Xem Nhiều 1/2023 #️ Skkn Một Số Kinh Nghiệm Dạy Tiết Ôn Tập Địa Lí 9 Bằng Sơ Đồ Tư Duy Tại Trường Thcs Quảng Giao – Huyện Quảng Xương – Tỉnh Thanh Hóa # Top 2 Trend | Maiphuongus.net

Xem Nhiều 1/2023 # Skkn Một Số Kinh Nghiệm Dạy Tiết Ôn Tập Địa Lí 9 Bằng Sơ Đồ Tư Duy Tại Trường Thcs Quảng Giao – Huyện Quảng Xương – Tỉnh Thanh Hóa # Top 2 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Skkn Một Số Kinh Nghiệm Dạy Tiết Ôn Tập Địa Lí 9 Bằng Sơ Đồ Tư Duy Tại Trường Thcs Quảng Giao – Huyện Quảng Xương – Tỉnh Thanh Hóa mới nhất trên website Maiphuongus.net. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

1.1 Lý do chọn đề tài Trong nhiều năm qua, nền kinh tế xã hội trên toàn thế giới có nhiều chuyển biến nhanh chóng. Ở nước ta trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội, vấn đề giáo dục luôn được coi là vấn đề quan trọng hàng đầu. Để đáp ứng được yêu cầu của cách mạng khoa học kỹ thuật đang phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ, đòi hỏi ngành giáo dục và đào tạo phải thay đổi cách dạy và cách học nhằm tạo ra nguồn nhân lực mới có tri thức khoa học cao, kĩ năng vận dụng vào thực tiễn và dễ dàng thích ứng trong môi trường mới đầy năng động, sáng tạo để giải quyết tốt các vấn đề trong cuộc sống. Từ lâu, dạy học theo kiểu “đọc – chép” được coi là một phương pháp dạy học để truyền tải kiến thức cho học sinh và được sử dụng phổ biến ở nhiều trường trong cả nước. Ngành Giáo dục và Đào tạo cũng đã có nhiều cuộc hội thảo và cũng đã đưa ra nhiều phương pháp dạy học tích cực hơn nhưng hiện tại không ít giáo viên vẫn sử dụng cách dạy học theo kiểu “đọc – chép” Phải nói rằng trong một tiết dạy, cũng có lúc giáo viên cần phải đọc cho học sinh chép như môn chính tả…ở bậc Tiểu học,  đọc hoặc ghi lên bảng các công thức toán học, bảng cửu chương, một sự kiện lịch sử, một số yếu tố địa lý, đoạn thơ, các khái niệm…ở bậc Trung học, điều này không có nghĩa là giáo viên đã sử dụng phương pháp “đọc – chép”. Cũng phải khẳng định rằng, trong giáo học pháp, chưa bao giờ trong trường học có phương pháp dạy học mang tên “đọc – chép”. Do đó, “đọc” thế nào và học sinh “chép” ra sao mới là quan trọng. Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trương chống việc dạy học “chủ yếu qua đọc chép – nhìn chép” nghĩa là chống việc chỉ đọc chép, truyền thụ kiến thức một chiều trong cả một tiết lên lớp. Với cách dạy này, người thầy đã máy móc, rập khuôn trong dạy học, dễ có tư tưởng phó mặc, không hứng thú trong cập nhật kiến thức, không sáng tạo trong việc tìm kiếm các phương án thiết kế bài dạy phù hợp với mọi đối tượng học sinh trong lớp mình phụ trách để kết quả giảng dạy đạt mức tối ưu. Người học theo cách này sẽ trở nên thụ động, chỉ biết thu nhận kiến thức một chiều, không động não suy nghĩ, không biết tự mình chiếm lĩnh tri thức, trở nên thui chột về tư duy, khó vận dụng kiến thức vào cuộc sống. Hơn nữa, đã dạy theo kiểu “đọc – chép” thì đề thi phải ra theo kiểu học thuộc. Học sinh khi học, chép được điều gì thì lúc thi, lại chép những điều ấy vào bài làm, không có khả năng sáng tạo, học sinh hiểu bài một cách máy móc không sáng tạo, không thể hiện được “cái riêng” của mình hoặc không dám thể hiện “cái riêng” của mình. Bài dạy học đọc – chép tất yếu phải được tổ chức theo phương thức diễn dịch, do đó tiết dạy “đọc – chép” sẽ nhàm chán và mang tính áp đặt. Việc giáo viên sử dụng cách dạy học theo kiểu đọc – chép, có thể kể ra một số nguyên nhân sau: Do một số bài học của chương trình có lượng kiến thức nhiều, trong một tiết học chỉ có 45 phút, mà đã mất 10 đến 15 phút ổn định tổ chức, kiểm tra bài cũ, dặn dò học, làm bài tập ở nhàNhư vậy, chỉ còn khoảng 30  phút để giảng bài mới nên giáo viên chọn cách “đọc – chép”. Học sinh hiện nay khả năng tự ghi bài là rất chậm, rất hạn chế, thụ động trong học tập nên cũng có thầy cô chọn cách đọc bài, học trò chép bài. Học sinh về nhà chỉ cần học thuộc nội dung đã được ghi, khi kiểm tra bài chỉ cần đọc đúng, ghi đúng là được điểm cao Cũng còn một số giáo viên không chịu khó đầu tư cho việc thiết kế bài dạy sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh mình đang phụ trách, sợ mất sức, cứ sẵn giáo án mẫu đọc cho học sinh chép, khi cần thỉnh thoảng mới dừng lại ghi vài chữ lên bảng. Như thế, vừa không sợ sai kiến thức cơ bản, lại vừa không tốn sức. Qua quá trình giảng dạy từ phương pháp truyền thống chuyển đổi sang phương pháp giảng dạy theo hướng mới đó là : Lấy học sinh làm trung tâm, tập trung đầu tư phương pháp làm sao cho học sinh chủ động nắm bắt kiến thức ngay trên lớp thông qua việc vận dụng từ những phương pháp tối ưu trên bục giảng để học sinh tự làm chủ , tự phát huy để lỉnh hội những kiến thức cơ bản ( trên chuẩn kiến thức kỉ năng ) là một việc làm thật sự thách thức và khó khăn cho cả thầy và trò ( làm sao cho hiệu quả , không chạy theo hình thức ), với kinh nghiệm là một giáo viên đã có tuổi nghề gần 20 năm . Những thách thức đó là : – Những thách thức đối với môn Địa lí ở trường phổ thông Vị trí, vai trò của môn Địa lí phổ thông trong thực hiện mục tiêu giáo dục Điều 23, Luật Giáo dục quy định mục tiêu của giáo dục phổ thông là: “giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con  người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Địa lí là môn học cung cấp cho học sinh (HS) những kiến thức phổ thông, cơ bản, cần thiết về Trái Đất và những hoạt động của con người trên bình diện quốc gia và quốc tế, làm cơ sở cho hình thành thế giới quan khoa học; giáo dục tư tưởng tình cảm đúng đắn; đồng thời rèn luyện cho HS các kĩ năng hành động, ứng xử phù hợp với môi trường tự nhiên, xã hội, phù hợp với yêu cầu của đất nước thờiđại. – Môn Địa lí còn có nhiều khả năng bồi dưỡng cho HS năng lực tư duy (tư duy kinh tế, tư duy sinh thái, tư duy phê phán,…); trí tưởng tượng và óc thảm mĩ; rèn luyện cho HS một số kĩ năng có ích trong đời sống và sản xuất. Cùng với các môn học khác, môn Địa lí góp phần bồi dưỡng cho HS ý thức trách nhiệm, lòng ham hiểu biết khoa học, tình yêu thiên nhiên, con người, quê hương, đất nước. Vì vậy, Địa lí là môn học không thể thiếu được trong hệ thống các môn học của nhà trường phổ thông, nhằm góp phần vào việc thực hiện mục tiêu giáo dục phổ thông như Luật Giáo dục đã nêu. Những khó khăn gặp phải trong quá trình đổi mới: – Một số giáo viên (GV) Địa lí vẫn chưa thực sự thấm nhuần bản chất, hướng và cách thức đổi mới PPDH Địa lí; hiểu biết về cơ sở lí luận, thực tiễn của đổi mới PPDH.   – Đa số GV vẫn chú trọng truyền thụ kiến thức theo kiểu thuyết trình xen kẽ hỏi đáp, nặng về thông báo, giảng giải kiến thức, nhẹ về phát huy tính tích cực và phát triển tư duy HS.  – Nhiều GV lên lớp theo kiểu dạy “chay”, không sử dụng bản đồ/lược đồ ngay cả trong các tiết học có nội dung về địa lí khu vực, quốc gia, tổ quốc và địa phương. Việc sử dụng phương tiện dạy học còn nặng về mô tả, minh hoạ là chủ yếu. – Hình thức tổ chức dạy học còn đơn điệu. Dạy theo lớp là chủ yếu. Các hình thức dạy học cá nhân, nhóm, ngoài trời còn được ít, hoặc chưa được thực hiện, hiệu quả thực hiện còn thấp. – Cơ sở vật chất phục vụ dạy học và các phương tiện dạy học còn thiếu và chưa đồng bộ.[1]. …… Bài ôn tập trở nên vô cùng cần thiết cho vấn đề củng cố kiến thức cho các em trong tất cả các môn học. Riêng đối với môn Địa lí thì đây là một trong những bài khó dạy, vì trong sách giáo khoa không có bài ôn tập cụ thể, lại không có sách nào hướng dẫn một tiết ôn tập một cách chi tiết. Chính vì lẽ đó giáo viên khi dạy các tiết này thường gặp rất nhiều khó khăn, đòi hỏi giáo viên phải có sự chuẩn bị công phu, kiến thức tổng hợp nhuần nhuyễn, kĩ năng phân tích thuần thục và phải có phương pháp dạy học hợp lí, bên cạnh đó học sinh cũng phải có sự chuẩn bị đầy đủ trước những nội dung ôn tập ở nhà thì mới dạy tốt được tiết ôn tập. Tuy nhiên, khi tổ chức dạy học ở lớp, tiết ôn tập vẫn rất khó thành công. Những tiết ôn tập trong chương trình Địa lí THCS không có trong sách giáo khoa mà giáo viên tự soạn nội dung, vì vậy thường rơi vào tình trạng nội dung ôn tập quá dài, không thực hiện được hết trong một tiết; hoặc có những tiết lại không tổng hợp, hệ thống hóa được kiến thức trọng tâm của chương trình, dàn trải nội dung. Kết quả học sinh không thích tiết ôn tập, hơn nữa học sinh rất thực tế, các em chạy theo các môn khoa học tự nhiên và môn ngoại ngữ, không thích các môn xã hội, nhất là môn Địa lí các em xem đây là môn phụ thì chínhcác tiết ôn tập làm các em nhàm chán. Nhiều năm trong nghề, tôi rất trăn trở về vấn đề này, mỗi lần có thanh tra về hoặc thi giáo viên giỏi nếu gặp tiết ôn tập tôi rất lo sợ. Không những riêng tôi mà các đồng nghiệp của tôi cũng vậy, họ rất ngại tiết ôn tập. Vì vậy đề tìm được phương pháp nào tiện lợi, hiệu quả vừa có khả năng truyền tải hết kiến thức bài học vừa tạo ra cho học sinh hứng thú học tập. Vừa khắc sâu kiến thức, vừa làm cho các em yêu thích môn học. Từ đó phát huy tính tích cực, tự giác và suy luận cho các em, nhất là các em khối 9 để các em có đủ hành trang cho các kì thi tuyển (Thi HSG, thi tuyển sinh vào lớp 10 – nếu môn thi thứ ba là môn Địa lí). Chính vì thế được sự đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp, tôi đã chọn “Một số kinh nghiệm dạy tiết ôn tập Địa lí 9 bằng sơ đồ tư duy tại trường THCS Quảng Giao – huyện Quảng Xương – tỉnh Thanh Hóa” góp phần tổng hợp kiến thức nhanh gọn, khái quát.Tôi đã mạnh dạn áp dụng phương pháp này vào xây dựng giáo án tiết 17: Ôn tập Địa lí 9. Kết quả thấy việc áp dụng phương pháp mới đó đã giải thoát được rất nhiều vướng mắc của giáo viên bấy lâu nay là rút ngắn được thời gian. Đặc biệt hệ thống hóa kiến thức một cách nhanh chóng, đa số học sinh hiểu bài, khắc sâu hơn kiến thức bài học, hứng thú trong học tập, các em có ý thức xây dựng bài nhiều hơn, biết suy luận các vấn đề, giờ học Địa lí trở nên sôi nổi hơn. Tôi thiết nghĩ tiết ôn tập (Địa lý) nào giáo viên cũng làm được như thế này thì chắc chắn môn Địa lí sẽ được các em yêu thích nhiều hơn 1.2. Mục đích nghiên cứu – Góp phần nâng cao khả năng xây dựng và sử dụng sơ đồ cho giáo viên. -  Giúp học sinh có khả năng nhận thức kiến thức và tự hoàn thiện kiến thức. – Thông qua tiết ôn tập GV tổng kết lại kiến thức đã học trước đó bằng việc sử dụng sơ đồ trong dạy học Địa lí. Đồng thời rèn luyện cho HS những kỷ năng vẽ biểu đồ ở các dạng bài tập Địa lí. – Giới hạn trong việc tạo kỷ năng xây dựng và sử dụng sơ đồ cho giáo viên. – Tìm hiểu thực trạng dạy tiết ôn tập hiện nay và nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên – Cần phải có phương pháp như thế nào để ôn tập tốt cho học sinh, cho các em nắm vững hệ thống kiến thức về dân cư và các ngành kinh tế của Việt Nam để tiết sau các em làm kiểm tra có kết quả tốt – Dạy tiết ôn tập như thế nào để các em hứng thú với tiết học, không gây sự nhàm chán học lại kiến thức – Áp dụng phương pháp sơ đồ trong dạy tiết 17 (Ôn tập Địa lí lớp 9). – Đề tài này được thực hiện nghiên cứu ở chương trình Địa lí 9(HK1), thực hiện phương pháp dạy ôn tập bằng sơ đồ phần Địa lí dân cư và Địa lí kinh tế. – Học sinh có thể vận dụng nghiên cứu để hình thành kĩ năng, phương pháp học tập tốt hơn thông qua sơ đồ 1.3. Đối tượng nghiên cứu – Áp dụng đối với học sinh THCS nói chung – Người thực hiện là giáo viên và học sinh trong giảng dạy và học tập môn địa lí ôn tập GV tổng kết lại kiến thức đã học trước đó bằng việc sử dụng sơ đồ trong dạy học Địa lí. Đồng thời rèn luyện cho HS những kỷ năng vẽ biểu đồ ở các dạng bài tập Địa lí. 1.4. Phương pháp nghiên cứu – Phương pháp thử nghiệm – Phương pháp vấn đáp – Phương pháp nêu vấn đề 1.5 Điểm mới của Sáng kiến – Giúp HS hệ thống hóa kiến thức ở tiết ôn tập – Tạo hứng thú học tập cho học sinh yên thích bộ môn Địa lý – Hướng tới hoạt động học của học sinh nhằm phát huy năng lực của các em. 2 . NỘI DUNG SÁNG KIẾN 2.1. Cơ sở lí luận Ngày nay trong quá trình hội nhập nền kinh tế, giáo dục được coi là một lĩnh vực rất quan trọng và luôn đi trước một bước trong sự nghiệp phát triển kinh tế của một quốc gia.Vì vậy, vấn