Xem Nhiều 2/2023 #️ Soạn Bài: Ca Dao Hài Hước – Ngữ Văn 10 Tập 1 # Top 6 Trend | Maiphuongus.net

Xem Nhiều 2/2023 # Soạn Bài: Ca Dao Hài Hước – Ngữ Văn 10 Tập 1 # Top 6 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài: Ca Dao Hài Hước – Ngữ Văn 10 Tập 1 mới nhất trên website Maiphuongus.net. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Hướng dẫn học bài

Câu 1:

Bài ca dao 1:

Đây là lời đối đáp, vui đùa của nam nữ thường thấy trong ca dao. Nó mang đến cho ta một tiếng cười mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc.

* Việc dẫn cưới và thách cưới ở đây rất đặc biệt:

Việc dẫn cưới: Chàng trai có những dự định lớn: muốn có một hôn lễ linh đình nhưng vì những lí do khách quan mà không thể thực hiện được. Cụ thể như dẫn voi thì sợ quốc cấm, dẫn trâu thì sợ họ máu hàn, dẫn bò sợ họ co gân, nên chàng trai đã quyết định “Dẫn con chuột béo mời dân mời làng”. Lí lẽ này thật thông minh, hóm hỉnh.

Việc thách cưới: cô gái thách cưới chàng trai một “nhà khoai lang”, nghe có vẻ là dễ nhưng cô gái hiểu rõ hoàn cảnh của chàng trai không thể đáp ứng nên chỉ cần một nhà khoai lang thôi cũng là đủ rồi.

* Bài ca có giọng điệu hài hước, dí dỏm, đáng yêu là nhờ những yếu tố nghệ thuật:

Lối nói khoa trương, phóng đại: dẫn voi, dẫn trâu, dẫn bò, dẫn nhà khoai lang,…

Cách nói đối lập, phủ định: dẫn voi/ sợ quốc cấm; dẫn trâu/ sợ họ máu hàn; dẫn bò/ sợ họ co gân; dẫn lợn gà/ khoai lang

Câu 2:

Bài ca dao 2,3,4: 

Tiếng cười trong bài ca dao 2,3,4 là tiếng cười đả kích, châm biếm và phê phán xã hội, phê phán nội bộ nhân dân, nhằm nhắc nhở con người ta tránh những thói hư, tật xấu.

* Bài ca dao 2:

Trong bài ca dao này, tác giả dân gian đã sử dụng nghệ thuật phóng đại cùng thủ pháp đối lập nhằm châm biếm những người đàn ông yếu đuối, không đáng sức trai, không đáng nên trai. Họ yếu đuối đến mức chỉ gánh được “hai hạt vừng”.

* Bài ca dao 3:

Tác giả dân gian đã mượn lời than thở của người vợ để làm nổi bật, đồng thời, phê phán, lên án sự lười nhác, thảm hại của ông chồng vô tích sự chỉ biết “ ngồi bếp sờ đuôi con mèo”.

* Bài ca dao 4:

Đây là bài ca dao chế giễu những người phụ nữ có tính tình đỏng đánh, vô duyên. Với nghệ thuật phóng đại tài tình, tác giả dân gian đã mang đến tiếng cười, châm biếm nhẹ nhàng với loại phụ nữ này. Bên cạnh đó, tác giả dân gian vẫn nhẹ nhàng chê thứ tình yêu mù quáng, không biết sửa chữa khiếm khuyết cho nhau “chồng yêu chồng bảo…”

Câu 3:

Những biện pháp nghệ thuật thường được sử dụng trong ca dao hài hước là:

Đối lập tương phản

Lối nói cường điệu, phóng đại

Hư cấu dựng cảnh tài tình, khắc họa nhân vật bằng những nét điển hình có giá trị khái quát cao

Có nhiều liên tưởng rất độc đáo và thú vị

Sử dụng ngôn ngữ đời thường mà hàm ý sâu xa

5

/

5

(

1

bình chọn

)

Soạn Văn 10 Bài: Ca Dao Hài Hước

VnDoc mời bạn đọc tham khảo Soạn văn 10 bài: Ca dao hài hước, với nội dung bài soạn ngắn gọn và chi tiết sẽ giúp các bạn học sinh lớp 10 học tốt hơn môn Ngữ văn 10. Mời thầy cô và các bạn học sinh tham khảo.

