiên nhiên, say đắm thưởng ngoạn vẻ đẹp của thiên nhiên trong mọi hoàn cảnh.

Hình ảnh trong hai bài thơ đều mang đậm vẻ đẹp cổ điển, những hình ảnh quen thuộc của thơ ca cổ phương Đông: con thuyền, dòng sông, ánh trăng, giọng thơ khỏe khoắn và trẻ trung.

Câu 7:

Hai bài thơ đều miêu tả về cảnh trăng ở chiến khu Việt Bắc, nhưng ở mỗi bài, vẻ đẹp của ánh trăng lại được người thi sĩ cảm nhận bằng một vẻ riêng.

Trong bài Cảnh khuya, hình ảnh ánh trăng đã được nhân hóa, trăng lồng bóng vào cây cổ thụ và trải “hoa” (hoa trăng) trên mặt đất. Cảnh vật ở đây như hiện ra lồng lộng dưới ánh trăng. Thêm vào đó, tiếng suối trong đêm khuya trong trẻo như tiếng ai đang ngân nga hát càng làm cho trăng khuya thêm thơ mộng.

Còn trong bài Rằm tháng giêng, trăng ở đây là trăng xuân, trăng mang không khí và hương vị của mùa xuân. Cảnh ở đây là cảnh trăng trên sông, lại thấp thoáng con thuyền nhỏ trong sương khói. Nhưng điểm đặc biệt nhất phải nói đến ở đây đó là sự chan hòa của ánh trăng như tràn đầy cả con thuyền nhỏ. Con thuyền chở đầy ánh trăng, chở những người chèo lái cuộc kháng chiến vừa gặt về một mùa ánh sáng rực rỡ trên cánh đồng tương lai của đất nước.

3

/

5

(

2

bình chọn

)

Soạn Bài Cảnh Khuya, Rằm Tháng Giêng Trang 140 Sgk Ngữ Văn 7 Tập 1

Các em học sinh cùng đón đọc phần hướng dẫn soạn bài Cảnh khuya, Rằm tháng giêng để có thêm tài liệu bổ sung cho phần chuẩn bị của mình trước khi đến lớp, hơn nữa, qua phần soạn bài các em cũng hiểu hơn về tình yêu thiên nhiên sâu sắc, phong thái ung dung, chất thi sĩ hòa quyện cùng chất chiến sĩ của Hồ Chủ Tịch.

SOẠN BÀI CẢNH KHUYA RẰM THÁNG GIÊNG

I. HƯỚNG DẪN ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

Đây là hai bài thơ cảm hứng trữ tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết ở chiến khu Việt Bắc trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Bài thứ nhất là cảm hứng của Bác trước cảnh rừng khuya trăng sáng, bài thứ hai là cảm hứng trước đêm nguyên tiêu trăng sáng đầy trời trên sông nước bao la bát ngát. Để cảm nhận bước đầu hai thi phẩm, các em cần đọc kĩ phần phiên âm, dịch nghĩa bài thơ Nguyên tiêu, sau đó đọc nhiều lần bài thơ Cảnh khuya và bản dịch thơ bài Nguyên tiêu của Bác (thử so sánh bản dịch thơ với bản dịch nghĩa bài này). Cần chú ý bối cảnh lịch sử của hai bài thơ, nhất là bài 2: được sáng tác ngay sau chiến thắng Việt Bắc thu đông 1947.

1. Cả hai bài thơ đều được làm theo thể thất ngôn tứ tuyệt (các em chứng minh qua số câu trong bài, số chữ trong mỗi câu và cách gieo vần, ngắt nhịp).