đề chất lượng dạy- học nói chung và dạy học môn Địa lí nói riêng ngày càng trở thành mối quan tâm chung của các nhà sư phạm cũng như các nhà quản lý giáo dục và xã hội. Đảng và nhà nước ta đã khẳng định: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển”. Điều đó đã được thể hiện trong các Nghị Quyết của Trung ương. Nghị quyết TW4 khoá VII đã chỉ rõ phải “Đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học, bậc học. Kết hợp học với hành, học tập với lao động sản xuất, thực nghiệm và nghiên cứu khoa học, gắn nhà trường với xã hội. Áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo năng lực giải quyết vấn đề Nghị quyết TW2 khoá VIII tiếp tục khẳng định phải “Đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp  tiên tiến và phương pháp hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học , tự nghiên cứu cho học sinh Từ kết kết quả đạt được trong năm học 2015-2016, 2016 – 2017 về thực hiện nhiệm vụ trọng tâm của ngành, năm học 2017-2018 ngành Giáo dục & Đào tạo Quảng Xương tiếp tục tập trung thực hiện thắng lợi chương trình hành động của chính phủ triển khai Nghị quyết đại hội XII của Đảng. Nghị quyết đại hội Đảng bộ lần thứ XXV nhiệm kì 2015-2020, tiếp tục đưa sự nghiệp Giáo dục & Đào tạo huyện Quảng Xương phát triển vững chắc với nhiệm vụ tập trung nâng cao chất lượng và đổi mới phương thức dạy học. Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn của xã hội, môn Địa lí trong nhà trường nói chung và môn Địa lí lớp 9 nói riêng không ngừng cải tiến chương trình, cải tiến phương pháp dạy học nhằm đạt được hiệu quả cao nhất.Trong đó ”kinh nghiệm dạy tiết ôn tập Địa lí 9 bằng sơ đồ tư duy “đóng vai  trò quan trọng, nó có nhiệm vụ củng cố kiến thức, rèn luyện kỷ năng Địa lí cho học sinh một cách thuần thục và chắc chắn hơn Theo cấu trúc chương trình, hầu như sau một chương thường có một tiết ôn tập để củng cố kiến thức chuẩn bị cho tiết kiểm tra. Đây là một thuận lợi rất lớn giúp giáo viên thực hiện tốt các phương pháp dạy học và biện pháp rèn luyện kỹ năng địa lí cho học sinh 2.2. Thực trạng vấn đề Qua nhiều năm giảng dạy môn Địa lí lớp 9, tôi nhận thấy chương trình Địa lí THCS nói chung và Địa lí lớp 9 nói riêng có nhiều kiến thức rất trừu tượng đối với học sinh, nhiều khái niệm, có nhiều bài nội dung dài nên trong thời gian một tiết học rất khó để giáo viên giảng giải hết cho học sinh hiểu. Là môn học không có chương trình ngoại khóa cho nên tiết ôn tập là để giáo viên khái quát và chốt kiến thức quan trọng đồng thời giải đáp một số thắc mắc của học sinh. Vì thế vấn đề đặt ra cho mỗi giáo viên có trình độ chuyên ngành hay không chuyên ngành việc lựa chọn phương pháp dạy học như thế nào cho phù hợp mỗi tiết học. Thực tế trong quá trình giảng dạy nhiều giáo viên rất ngại khi sử dụng sơ đồ(có thể do nhận thức về phương pháp này, do sợ thiếu thời gian lên lớp hay chi phí tốn kém. Qua nhiều năm giảng dạy tôi thấy học sinh có kĩ năng ôn tập môn Địa lí rất hạn chế. Tôi đã tiến hành khảo sát, thăm dò một số lớp 9 trong trường về kĩ  năng ôn tập môn Địa lí và đã thu được một số kết quả như sau: Kết quả khảo sát trước khi thực hiện đề tài (hai lớp với 49 em học sinh) Lớp Sĩ số Giỏi Khá TB 9A 25 0 8 17 9B 24 0 6 19 2.3. Các giải pháp sử dụng để giải quyết đề tài Các giải pháp chung 2.3.1. Khái niệm: 2.3.2. Cấu tạo: – Phát triển các nhánh cấp 1 là các nhánh cấp 2 mang các ý phụ làm rõ mỗi ý chính. 2.3.3. Các bước thiết kế một SĐTD: [4] Để thiết kế một SĐTD dù vẽ thủ công trên bảng, trên giấy…, hay trên phần mềm Mind Map, chúng ta đều thực hiện theo thứ tự các bước sau đây: Bước 3: Ở mỗi ý chính, ta lại xác định cần đưa ra những ý nhỏ nào để làm rõ mỗi ý chính ấy. Sau đó, nối chúng vào mỗi nhánh chính. Cứ thế ta triển khai thành mạng lưới liên kết chặt chẽ. Bước 4: Cuối cùng, ta dùng hình ảnh (vẽ hoặc chèn) để minh họa cho các ý, tạo tác động trực quan, dễ nhớ. 2.3.4. Quy trình tổ chức hoạt động vẽ SĐTD trên lớp: Hoạt động 1: Cho học sinh lập SĐTD theo nhóm hay cá nhân thông qua gợi ý của giáo viên. Hoạt động 2: Học sinh hoặc đại diện của các nhóm học sinh lên báo cáo, thuyết minh về SĐTD mà nhóm mình đã thiết lập. Hoạt động 4: Củng cố kiến thức bằng một SĐTD mà giáo viên đã chuẩn bị sẵn hoặc một SĐTD mà cả lớp đã tham gia chỉnh sửa hoàn chỉnh, cho học sinh lên trình bày, thuyết minh về kiến thức đó. 2.3.5. Những tiện ích của việc sử dụng Sơ đồ tư duy trong dạy học Địa lí: – Dạy học bằng SĐTD giúp học sinh có được phương pháp học hiệu quả. Chúng ta biết rằng việc rèn luyện phương pháp học tập cho HS không chỉ đơn thuần là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là mục tiêu dạy học. Trong thực tế hiện nay, còn nhiều học sinh học tập một cách thụ động, chỉ đơn thuần là nhớ kiến thức một cách máy móc theo thói quen học vẹt, các em chưa có ý thức hoặc chưa biết rèn luyện kỹ năng tư duy. Học sinh chỉ học bài nào biết bài ấy, nắm kiến thức một cách đơn lẻ, rời rạc, chưa biết tích hợp, liên hệ kiến thức với nhau giữa các bài học, giữa các phân môn, vì vậy mà chưa phát triển được tư duy lô-gic và tư duy hệ thống. Do đó, dù các em học rất chăm chỉ nhưng vẫn học kém. Vì học phần sau đã quên phần trước, không biết vận dụng kiến thức đã học trước đó vào những phần sau. Lại có nhiều học sinh khi đọc sách hoặc nghe giảng trên lớp không biết cách tự ghi chép để lưu thông tin, hay kiến thức trọng tâm vào trí nhớ của mình. Bởi vậy, rèn kuyện cho các em có thói quen và kĩ năng sử dụng thành thạo SĐTD trong quá trình dạy học sẽ giúp học sinh có được phương pháp học tốt, phát huy tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy. – Sơ đồ tư duy giúp học sinh học tập một cách tích cực. Một số kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình. Vì vậy sử dụng SĐTD giúp học sinh học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não. Việc học sinh trực tiếp vẽ SĐTD vừa lôi cuốn, hấp dẫn các em, đồng thời còn phát triển khiếu thẩm mĩ, óc hội họa, bởi đó là “sản phẩm kiến thức hội họa”do chính các em tự làm ra, lại vừa p