1. Soạn văn: Ca dao hài hước (siêu ngắn) mẫu 1

1.1. Câu 1 (Trang 91 sgk ngữ văn 10 tập 1)

Bài ca là sự đối đáp của chàng trai và cô gái, cả hai cùng nói đùa việc trọng đại – cưới xin, lễ vật xin cưới

– Cách nói giàu hình ảnh, ý nghĩa bằng cách thách cưới không bình thường, đó là cách tự trào về cảnh nghèo khó của người lao động.

– Lời chàng trai: chàng trai có dự định to tát:

+ Toan dẫn voi, dẫn trâu, dẫn bò

+ Chàng trai muốn đám cưới linh đình

– Lời cô gái: thách cưới “một nhà khoai lang”

→ Lời dẫn cưới và thách cưới mang đầy tính hài hước, cợt đùa về cái nghèo của cả chàng trai, cô gái để họ ham sống, yêu đời và lạc quan hơn.

Bài ca sử dụng biện pháp nói quá, tương phản tạo tiếng cười dí dỏm, hài hước

+ Lối nói khoa trương : dẫn voi, dẫn trâu, bò- nhà khoai lang

+ Biện pháp đối lập giữa ước mơ với thực tế: thực chất nghèo nàn nhưng ước mơ một đám cưới linh đình.

+ Lối nói phủ định: dẫn voi sợ quốc cấm, dẫn trâu sợ họ máu hàn, dẫn bò sợ họ nhà nàng co gân.

1.2. Câu 2 (trang 91 sgk ngữ văn 10 tập 1)

Tiếng cười bài 2, 3, 4 là tiếng cười đả kích, phê phán, châm biếm thói hư tật xấu của một bộ phận người.

Bài 2: đối tượng là nam nhi yếu đuối, không đáng sức trai

– Sử dụng thủ pháp đối lập, ngoa dụ:

+ Ngoa dụ: sự khom lưng uốn gối của anh chàng chỉ để “gánh hai hạt vừng”

Bài 3: chế giễu thói lười biếng của đàn ông lười nhác, không có chí lớn

– Sử dụng biện pháp nói quá, đối lập

+ Hình ảnh người đàn ông “ngồi bếp sờ đuôi con mèo” tiêu biểu cho người đàn ông lười nhác, chỉ biết ngồi xó, ăn bám vợ.

Bài 4: chế giễu loại phụ nữ vô duyên, xấu xí

– Sử dụng biện pháp nói quá, gợi lên những liên tưởng phong phú của tác giả dân gian

+ Lỗ mùi mười tám gánh lông

+ Đêm nằm ngáy o o

+ Đi chợ hay ăn quà

+ Trên đầu những rác cùng rơm

– Sau tiếng cười hài hước, giải trí, mua vui, tác giả dân gian muốn châm biếm nhẹ những người phụ nữ vô duyên, đỏng đảnh trong xã hội

1.3. Câu 3 (trang 91 sgk ngữ văn 10 tập 1)

Những biện pháp thường được sử dụng trong ca dao hài hước:

+ Cường điệu, phóng đại, tương phản đối lập

+ Khắc họa nhân vật bằng nét điển hình có giá trị khái quát cao

+ Dùng ngôn từ đời thường có tính mỉa mai, châm biếm

+ Tạo nhiều liên tưởng độc đáo

1.4. Luyện tập

Bài 1 (Trang 92 sgk ngữ văn 10 tập 1)

Lời thách cưới của cô gái “một nhà khoai lang” là sự ứng xử khôn khéo, thông minh.

– Cô gái không những không mặc cảm mà còn bằng lòng với cái nghèo, tỏ ra vui, thích thú trong lời thách cưới

– Lời thách cưới của cô gái chính là lời tự trào của những người lao động lạc quan, yêu đời.