2. Phân tích hai câu đầu của bài Cảnh khuya: Cảnh rừng khuya được miêu tả bằng hai nét vẽ như trong một bức tranh thủy mạc: câu thứ nhất là âm thanh tiếng suối xa, câu thứ hai là hình ảnh bóng trăng lồng vào cây hoa trước mắt. Tiếng suối trong nghe như tiếng hát con người vui tươi đầy sức sống (so sánh với tiếng đàn cầm của Nguyễn Trãi trong bài Côn Sơn ca), bóng trăng lung linh huyền ảo, lại ấm áp chứ không lạnh lẽo nhờ hai từ lông được lấy lại rất hay trong câu thơ,

3. Hai câu thơ cuối bài Cảnh khuya biểu hiện một tâm trạng ngỡ như có gì mâu thuẫn nhưng lại rất thống nhất trong con người, trong hồn thơ tác giả: Bác yêu thiên nhiên say đắm nên mới thấy Cảnh khuya như vẽ (rất đẹp) nhưng vẫn không quên nhiệm vụ đối với tổ quốc, nhân dân, vẫn lo nỗi nước nhà. Từ chưa ngủ cuối câu trên được láy lại ở đâu cầu. dưới đã nói lên sâu sắc vẻ đẹp của hồn thơ Bác: chưa ngủ vì yêu thiên nhiên say đắm, nhưng chưa ngủ còn vì lo nỗi nước nhà. Đây mới là lí do quan trọng nhất khiến Người chưa ngủ, như Người đã từng thức bao đêm vì lo nước, thương dân trong cả cuộc đời hoạt động cách mạng của mình (như bài Đêm nay Bác không ngủ đã học ở lớp 6).

4. Bài Rằm tháng giêng mở ra một không gian bao la bát ngát của cảnh trời nước đầy trăng trong đêm Nguyên tiêu. Trăng lồng lộng đầy trời soi sáng khắp không gian khiến cho sông, nước, trời tiếp liền nhau và điệp một sắc xuân:

Xuân giang xuân thủy tiếp xuân thiện.

Ba từ “xuân” nối tiếp nhau trong câu thơ đã nói lên sức xuân đây. ắp, sức sống dâng trào. Nét bút của thi nhân thật có hồn: ngỡ như sông, nước, trời đã hòa vào nhau, không phân cách, không phân biệt. Bởi trăng sáng quá và tất cảđều tắm trong ánh trăng, đều nhòa đi trong ánh trăng. Không gian như càng rộng thêm ra, bao la bát ngát và sức xuân như càng trào dâng đầy ắp trong con thuyền đầy trăng lúc trở về: Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.

5. Bài Nguyên tiêu gợi nhớ đến câu thơ trong bài Phong Kiều dạ bạc:– Trương Kế viết: Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.– Bác Hồ viết: Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền.(Các em thử so sánh hai câu thơ trên xem có gì giống nhau, khác nhau).

6. Hai bài thơ được viết trong những năm đầu rất khó khăn của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp nhưng vẫn biểu hiện phong thái ung. dung và tâm hồn lạc quan của Bác. Đặc biệt, bài Nguyên tiêu được viết sau chiến thắng Việt Bắc thu đông năm 1947, tinh thần lạc quan lại càng phơi phới, được biểu hiện trong sắc xuân (cũng là sức xuân) của bài thơ và nhất là trong hình ảnh Bác ung dung thư thái trở về trên con thuyền đầy trăng.

7. Hai bài thơ đều miêu tả cảnh trăng ở chiến khu Việt Bắc. Mỗi bài có vẻ đẹp riêng:– Cảnh khuya là trắng sáng trong rừng khuya, ánh trăng lồng vào bóng cây, bóng hoa lung linh huyền ảo mà ấm áp tình người.– Nguyên tiêu là trắng sáng lồng lộng trên sông nước, trong bầu trời khiến không gian càng thêm bao la bát ngát và đầy ắp sắc xuân.

II. LUYỆN TẬPCác em thực hiện hai bài tập như hướng dẫn trong SGK.

Phò giá về kinh là bài học nổi bật trong Bài 5 của chương trình học theo SGK Ngữ Văn 7, học sinh cần Soạn bài Phò giá về kinh, đọc trước nội dung, trả lời câu hỏi trong SGK.

https://thuthuat.taimienphi.vn/soan-bai-canh-khuya-ram-thang-gieng-38270n.aspx

Soạn Bài: Cảnh Khuya, Rằm Tháng Giêng

Soạn bài: Cảnh khuya, Rằm tháng giêng

Hướng dẫn soạn bài

Câu 1 (trang 142 sgk Văn 7 Tập 1):

– Hai bài thơ này được làm theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt.