Skkn Vận Dụng Sơ Đồ Tư Duy Vào Tiết Ôn Tập Công Nghệ 6

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI: ” VẬN DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY VÀO TIẾT ÔN TẬP MÔN CÔNG NGHỆ 6″

0

I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI : Để thực hiện mục tiêu và nội dung dạy học, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học theo triết lý lấy người học làm trung tâm được đặt ra một cách bức thiết. Bản chất của dạy học lấy người học làm trung tâm là phát huy cao độ tính tự giác, tích cực,độclập, sáng tạo của ngườihọc. Trong thực tế hiện nay, còn nhiều học sinh học tập một cách thụ động, chỉ đơn thuần là nhớ kiến thức một cách máy móc mà chưa rèn luyện kỹ năng tư duy. Học sinh chỉ học bài nào biết bài đó, cô lập nội dung của các bài học mà chưa có sự liên hệ kiến thức với nhau vì vậy nên chưa phát triển được tư duy logic và tư duy hệ thống. Sử dụng Bản đồ tư duy giúp các em giải quyết được các vấn đề trên và nâng cao hiệu quả học tập. Từ thực trạng trên, tôi hình thành ý tưởng vận dụng Bản đồ tư duy vào tiết ôn tập để có thể phát huy tối đa năng lực của mỗi cá nhân cũng như hiệu quả học tập. Với lý do trên tôi lựa chọn đề tài : “Vận dụng Bản đồ tư duy vào tiết ôn tập môn Công nghệ 6”

2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU: Việc dùng bản đồ tư duy giúp cho học sinh không những nắm được kiến thức , kỹ năng mà còn nắm được phương pháp làm ra những kiến thức kỹ năng khác, không rập khuôn theo những mẫu có sẵn , mà qua đó bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo. Giúp HS không những nắm được tri thức mới mà phát triển tư duy tích tích cực sáng tạo để chuẩn bị năng lực thích ứng với đời sống xã hội : phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lí những vấn đề nảy sinh.