Bài 2 (trang 92 sgk ngữ văn 10 tập 1)

Một số bài ca dao hài hước:

– Lấy chồng cho đỡ nắng mưa Chẳng ngờ chồng lại ngủ trưa đến giờ. – Gái sao chồng đánh chẳng chừa Đi chợ vẫn giữ cùi dừa, bánh đa. – Sông bao nhiêu nước cũng vừa Trai bao nhiêu vợ cũng chưa bằng lòng. – Thầy cúng ngồi cạnh giường thờ Mồm thì lẩm bẩm tay sờ đĩa xôi.

2. Soạn văn: Ca dao hài hước (siêu ngắn) mẫu 2

2.1. Câu 1 (trang 91 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1)

Bài 1:

– Việc thách cưới và dẫn cưới ở đây rất đặc biệt:

+ Việc dẫn cưới: Chàng trai có những dự định lớn: muốn có một hôn lễ linh đình nhưng vì những lí do khách quan mà không thể thực hiện được: dẫn voi thì sợ quốc cấm, dẫn trau sợ họ máu hàn, dẫn bò sợ họ co gân nên chàng trai quyết định “Dẫn con chuột béo mời dân mời làng”. Lí lẽ này thật thông minh, hóm hỉnh.

+ Việc thách cưới: cô gái thách cưới chàng trai một “nhà khoai lang” nghe có vẻ là dễ nhưng cô gái hiểu rõ hoàn cảnh của chàng trai không thể đáp ứng nên chỉ cần một nhà khoai lang thôi cũng đủ rồi.

– Qua việc thách cưới và dẫn cưới ấy, người nông dân tự cười chính cảnh nghèo của mình. Họ không mặc cảm mà còn bằng lòng, chấp nhận cái nghèo từ đó ta càng khâm phục hơn nhân cách và quan niệm sống của họ.

– Bài ca dao có giọng điệu hài hước, dí dỏm là nhờ các yếu tố nghệ thuật:

+ Lối nói khoa trương, phóng đại: dẫn voi, dẫn trâu, dẫn bò,…

+ Lối nói giảm dần:

+ Cách nói đối lập:

* Dẫn voi/ sợ quốc cấm

* Dẫn trâu/ sợ họ máu hàn

* Dẫn bò/ sợ họ co gân

* Lợn gà/ khoai lang

2.2. Câu 2 (trang 91 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1)

Bài 2, 3, 4

Không giống bài ca dao đầu tiên, bài 2, 3, 4 là tiếng cười châm biếm, phê phán xã hội, phê phán nội bộ nhân dân, nhằm nhắc nhở con người ta tránh những thói hư, tật xấu.

– Bài 2: Tác giả dân gian đã sử dụng nghệ thuật phóng đại cùng thủ pháp đối lập nhằm châm biếm những người đàn ông yếu đuối, không đáng sức trai, không đáng nên trai. Họ yếu đuối đến mức chỉ gánh được “hai hạt vừng”.

– Bài 3: Tác giả dân gian đã mượn lời than thở của người vợ để làm nổi bật, phê phán, lên án sự lười nhác, thảm hại của ông chồng vô tích sự chỉ biết ” ngồi bếp sờ đuôi con mèo”.

– Bài 4: Với nghệ thuật phóng đại tài tình, tác giả dân gian đã mang đến tiếng cười, châm biếm nhẹ nhàng với loại phụ nữ đỏng đảnh vô duyên. Bên cạnh đó, nhân dân vẫn nhẹ nhàng chê thứ tình yêu mù quáng, không biết sửa chữa khiếm khuyết cho nhau “chồng yêu chồng bảo…”

2.3. Câu 3 (trang 91 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1)

Những biện pháp nghệ thuật thường sử dụng trong ca dao hài hước:

– Hư cấu dựng cảnh tài tình, khắc họa nhân vật bằng những nét điển hình có giá trị khái quát cao

– Cường điệu, phóng đại, tương phản đối lập

– Dùng ngôn ngữ đời thường mà hàm ý sâu sắc.

2.4. Luyện tập

Câu 1 (trang 92 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):

Lời thách cưới của cô gái là một cách ứng xử khéo léo, thông minh. Lời thách cưới ấy không những không thể hiện sự mặc cảm về cảnh nghèo khó của nhà chàng trai mà còn tỏ ra vui vẻ, bằng lòng với cuộc sống ấy. Dù cho lời của cô gái chỉ là lời đối trong ca dao, nhưng qua đó ta thấy được vẻ đẹp của tình yêu trong sáng, không ngại khó, ngại khổ của người phụ nữ Việt, thấy được tình cảm tha thiết vượt lên vật chất của đôi nam nữ.