– Đặc điểm của thể thơ thất ngôn tứ tuyệt:

+ số câu: 4 câu.

+ số chữ trong một câu: 8.

+ luật và cách gieo vần: Nhất tâm ngũ bất luật- Nhị tứ lục phân minh. Câu 1,3,5 không bàn luận, còn câu 2,4,6 bàn luận. Các câu 1,2,4 hoặc chỉ câu 2,4 hiệp vần với nhau ở chữ cuối

+ các câu trong bài lần lượt theo thứ tự: Khai, thừa, chuyển, hợp.

Câu 2 (trang 142 sgk Văn 7 Tập 1): Hai câu thơ đầu bài thơ “Cảnh khuya”

– Biện pháp nghệ thuật sử dụng bao gồm: so sánh (tiếng suối- tiếng hát), điệp từ “lồng”.

– Tiếng suối róc rách được ví von như tiếng hát ngọt ngào nào đó vang vọng trong đêm khuya thanh vắng. Cách so sánh này là lấy con người làm chủ làm cho âm thanh của thiên nhiên trở nên thân mật và gần gũi hơn.

– Câu thơ thứ hai rất giàu hình ảnh với việc sử dụng điệp từ “lồng”. Bức tranh cảnh khuya hiện lên có tầng bậc cao thấp, ánh sáng và bóng tối hòa quyện quấn quýt tạo nên vẻ đẹp lung linh, huyền ảo, chỗ đậm chỗ nhạt

Hai câu thơ hiện lên với vẻ đẹp dịu dàng, thơ mộng, ấm áp.

Câu 3 (trang 142 sgk Văn 7 Tập 1): Tâm trạng của tác giả trong hai câu thơ cuối là:

– Rung động, say đắm trước cảnh đẹp của thiên nhiên nên chưa ngủ.

– Thao thức, không ngủ được vì lo lắng cho sự nghiệp của đất nước, dân tộc.

Từ “chưa ngủ” được lặp lại nhiều lần trong hai câu thơ cuối với mục đích nhấn mạnh tâm trạng băn khoăn, thao thức, niềm lo lắng của Bác về những việc trọng đại của dân tộc. Cảnh đẹp thiên nhiên khiến Bác chưa ngủ là một phần, quan trọng hơn, Bác còn thức, còn trằn trọc vì băn khoăn về vận mệnh của Đất nước.

Câu 4 (trang 142 sgk Văn 7 Tập 1): Nhận xét về hình ảnh, không gian, cách miêu tả trong bài thơ “Rằm tháng Giêng”:

– Hình ảnh: bài thơ xuất hiện những hình ảnh của trăng, con sông, dòng nước, con thuyền.Đặc biệt bài thơ có hình ảnh của trăng- một trong những hình ảnh xuất hiện nhiều trong thơ cổ.

– Không gian: rộng lớn bao la, trên là trời, dưới là sông, bên cạnh là con thuyền chở đầy ánh trăng.

– Cách miêu tả: miêu tả bao quát, kết hợp hài hòa giữa các hình ảnh, chi tiết. Không đi vào tiểu tiết quá sâu, từ đó có cái nhìn tổng quan về sự vật, tạo nên một bức tranh sơn thủy hữu tình.

Sự đặc biệt về tư ngữ trong câu thơ thứ hai:

– Điệp lại từ “xuân” ba lần để nhấn mạnh không gian mùa xuân đang tràn ngập ở khắp mọi nơi. Qua đó tạo cho người đọc cảm giác một mùa xuân tràn đầy sức sống đang ùn ùn trỗi dậy, bao trùm lên mọi cảnh vật, con người.

Câu 5 (trang 142 sgk Văn 7 Tập 1):

Bài “Nguyên tiêu” gợi cho em nhớ tới câu thơ ” Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền” trong bài Phong Kiều dạ bạc của Trương Kế.

Câu 6 (trang 142 sgk Văn 7 Tập 1):

Hai bài thơ đã biểu hiện tâm hồn yêu thiên nhiên, hòa mình đồng điệu cùng đất trời để cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên, cây cỏ của Hồ Chí Minh. Qua đó, ta thấy được phong thái ung dung, tinh thần lạc quan của người chiến sĩ cách mạng.