3 . ĐỐI TƯƠNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1

– Đối tượng nghiên cứu : Các tiết dạy và học có sử dụng đề tài sáng kiến kinh nghiệm “Vận dụng Bản đồ tư duy vào tiết ôn tập môn Công nghệ 6” – Phạm vi nghiên cứu: Áp dụng cho những tiết học Ôn tập tổng kết chương May mặc; Trang trí nhà ở; Nấu ăn trong gia đình; Thu chi trong gia đình trong phạm vi chương trình môn công nghệ 6 . 4. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU. Khảo sát tình hình thực tế của việc sử dụng đề tài sáng kiến kinh nghiệm “Vận dụng Bản đồ tư duy vào tiết ôn tập môn Công nghệ 6″ trong nhà trường so sánh với các phương pháp dạy bình thường để rút ra ưu điểm và nhược điểm

5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. – Điều tra thực trạng, thực tế giảng dạy- Nghiên cứu tài liệu, phần mềm Buzans iMindMap – Ứng dụng thực nghiệm để hoàn tất sáng kiến kinh nghiệm: “Vận dụng Bản đồ tư duy vào tiết ôn tập môn Công nghệ 6″

6. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Từ thực tiễn giảng dạy kết hợp với việc nguyên cứu các tài liệu, thông tin báo chí xác định rõ những nguyên nhân, khiếm khuyết trong quá trình giảng dạy để nảy sinh, đề xuất các biện pháp, giải pháp tiến hành thử nghiệm trong quá trình giảng dạy của mình . Qua đó rút ra được một số kết quả bước đầu

2

II. PHẦN NỘI DUNG Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.

CƠ SỞ PHÁP LÝ Năm học 2011- 2012 là năm học Bộ giáo dục và đào tạo tiếp tục đổi mới phương

pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy và học, một trong những phương pháp dạy học mới và hiện đại nhất được đưa vào là phương pháp dạy học bằng bản đồ tư duy (BĐTD). Một phương pháp dạy học mới đang được rất nhiều nước trên thế giới áp dụng. Qua việc tìm hiểu và vận dụng phương pháp dạy học bằng bản đồ tư duy, tôi nhận thấy phương pháp dạy học này rất có hiệu quả trong công tác giảng dạy và học tập của học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”

3. CƠ SỞ THỰC TIỄN Đối tượng nghiên cứu của môn công nghệ 6, rất đa dạng và nhiều thuộc lĩnh vực khác nhau : May mặc, trang trí, nấu ăn; thu chi trong gia đình . Đây là phương pháp dạy học mới nên giáo viên và học sinh không tránh khỏi lung túng trong một số kĩ năng như sưu tầm, xử lý thông tin, vẽ, ý tưởng. Năng lực học sinh không đồng đều nên đôi khi việc vẽ sơ đồ tư duy trong học tập là sự máy móc không hiệu quả. Khi đó điều kiện dạy học bộ môn này còn hạn chế về thời gian, không gian cơ sở vật chất của trường còn thiếu để dạy tốt đòi hỏi giáo viên phải có nhiều kĩ năng khác ngoài kĩ năng sư phạm để gây hứng thú cho người học, kích thích học sinh tư duy tích cực.

Chương II: THỰC TRẠNG

1.

KHÁI QUÁT PHẠM VI

Trường là một vùng nông thôn, các phương tiện kỹ thuật phục vụ dạy học còn nhiều khó khăn. Học sinh con em nhà làm nông, nên gia đình chưa quan tâm đến việc học của các em.Có quan tâm chăng thì người ta chưa chú trong đến môn học. vẫn còn quan niệm môn chính – phụ trong học tập. Bên cạnh đó bản thân của các em cũng chưa thật sự yêu thích môn học. Các em chỉ học theo nghĩa vụ chứ chưa say mê dẫn đến kết quả học tập của các em đối với môn chưa cao.

2. THỰC TRẠNG ĐỀ TÀI

5

1. CƠ SỞ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP

6

Dựa trên nguyên lý hoạt động của bộ não, BĐTD có thể giúp chúng ta ghi nhớ lâu hơn, đọc nhanh hơn, hiệu quả hơn. Không những vậy, chúng ta cũng hiểu được sơ đồ tư duy, thấy được sự tương thích giữa sơ đồ tư duy với cấu tạo, chức năng và hoạt động của bộ não. Từ đó thấy được vai trò quan trọng của nó trong học tập và trong đời sống. Đề tài đặt ra mục đích, nhiệm vụ của nghiên cứu đó là: ứng dụng triệt để sơ đồ tư duy vào trong dạy học nói chung và giảng dạy môn Công nghệ nói riêng để phát huy tối đa khả năng tư duy, đặc biệt là tư duy hệ thống Khi HS đã thiết kế BĐTD và tự “ghi chép” phần kiến thức như trên là các em đã hiểu sâu kiến thức và biết chuyển kiến thức từ SGK theo cách trình bày thông thường thành cách hiểu, cách ghi nhớ riêng của mình

2. CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU Qua đợt tập huấn dạy học sử dụng Bản đồ tư duy mà nhà trường đã triển khai tôi nhận thấy dạy học bằng Bản đồ tư duy là phương pháp dạy học tích cực tôi bắt đầu áp dụng đề tài của mình. Thiết kế bản đồ tư duy vào tiết dạy ôn tập tổng kết chương.

3. TỔ CHỨC TRIỂN KHAI THỰC HIỆN

VÍ DỤ 1:

DẠY BÀI ÔN TẬP CHƯƠNGI

Hoạt động 1: Lập bản đồ tư duy: Mở đầu bài học, giáo viên đưa ra một từ trung tâm hay còn gọi từ khóa ” May mặc trong gia đình” rồi mới yêu cầu học sinh vẽ BĐTD bằng cách giới thiệu hình ảnh, đặt câu hỏi, gợi ý cho các em có thể vẽ tiếp các nhánh con 9

10

VÍ DỤ 2: DẠY BÀI ÔN TẬP CHƯƠNG II : TRANG TRÍ NHÀ Ở

các hoạt động tương tự ở ví dụ 1. Sau khi thực hiện các hoạt động trên, giáo viên có thể giới thiệu cho học sinh BĐTD sau đây:

VÍ DỤ 3: ÔN TẬP CHƯƠNG III : NẤU ĂN TRONG GIA ĐÌNH Tổ chức cho HS lập BĐTD theo nhóm hoặc cá nhân, gợi ý cho các em tìm hiểu cơ sở của việc ăn uống hợp lí, nguyên tắc và quy trình để tổ chức bữa ăn hợp lí, cách tỉa hoa trang trí các món ăn,…để các em lập BĐTD với từ khóa “Chương nấu ăn trong gia đình” ở

12

3.2:Kết quả: Qua nhiều chương tôi áp dụng cách thực hiện ở trên, tôi nhận thấy các em nhớ bài nhanh hơn, từng bước xây dựng được kỹ năng diễn giải. Vì vậy, việc củng cố bài học đối với học sinh đã hoàn thành sơ đồ tóm tắt, tôi thường dành vài phút đề phân tích nhằm khắc 13