Câu 2 (trang 92 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1): Các câu ca dao phê phán những thói hư tật xấu:

Soạn Bài Lớp 10: Ca Dao Hài Hước

Soạn bài môn Ngữ văn lớp 10 học kì I

Soạn bài: Ca dao hài hước

Soạn bài lớp 10 Ca dao hài hước được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về những bài ca dao tiêu biểu cho tiếng cười giải trí, tiếng cười châm biếm phê phán xã hội. Soạn bài mẫu bài Ca dao hài hước sẽ giúp các em học sinh học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình.

CA DAO HÀI HƯỚC

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Những bài ca dao được giới thiệu trong bài này tiêu biểu cho tiếng cười giải trí, tiếng cười tự trào và tiếng cười châm biếm, phê phán xã hội.

2. Tiếng cười tự trào (tự cười mình) là tiếng cười lạc quan yêu đời của người lao động. Họ đã lấy chính cái nghèo của mình để tự trào một cách hồn nhiên, hóm hỉnh. Dù cuộc sống nghèo hèn nhưng họ đã vượt lên để sống một cách lạc quan bằng cách “thi vị hóa” cuộc sống của mình.

3. Tiếng cười giải trí là tiếng cười của niềm lạc quan yêu đời, là sản phẩm của óc hài hước và trào lộng của nhân dân ta. Tiếng cười giải trí cũng là một cách để quên đi những bộn bề lo âu vất vả của cuộc sống hàng ngày.

4. Tiếng cười phê phán, châm biếm là tiếng cười hướng vào những thói xấu trong một bộ phận quần chúng nhân dân nhằm đả kích, cải biến nó hoặc tiêu diệt nó (những hạng người lười nhác, ham ăn, những thầy bói dởm, những quan lại bất tài, những người phụ nữ đỏng đảnh, trăng hoa…).

Các bài ca dao hài hước đều có cách khắc họa nhân vật rất điển hình, sử dụng nhiều yếu tố, chi tiết cười điệu hóa, cách dựng cảnh rất bài tình… để tạo ra những nét hài hước hóm hỉnh mà châm biếm sâu cay.

II. RÈN KĨ NĂNG 1. Có thể sắp xếp bốn bài ca dao thành 2 nhóm:

Nhóm tiếng cười tự trào: bài số 1.

Nhóm tiếng cười châm biếm, phê phán xã hội: các bài 2, 3, 4.

2. a) Cưới xin hôn lễ là một chuyện vô cùng hệ trọng và có ý nghĩa đối với cuộc đời của mỗi con người. Nó thường được chuẩn bị chu đáo và cẩn thận. Thế nhưng việc dẫn cưới và thách cưới ở đây đều rất khác thường. Thực ra nó là hai màn tự trào về cảnh nghèo của người lao động. Chàng trai mở đầu màn dẫn cưới bằng rất nhiều điều “to tát”(dẫn voi, dẫn trâu, dẫn bò). Thế nhưng chàng lại viện đủ lí do (mà lí do nào cũng hợp lí: dẫn voi… sợ quốc cấm, dẫn trâu… sợ họ máu hàn, dẫn bò… sợ họ nhà nàng co gân) để khước từ tất cả những việc làm này. Vậy là đám cưới lí ra có voi, có trâu, có bò nhưng rồi chẳng có gì cả. Không những vậy, chàng trai kia còn táo bạo “nhất quyết” đùa cợt đến cùng:

Lời đáp của cô gái cũng… chẳng vừa. Thách cưới mà lại thách “một nhà khoai lang” thì dễ đấy nhưng cũng có khác nào làm khó người ta. Song điều quan trọng không phải ở điểm này mà là ở chỗ cô gái hiểu “hoàn cảnh” của nhà em và nhà anh… cũng giống nhau thôi. Và như thế đám cưới chỉ cần một “nhà khoai lang” là cũng quá đủ rồi.