Câu 7 (trang 142 sgk Văn 7 Tập 1):

Mặc dù đều miêu tả cảnh trăng ở chiến khu Việt Bắc nhưng mỗi bài lại có những nét đẹp riêng biệt.

Bài “Rằm tháng Giêng” trăng mang theo hương vị, hương sắc và hòa mình vào không khí cũng như vẻ đẹp của mùa xuân.

Bài “Cảnh khuya” trăng được nhân hóa, miêu tả cụ thể hơn. Ánh trăng cùng cảnh vật hiện lên có lớp lang, tầng bậc cao thấp hòa mình vào với cảnh vật. Đặc biệt, ánh trăng in vào khóm hoa, in lên mặt đất thành những bông hó trăng dệt thêu như gấm. Nhờ ánh trăng mà bức tranh cảnh vật trở nên huyền ảo, thơ mộng hơn.

Luyện tập

Một số bài thơ Bác Hồ viết về trăng hoặc cảnh vật thiên nhiên như:

Bài “Ngắm trăng”:

Trong tù không rượu cũng không hoa

Cành vật hôm nay khó hững hờ

Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ

Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.

Bài “Chiều tối”

Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ

Chòm mây trôi nhẹ chốn tầng không

Cô em xóm núi say ngô tối

Say hết lò than đã rực hồng.

Bài Trung thu:

Trung thu vành vạnh mảnh gương thu

Sáng khắp nhân gian bạc một màu.

Soạn Bài Lớp 7: Cảnh Khuya Và Rằm Tháng Giêng

Soạn bài lớp 7: Cảnh khuya và Rằm tháng giêng

Soạn bài: Cảnh khuya và Rằm tháng giêng

RẰM THÁNG GIÊNG

Hồ Chí Minh

I. VỀ TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM 1. Tác giả

Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 – 1969) không chỉ là vị lãnh tụ cách mạng kiệt xuất của nhân dân Việt Nam mà còn là một nhà thơ, nhà văn lớn, nhà văn hoá lớn của dân tộc và nhân loại. Với quan điểm văn chương là vũ khí phục vụ cho sự nghiệp cách mạng, trong cuộc hành trình khắp năm châu bốn biển tìm con đường cứu nước cứu dân, Người đã để lại những tác phẩm chính luận, những truyện ngắn đặc sắc: Bản án chế độ thực dân Pháp, “Vi hành”, Lời kêu gọi của bà Trưng Trắc,… Ngày 2 – 9 – 1945, trước toàn thể quốc dân đồng bào, trước công luận thế giới, Người đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập bất hủ, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

2. Tác phẩm

Cảnh khuya và Rằm tháng riêng là hai bài thơ thất ngôn tứ tuyệt hay được Bác viết trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Hai bài thơ thể hiện tình cảm với thiên nhiên, tình yêu đối với đất nước và phong thái ung dung tự tại của Bác Hồ.

II. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Dựa vào những kiến thức đã biết về thể loại, hãy nhận dạng thể loại của hai bài thơ bằng việc kiểm tra số câu, số chữ trong mỗi câu, cách hiệp vần, cách ngắt nhịp.

2. Hai câu thơ đầu của bài Cảnh khuya miêu tả cảnh trăng sáng về khuya. Tiếng suối chảy trong đêm yên tĩnh nghe trong trẻo như tiếng hát xa. Trăng sáng lồng bóng cây cổ thụ, rồi xuyên qua từng khe lá rải xuống mặt đất như hoa. Cảnh trong hai câu thơ đầy thơ mộng, trong trẻo, dịu dàng và ấm áp.

3. Hai câu thơ cuối của bài thơ là cái tình say đắm của tác giả trước vẻ đẹp của thiên nhiên. Có thể nói một trong những lí do khiến “người chưa ngủ” ấy chính là vì cảnh thiên nhiên quá đẹp. Người vì say đắm trước vẻ đẹp thiên nhiên mà không nỡ ngủ. Song hai câu thơ cuối còn khắc hoạ một phương diện khác của Hồ Chí Minh. Bác “chưa ngủ” không chỉ bởi thiên nhiên quá đẹp và quá ư quyến rũ mà còn bởi “Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”. Cụm từ “chưa ngủ” được nhắc lại hai lần gắn với nỗi băn khoăn về vận nước, điều đó đủ cho thấy tấm lòng thiết tha vì dân vì nước của Bác Hồ.