Giỏi

Khá

Trung

số

Yếu

TB

TL

SL

TL

SL

thấp

trở

SL TL

SL

TL

6A

32

14

43,8 10

31,2 8

25,0

32

100

6B

33

17

51,5 10

30,3 6

18,2

33

100

6C

31

12

38,7 17

54,8 2

6,5

31

100

6D

33

19

67,6 9

27,3 4

12,1 1

32

97,0

3,0

14

III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Kết luận: Sử dụng Bản đồ tư duy vào tiết ôn tập tổng kết chương củng cố nội dung bài học đã giúp các em tư duy tốt hơn, giúp không khí lớp học sinh động hơn từ đó giúp các em ý thức tự học tập, học sinh tiếp cận kiến thức một cách nhẹ nhàng , nắm vững kiến thức nhờ tác dụng của Bản đồ tạo hình sinh động và khoa học tăng khả năng nhớ bài và nhớ bài học tốt hơn. Tiết kiệm thời gian trong tiết học Tôi hy vọng các học sinh sẽ sử dụng Bản đồ tư duy để hệ thống kiến thức một cách vững vàng hơn không những ở bộ môn công nghệ mà có thể vận dụng được cho tất cả các bộ môn khác vào bài giảng. Ngoài ra, có thể áp dụng dạng Bản đồ tư duy này vào trong cuộc sống hằng ngày như lập kế hoạch, thời gian làm việc hay vẽ ra những lựa chọn cho tương lai… 2. Kiến nghị: Cần cung cấp thêm một số tranh phục vụ chương nấu ăn và thu chi trong gia đình

15

Rèn Luyện Kỹ Năng Giải Một Số Dạng Toán Định Lượng Hóa Học 9 : Trường Thcs Quảng Tiến

Rèn luyện kỹ năng giải một số dạng toán định lượng Hóa học 9

1.Phần mở đầu.

1.1 Lí do chọn đề tài.

Hoá học là bộ môn khoa học thực nghiệm, có tầm quan trọng trong trường phổ thông và trong thực tiễn đời sống con người.. Tuy nhiên đây lại là một môn học mà học sinh được tiếp cận muộn  so với các môn  khoa học tự nhiên khác như: Toán, Lí … Vì vậy kinh nghiệm bộ môn, kỹ năng giải các dạng bài tập đối với học sinh lớp 9 nói riêng và với học sinh THCS nói chung còn lúng túng, khó giải được các dạng bài tập ở lớp 9 từ đó khó hơn khi học lên THPT.

Với bộ môn Hóa học có hai dạng bài tập cơ bản là bài tập định tính như nhận biết các hóa chất dạng dung dịch, rắn, khí hay là lập phương trình, viết chuổi phản ứng hóa học… Dạng thứ hai là làm các bài tập định lượng như tính khối lượng, thể tích chất tham gia, chất tạo thành, lập công thức hóa học…

Đối với dạng bài tập định lượng này ngoài phải nắm được tính chất hóa học của chất thì phải nắm được các công thức, kỹ năng tính toán đặc biệt là kỹ năng, phướng pháp giải các dạng toán định lượng Hóa học.

Với đặc thù như vậy thì Hóa học là một môn học mà đa số học sinh ở  cấp trung học cơ sở nói chung và học sinh lớp 9 nói riêng đều cho là môn học khó, nhàm chán thậm chí là cảm giác sợ học của một số học sinh nhất là đối với học sinh yếu.

Trong chương trình Hóa học lớp 9, tiết luyện tập chỉ có sau mỗi chương hoặc là sau khi nghiên cứu về tính chất của một chất. Trong tiết dạy chỉ có 45 phút, thời gian để rèn luyện cho các em kỹ năng giải các bài tập toán định lượng Hóa học không được nhiều nên nhìn chung  học sinh đa số yếu và thậm chí không tự tin trong học tập bộ môn này.

Trường THCS là một trường thuộc vùng miền đặc biệt khó khăn, dân cư làm nghề thủ công Mây – Đan nên hầu như toàn bộ thời gian ở nhà các em dùng để đan Mây, đan Nón và ít có thời gian học nên kỹ năng bộ môn càng yếu.

Rèn luyện kỹ năng  giải 1 số  dạng  bài tập định lượng Hóa học  9 là một biện pháp rất quan trọng để cũng cố và nắm vững các định luật, các khái niệm và tính chất hóa học của các chất. Nhưng thực tế ở các trường, thời gian giải bài tập trên lớp của các em rất ít, bản thân học sinh chưa nắm vững cách giải và hệ thống hóa được các dạng bài tập, vì thế các em không thể tự học ở nhà nhất là các học sinh lớp 9. Kết quả là học sinh ít làm bài tập, chỉ học những lí thuyết suông, không đáp ứng được yêu cầu do môn Hóa học đề ra, từ từ các em cảm thấy sợ học môn Hóa. Là giáo viên dạy Hóa 8-9, tôi luôn băn khoăn, trăn trở nhiều về vấn đề này.

Từ những thực trạng nêu trên, tôi thiết nghĩ cần phải có một bộ tài liệu hệ thống hóa kỹ năng giải một số dạng bài tập định lượng, cơ bản ở bậc THCS nói chung và lớp 9 nói riêng nhằm giúp các em có thể tự học, tự giải bài tập ở nhà, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng học tập môn Hóa của học sinh.

Trong đề tài của mình tôi sẻ nghiên cứu “Rèn luyện kỹ năng  giải một số dạng toán định lượng Hóa học 9” cho học sinh lớp 9 trường THCS  nhằm có cái nhìn rõ nét về thực tế của vấn đề này, giúp tìm ra nguyên nhân của những khó khăn mà học sinh gặp phải trong quá trình học tâp. Đồng thời, đề tài  đưa ra một số giải pháp để  góp phần nâng cao kỹ năng giải một số dạng toán  định lượng Hóa học cho học sinh lớp 9.

Trong phạm vi đề tài này đồng nghiệp chưa có ai nhiên cứu, mặt khác trong quá trình giảng dạy tại trường, thực tế  kỹ năng  giải một số dạng  toán  định lượng hóa học cúa học sinh lớp 9 nói riêng và của toàn học sinh nói chung còn yếu nên tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài này để nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn của mình tại trường sở tại.

1.2. Phạm vi áp dụng cho đề tài.

          Đề tài này áp dụng cho học sinh lớp 9 nói chung và học sinh THCS nói riêng và được áp dụng cụ thể tại cấp THCS và cũng  có thể  là tài liệu tham khảo cho đồng nghiệp dạy và học sinh học bộ môn Hóa học tại địa phương.

Phần nội dung.

2.1.Thực trạng của nội dung cần nghiên cứu.