Qua lời thách cưới và lời dẫn cưới, chúng ta có thể thấy ở đây người nông dân đã mang cái nghèo của chính mình ra để mà đùa cợt. Tiếng cười ấy hướng vào chính họ nhưng cũng là để cho họ quên đi cảnh khổ mà lạc quan yêu đời và ham sống hơn.

b) Bài ca dao có giọng hài ước dí dỏm, đáng yêu là nhờ những yếu tố nghệ thuật:

Lối nói khoa trương phóng đại: dẫn voi, trâu, bò, nhà khoai lang…

Lối nói giảm dần: voi đ trâu đ bò đ chuột

củ to đ củ nhỏ đ củ mẻ đ củ rím, củ hà.

Cách nói đối lập, phủ định:

Chi tiết hài ước, giàu liên tưởng:

3. So với tiếng cười trong bài 1, tiếng cười ở các bài 2, 3, 4 là tiếng cười đả kích, châm biến, phê phán xã hội. Nó hướng vào những thói hư tật xấu của một bộ phận trong nội bộ nhân dân. Những tật xấu ở đây tuy không đến mức bị đả kích một cách quyết liệt. Nhưng trong khi nhẹ nhàng, thân tình nhắc nhở, thái độ của nhân dân ta cũng không kém phần sâu sắc. Hai đối tượng được dẫn ra để cười cợt ở đây là những người chồng lười nhác, vô dụng và những người vợ vô duyên xấu tính nhưng lại ưa nịnh hót.

Có thể thấy nét riêng hài ước của từng bài:

Bài 2 và 3 chế giễu loại đàn ông yếu đuối, lười nhác trong xã hội:

Bức tranh thứ nhất:

Tiếng cười trong câu thơ này bật lên từ nghệ thuật phóng đại và thủ pháp đối lập. Người ta có thể yếu ớt nhưng chắc chắn không ai yếu đến mức “khom lưng chống gối” (ráng hết sức) để “gánh hai hạt vừng” (hai vật quá nhỏ) như vậy. Vậy ra cách nói kia chỉ là một so sánh kín đáo để chế nhạo những kẻ lười nhác trong lao động. Thông điệp mà bài ca dao muốn nhắc nhở những hạng người kia là hãy sống sao cho mạnh mẽ, vững vàng. Làm trai không được ỷ lại, không nên sống nhờ vào người khác.

Bức tranh thứ hai:

Hướng mũi tên đả kích vào loại đàn ông lười nhác, không có chí lớn. Nó có khác gì chú mèo kia cứ hàng ngày ăn rồi lại nằm cuộn tròn nơi xó bếp. Là người chủ của gia đình mà lười nhác, vô tích sự như thế thì hỡi ôi! thảm hại biết chừng nào.

Bài 4 là bài ca dao chế giễu loại phụ nữ đỏng đảnh, vô duyên. Tiếng cười của bài ca dao lại một lần nữa chủ yếu được xây dựng dựa trên nghệ thuật phóng đại và những liên tưởng phong phú của tác giả dân gian. Đằng sau tiếng cười hài ước, giải trí, mua vui, tác giả dân gian vẫn muốn thể hiện một lời châm biếm nhẹ nhàng tới loại phụ nữ vô duyên đỏng đảnh – một loại người không phải không có trong xã hội.

4. Những biện pháp nghệ thuật thường được sử dụng trong ca dao hài ước:

Cường điệu phóng đại, tương phản đối lập.

Khắc họa nhân vật bằng những nét điển hình có giá trị khái quát cao.

Dùng ngôn ngữ đời thường nhưng thâm thúy và sâu sắc.

Có nhiều liên tưởng độc đáo, bất ngờ, lí thú.

5. Lời thách cưới của cô gái: “Nhà em thách cưới một nhà khoai lang” là một lời ứng xử khôn khéo, thông minh. Như trên đã phân tích, cô gái không những không mặc cảm mà còn bằng lòng với cảnh nghèo, tỏ ra vui và thích thú trong lời thách cưới (dù chỉ là lời đối đáp nam nữ trong dân ca).

Lời thách cưới ấy là tiếng cười tự trào của người lao động. Nó tô đậm vẻ đẹp tâm hồn, sự vô tư, hồn nhiên và niềm lạc quan yêu đời của họ ngay trong cảnh nghèo nàn.