4. Không gian được miêu tả trong bài Rằm tháng riêng là một không gian rộng lớn của trời mây sông nước. Bầu trời, mặt nước, dòng sông như nối liền, trải rộng bởi sắc xuân bát ngát. Câu thơ thứ hai khá đặc biệt trong cách tả: cảnh được tả từ gần đến xa, từ thấp lên cao cùng với sự lặp lại tới ba lần chữ xuân khiến cho câu thơ thất ngôn như tràn ngập ánh xuân tươi. Sắc xuân, khí xuân như đượm lên cảnh vật.

5. Bài Nguyên tiêu gợi nhớ đến câu thơ: Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền trong bài Phong Kiều dạ bạc của Trương Kế. Câu cuối của bài Nguyên tiêu và câu thơ này của Trương Kế đều nói về lúc đêm khuya (dạ bán) và đều nói về hình ảnh con thuyền trên sông nước. Tuy vậy, điểm khác là ở chỗ, một bên “người khách” đến thăm tác giả là tiếng chuông chùa (Hàn Sơn), còn bên kia “người khách” ấy chính là trăng xuân chứa chan bát ngát, đượm tình.

6. Hai bài thơ này được Bác viết trong những năm đầu kháng Pháp vô cùng khó khăn gian khổ. Thế nhưng, ở trong thơ, ta vẫn gặp một chủ thể trữ tình rất yêu thiên nhiên, vẫn ung dung làm việc, vẫn chan hoà cùng ánh trăng thơ mộng của núi rừng. Người lo lắng cho đất nước nhưng trong tâm hồn, Bác vẫn dành cho thiên nhiên những niềm ưu ái, không vì việc quân bận rộn mà Người đành hờ hững, từ chối vẻ đẹp thiên nhiên. Điều này nói lên phẩm chất lạc quan và phong thái ung dung của Bác.

7.* Tuy hai bài thơ đều viết về trăng ở chiến khu Việt Bắc, nhưng ở mỗi bài vẻ đẹp của trăng lại được người thi sĩ cảm nhận bằng một vẻ riêng.

Trăng trong Cảnh khuya là ánh trăng đã được nhân hoá. Trăng lồng bóng vào cây cổ thụ để giãi “hoa” (hoa trăng) trên mặt đất. Cảnh vật như hiện ra lồng lộng dưới ánh trăng. Thêm nữa, tiếng suối trong đêm trong trẻo như tiếng ai đang ngân nga hát càng làm cho trăng khuya thêm mơ mộng.

Trong khi đó, trăng trong Rằm tháng riêng là trăng xuân, trăng mang không khí và hương vị của mùa xuân. Cảnh ở đây là cảnh trăng ở trên sông, có con thuyền nhỏ trong sương khói. Nhưng điểm đặc biệt nhất phải nói đến đó là sự chan hoà của ánh trăng như tràn đầy cả con thuyền nhỏ.

III. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Cách đọc

Đọc theo nhịp 4/3, riêng câu đầu tiên của bài Cảnh khuya được tách thành nhịp 3/4. Đọc bằng giọng nhẹ nhàng, sâu lắng, thể hiện được cảnh đêm trăng, sông nước mênh mang và tình yêu thiên nhiên, đất nước thiết tha của Bác.

Khi đọc bài Rằm tháng riêng cần chú ý nhấn giọng để thể hiện cảm xúc ở các từ ngữ: rằm xuân, lồng lộng, bát ngát trăng ngân; thể hiện khả năng gợi tả vẻ đẹp của ánh trăng rằm của các từ ngữ: rằm xuân, lồng lộng, bát ngát.

2. Có thể kể ra một số câu thơ Bác viết về trăng như: Trăng vào cửa sổ đòi thơ Việc quân đang bận xin chờ hôm sau.

(Tin thắng trận)

Theo chúng tôi

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài: Cảnh Khuya, Rằm Tháng Giêng – Ngữ Văn 7 Tập 1 trên website Maiphuongus.net. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!