Học sinh của trường THCS đa số là học sinh con em  nhà nông, làm rẫy, làm nghề mây tre đan, nón lá… kinh tế gia đình khó khăn do đó ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình học tập của học sinh. Thực tế học sinh chất lượng đại trà  thấp, kỹ năng giải toán bộ môn kém. Đặc biệt ở khối 9 các em muốn học nhưng không biết bắt đầu từ đâu vì một số em đã bị mất gốc, thiếu phương pháp học tập, thiếu kỹ  năng giải các dạng toán bộ môn. Nhiều em không có hứng thú học tập, thấy sợ khi đến tiết học Hóa học nhất là khi tiếp xúc với công thức, phương trình, các bài tập giải .Vì vậy  nhiều em trên lớp không tham gia vào hoạt động học vì không hiểu. Các em chỉ đơn thuần ngồi chờ kết quả từ các bạn giỏi hơn hoặc từ phía thầy cô…Dù đã được học Hóa học từ năm lớp 8 và đầu năm lớp 9  nhưng kỷ năng giải toán định lượng  hóa học của học sinh còn yếu, mỗi khi lên lớp tôi luôn gặp những ánh mắt lo âu.  Giờ học rất trầm…Trong một lớp chỉ có vài học sinh hoạt động tích cực trong các tiết học còn lại thì ngồi  im, làm cho không khí lớp học  rất buồn tẻ, thiếu sinh khí , quá chênh lệch. Đây là một vấn đề làm tôi  suy nghĩ,trăn trở  tìm giải pháp để khắc phục.

Như chúng ta đã biết, Hóa học là một môn khoa học thực nghiệm, mới mẻ  và  tương đối khó đối với học sinh. Đặc biệt  là đối với học sinh nông thôn, học sinh thuộc vùng khó khăn. Vì vậy vấn đề  “Rèn luyện kỹ năng  giải một số dạng  toán  định lượng hóa học 9” cho học sinh luôn là câu hỏi thường xuyên mà tôi trăn trở  muốn tìm ra câu trả lời để khắc phục được thực trạng trên.

Là giáo viên trực tiếp giảng dạy, tôi phải quyết tâm tìm ra giải pháp là làm sao cho các em thấy những điều lý thú trong học Hóa học, khơi dậy sự ham hiểu biết ở học sinh có thể giúp tất cả các đối tượng học đều có kỹ giải toán Hóa học… Qua nhiều năm học hỏi, tham khảo tài liệu và những kinh nghiệm được rút ra  thông qua các giờ dạy thực tế ở trên lớp, bản thân  tôi đã tìm ra được phương pháp dạy phù hợp, thu hút được phần lớn học sinh tham gia  bài học một cách chủ động, sáng tạo nhất là trong các tiết dạy luyện tập, ôn tập có sử dụng kỹ năng giải  các dạng bài tập toán Hóa học.

  Tình hình khảo sát  chất lượng đầu năm năm học 2017 – 2018  khi chưa áp dụng  các giải pháp này ở  lớp 9 trường THCS  như sau:

 

* Nguyên nhân:

Qua quá trình giảng  dạy và tìm hiểu học sinh khối 9 tôi đã tìm ra một số nguyên nhân dẫn đến kỹ năng giải các dạng bài tập định lượng Hóa học  ở học sinh còn thấp đó là:

  Về học sinh :

Hóa học là một môn khoa học thực nghiệm đòi hỏi học sinh vừa phải nắm được lý thuyết, vừa phải có kỷ năng thực hành, mặt khác các dạng bài tập lại rất rộng và khó.

Muốn giải được các dạng bài tập định lượng trong chương trình hóa học lớp 9 thành công thì đòi hỏi học sinh phải nắm chắc tính chất hóa học của các chất,có lòng hăng say, yêu thích bộ môn và phải có phương pháp giải các dạng toán…Với môn học như vậy nhưng các em chỉ mới được tiếp cận bắt đầu từ năm lớp 8, bên cạnh đó cách học thụ động, đọc thuộc lý thuyết, thiếu tính thực hành, thiếu rèn luyện, kỹ năng giải các bài tập cụ thể… do đó hạn chế không nhỏ đến chất lượng học tập bộ môn của các em . Là  một bộ môn đòi hỏi học sinh phải chăm chỉ, thường xuyên học bài, thường xuyên luyện tập nhưng các em chưa dành nhiều thời gian cho học tập do điều kiện gia đình khó khăn. Một số học sinh còn lười học hoặc ỷ lại còn khá lớn.Tinh thần tự học chưa cao, thiếu phương pháp học tập. Có học sinh không học bài cũng như không soạn bài mới trước khi đến lớp  thậm chí có em không biết bài học này nói về vấn đề gì? Một số khác thì ham chơi, các em không tha thiết với việc học của mình.

Học sinh nông thôn còn nhút nhát, tự ti thấy bài tập khó thì nhụt chí không chịu học hỏi bạn, thầy để giải quyết nên dần dần kỹ năng giảỉ toán nhất là các dạng toán định lượng hóa học bị mai một, dần mất gốc.

Về giáo viên : 

 Về  nhà trường

Việc đẩy mạnh phương pháp dạy học mới nhằm tạo ra thế hệ học sinh vừa giỏi về lý thuyết, vừa giỏi về thực hành của bộ môn Hóa học ở trường sở tại còn gặp nhiều khó khăn do cơ sở vật chất. Tại trường THCS, bộ môn Hóa học vẫn chưa được đưa vào dạy bổ trợ kiến thức trái buổi như đối với các bộ môn Toán, văn nên thời gian rèn luyện kỹ năng giải các dạng  toán định lượng hóa học cho học sinh vẫn chưa được thích đáng.

2.2. Các giải pháp.

Từ thực tế  kết quả khảo sát và vốn kĩ năng giải các dạng bài tập định lượng của học sinh lớp 9 trường tôi đang trực tiếp giảng dạy rất thấp nên  tôi đã suy nghĩ, trăn trở  và tìm  nhiều  giải pháp để nâng cao chất lượng bộ môn cũng như rèn luyện cho các em có được kĩ năng giải các bài tập định lượng trong chương trình THCS đáp ứng chuẩn kiến thức, kĩ năng . Trong nhiều giải pháp đó tôi tâm đắc nhất và quyết định sử dụng đó là hệ thống và hướng dẫn giãi các dạng  bài tập định lượng cơ bản nhất trong chương trình  THCS  để giúp học sinh lớp 9 có kĩ năng giãi các dạng bài tập định lượng đáp ứng nhu cầu bộ môn và tôi mạnh dạn trình bày kinh nghiệm thực tế của mình trước các đồng nghiệp để được trao đổi, học tập, góp ý nhằm không ngừng nâng cao tay nghề với  mục đích cuối cùng là  làm sao cho học sinh dể hiểu, say mê  hơn nữa đối với bộ môn Hóa học nhằm từng bước nâng cao chất lượng dạy và học.