Soạn Bài Lớp 10: Ca Dao Hài Hước Soạn Bài Môn Ngữ Văn Lớp 10 Học Kì I

Soạn bài lớp 10: Ca dao hài hước Soạn bài môn Ngữ văn lớp 10 học kì I

Soạn bài: Ca dao hài hước

Soạn bài lớp 10: Tấm Cám Soạn bài lớp 10: Tam đại con gà nhưng nó phải bằng hai mày Soạn bài lớp 10: Chọn sự việc, chi tiết tiêu biểu trong văn tự sự

CA DAO HÀI HƯỚC

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Những bài ca dao được giới thiệu trong bài này tiêu biểu cho tiếng cười giải trí, tiếng cười tự trào và tiếng cười châm biếm, phê phán xã hội.

2. Tiếng cười tự trào (tự cười mình) là tiếng cười lạc quan yêu đời của người lao động. Họ đã lấy chính cái nghèo của mình để tự trào một cách hồn nhiên, hóm hỉnh. Dù cuộc sống nghèo hèn nhưng họ đã vượt lên để sống một cách lạc quan bằng cách “thi vị hóa” cuộc sống của mình.

3. Tiếng cười giải trí là tiếng cười của niềm lạc quan yêu đời, là sản phẩm của óc hài hước và trào lộng của nhân dân ta. Tiếng cười giải trí cũng là một cách để quên đi những bộn bề lo âu vất vả của cuộc sống hàng ngày.

4. Tiếng cười phê phán, châm biếm là tiếng cười hướng vào những thói xấu trong một bộ phận quần chúng nhân dân nhằm đả kích, cải biến nó hoặc tiêu diệt nó (những hạng người lười nhác, ham ăn, những thầy bói dởm, những quan lại bất tài, những người phụ nữ đỏng đảnh, trăng hoa…).

Các bài ca dao hài hước đều có cách khắc họa nhân vật rất điển hình, sử dụng nhiều yếu tố, chi tiết cười điệu hóa, cách dựng cảnh rất bài tình… để tạo ra những nét hài hước hóm hỉnh mà châm biếm sâu cay.

II. RÈN KĨ NĂNG 1. Có thể sắp xếp bốn bài ca dao thành 2 nhóm:

Nhóm tiếng cười tự trào: bài số 1.

Nhóm tiếng cười châm biếm, phê phán xã hội: các bài 2, 3, 4.

2. a) Cưới xin hôn lễ là một chuyện vô cùng hệ trọng và có ý nghĩa đối với cuộc đời của mỗi con người. Nó thường được chuẩn bị chu đáo và cẩn thận. Thế nhưng việc dẫn cưới và thách cưới ở đây đều rất khác thường. Thực ra nó là hai màn tự trào về cảnh nghèo của người lao động. Chàng trai mở đầu màn dẫn cưới bằng rất nhiều điều “to tát”(dẫn voi, dẫn trâu, dẫn bò). Thế nhưng chàng lại viện đủ lí do (mà lí do nào cũng hợp lí: dẫn voi… sợ quốc cấm, dẫn trâu… sợ họ máu hàn, dẫn bò… sợ họ nhà nàng co gân) để khước từ tất cả những việc làm này. Vậy là đám cưới lí ra có voi, có trâu, có bò nhưng rồi chẳng có gì cả. Không những vậy, chàng trai kia còn táo bạo “nhất quyết” đùa cợt đến cùng:

Lời đáp của cô gái cũng… chẳng vừa. Thách cưới mà lại thách “một nhà khoai lang” thì dễ đấy nhưng cũng có khác nào làm khó người ta. Song điều quan trọng không phải ở điểm này mà là ở chỗ cô gái hiểu “hoàn cảnh” của nhà em và nhà anh… cũng giống nhau thôi. Và như thế đám cưới chỉ cần một “nhà khoai lang” là cũng quá đủ rồi.

Qua lời thách cưới và lời dẫn cưới, chúng ta có thể thấy ở đây người nông dân đã mang cái nghèo của chính mình ra để mà đùa cợt. Tiếng cười ấy hướng vào chính họ nhưng cũng là để cho họ quên đi cảnh khổ mà lạc quan yêu đời và ham sống hơn.

b) Bài ca dao có giọng hài ước dí dỏm, đáng yêu là nhờ những yếu tố nghệ thuật:

Lối nói khoa trương phóng đại: dẫn voi, trâu, bò, nhà khoai lang…

Lối nói giảm dần: voi đ trâu đ bò đ chuột

củ to đ củ nhỏ đ củ mẻ đ củ rím, củ hà.

Cách nói đối lập, phủ định:

Chi tiết hài ước, giàu liên tưởng:

3. So với tiếng cười trong bài 1, tiếng cười ở các bài 2, 3, 4 là tiếng cười đả kích, châm biến, phê phán xã hội. Nó hướng vào những thói hư tật xấu của một bộ phận trong nội bộ nhân dân. Những tật xấu ở đây tuy không đến mức bị đả kích một cách quyết liệt. Nhưng trong khi nhẹ nhàng, thân tình nhắc nhở, thái độ của nhân dân ta cũng không kém phần sâu sắc. Hai đối tượng được dẫn ra để cười cợt ở đây là những người chồng lười nhác, vô dụng và những người vợ vô duyên xấu tính nhưng lại ưa nịnh hót.

Có thể thấy nét riêng hài ước của từng bài:

Bài 2 và 3 chế giễu loại đàn ông yếu đuối, lười nhác trong xã hội:

Bức tranh thứ nhất:

Tiếng cười trong câu thơ này bật lên từ nghệ thuật phóng đại và thủ pháp đối lập. Người ta có thể yếu ớt nhưng chắc chắn không ai yếu đến mức “khom lưng chống gối” (ráng hết sức) để “gánh hai hạt vừng” (hai vật quá nhỏ) như vậy. Vậy ra cách nói kia chỉ là một so sánh kín đáo để chế nhạo những kẻ lười nhác trong lao động. Thông điệp mà bài ca dao muốn nhắc nhở những hạng người kia là hãy sống sao cho mạnh mẽ, vững vàng. Làm trai không được ỷ lại, không nên sống nhờ vào người khác.

Bức tranh thứ hai:

Hướng mũi tên đả kích vào loại đàn ông lười nhác, không có chí lớn. Nó có khác gì chú mèo kia cứ hàng ngày ăn rồi lại nằm cuộn tròn nơi xó bếp. Là người chủ của gia đình mà lười nhác, vô tích sự như thế thì hỡi ôi! thảm hại biết chừng nào.

Bài 4 là bài ca dao chế giễu loại phụ nữ đỏng đảnh, vô duyên. Tiếng cười của bài ca dao lại một lần nữa chủ yếu được xây dựng dựa trên nghệ thuật phóng đại và những liên tưởng phong phú của tác giả dân gian. Đằng sau tiếng cười hài ước, giải trí, mua vui, tác giả dân gian vẫn muốn thể hiện một lời châm biếm nhẹ nhàng tới loại phụ nữ vô duyên đỏng đảnh – một loại người không phải không có trong xã hội.

4. Những biện pháp nghệ thuật thường được sử dụng trong ca dao hài ước:

Cường điệu phóng đại, tương phản đối lập.

Khắc họa nhân vật bằng những nét điển hình có giá trị khái quát cao.

Dùng ngôn ngữ đời thường nhưng thâm thúy và sâu sắc.

Có nhiều liên tưởng độc đáo, bất ngờ, lí thú.

5. Lời thách cưới của cô gái: “Nhà em thách cưới một nhà khoai lang” là một lời ứng xử khôn khéo, thông minh. Như trên đã phân tích, cô gái không những không mặc cảm mà còn bằng lòng với cảnh nghèo, tỏ ra vui và thích thú trong lời thách cưới (dù chỉ là lời đối đáp nam nữ trong dân ca).

Lời thách cưới ấy là tiếng cười tự trào của người lao động. Nó tô đậm vẻ đẹp tâm hồn, sự vô tư, hồn nhiên và niềm lạc quan yêu đời của họ ngay trong cảnh nghèo nàn.

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài: Ca Dao Hài Hước – Ngữ Văn 10 Tập 1 trên website Maiphuongus.net. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!