Dạng 1: Toán tính theo phương trình hóa học tìm chất tham gia hoặc  chất tạo thành.

Dạng 2: Toán tính theo phương trình hóa học khi biết 2 chất phản ứng.

Dạng 3: Toán xác định công thức của hợp chất vô cơ.

Dạng 4: Toán xác định thành phần hỗn hợp.

Dạng 5: Toán về CO2 tác dụng với dung dịch kiềm.

Để làm được các dạng bài tập trên thì học sinh  phải hệ thống lại và bắt buộc nắm vững các nội dung lí thuyết sau để phục vụ việc giải toán:

* Nắm vững tính chất của các chất trong chương trình hóa học 8, 9 và viết được phương trình phản ứng.

* Nắm được hệ thống công thức, định luật sau trong chương trình hóa học 8,9 như:

– Tìm số mol chất.

+ Dựa và khối lượng chất.

Trong đó:  · m: khối lượng chất (g)· M: khối lượng mol (g)

           +  Dựa vào thể tích chất khí đo ở điều kiện tiêu chuẩn (đktc)

Trong đó: · V: thể tích chất khí đo ở đktc (lít)

          +  Dựa vào nồng độ mol dung dịch.

n = CM.V Trong đó: · CM: nồng độ mol dung dịch (mol/lít)· V: thể tích dung dịch (lít)

 – Công thức tính nồng độ phần trăm (C%).

mct: khối lượng chất tan (g)

mdd: khối lượng dung dịch (g)

mdd = mct + mdm

-Khi cho khối lượng riêng dung dịch D(g/ml)

mdd = D.V

-Khi trộn nhiều chất lại với nhau

mdd =  mtổng các chất phản ứng – mchất không tan – mchất khí

–  Tỉ khối của chất khí.

Trong đó: · MA: khối lượng mol của khí A.· MB: khối lượng mol của khí B.

*Chú ý: Nếu B là không khí thì MB = 29

–  Định luật bảo toàn khối lượng.

Định luật: Trong một phản ứng hóa học tồng khối lượng các chất phản ứng bằng tổng khối lượng các chất sản phẩm.

Phản ứng hóa học:              A + B ® C + D

Ta có:  mA + mB = mC + mD

– Ngoài ra việc giải bài toán hóa học đòi hỏi học sinh phải biết cách giải phương trình bậc nhất một ẩn số, giải hệ phương trình bậc nhất hai ẩn số, …

Dạng 1: Dạng toán tính theo phương trình hóa học để  tìm chất tham gia hoặc  chất tạo thành.

* Phương pháp:

– Chuyển đổi  các đại lượng bài toán cho như khối lượng (m), thể tích chất khí (V) về số mol(n)

– Viết phương trình hóa học cho phản ứng và cân bằng phương trình.

– Đặt tỉ lệ số mol chất tham gia và chất tạo thành theo phương trình

– Từ phương trình suy ra số mol chất cần tìm từ số mol chất đã cho.

– Tính khối lượng hoặc thể tích chất khí đề bài yêu cầu theo công thức:

m = n*M (gam) hoặc V(đktc) = n* 22,4(lít).

Ví dụ: Cho 5,6 gam sắt tác dụng với vừa đủ với khí oxi ở nhiệt độ cao tạo thành oxit sắt từ.

a/ Tính khối lượng  oxit sắt từ tạo thành?

b/ Tính thể tích khí oxi ở điều kiện tiêu chuẩn đã tham gia phản ứng.?

Hướng dẫn giải

Số mol Fe  = 5,6/ 56 = 0,1 (mol)

Phương trình:   3Fe      +   2 O2       t0       Fe3O4

0,1 mol        0,07mol           0,03 mol

a/ Từ phương trình ta có số mol  Fe3O4  = 0,03 ( mol)

Khối lượng  Fe3O4  = 0,03*  232=  6,96  ( gam)

b/ Thể tích khí oxi( đktc) = 0,07 * 22,4 = 1,57 ( lít)

Dạng 2: Tính theo phương trình hóa học khi biết 2 chất phản ứng( dạng toán dư).

* Phương pháp:

– Chuyển đổi các lượng chất đã cho ra số mol.

– Viết phương trình hóa học:    A  +  B  ® C  +  D

– Lập tỉ số: Số mol chất A (theo đề bài) Và Số mol chất B (theo đề bài)

Hệ số chất A (theo phương trình) Hệ số chất B(theo phương trình)

So sánh hai tỉ số này, số nào lớn hơn thì chất đó dư, chất kia phản ứng hết. Tính toán (theo yêu cầu của đề bài) theo chất phản ứng hết.

Ví  dụ : Hoà tan 2,4 g CuO trong 200 gam dung dịch HNO3 15,75%. Tính nồng độ phần trăm các chất có trong dung dịch sau khi phản ứng kết thúc.

Hướng dẫn giải

nCuO = 2,4 : 80 = 0,03 (mol)

mHNO3 =  = 31,5 (g)

Þ nHNO3 = 31,5 : 63 = 0,5 (mol)

PTHH:           CuO         +       2HNO3   Cu(NO3)2­          + H2O

mol ban đầu:   0,03                  0,5

mol phản ứng  0,03        ®         0,06        ®       0,03

Lập tỉ số: Þ  <  Þ HNO3 dư, CuO­ hết ta tính theo CuO.

Các chất sau khi phản ứng kết thúc gồm: Cu(NO3)2 và HNO3 còn dư

mCu(NO3­)2 = 0,03 . 188 = 5,64(g)    mHNO3dư = (0,5- 0,06).63 = 27,72(g)

mdd sau phản ứng = mCuO  + mdd HNO3 = 2,4 + 200 = 202,4(g)

C% ddCu(NO3)2 =  = 2,78%

C% ddHNO3 dư =  = 13,7%

Dạng 3: Xác định công thức của hợp chất vô cơ.

    Đối với dạng toán này khi giải học sinh gặp nhiều trừng hợp khác nhau, chúng ta sẽ xét các trường hợp cụ thể sau:

     *Lập CTHH của oxit sắt.

   Phương pháp:

– Đặt công thức của oxit sắt là FexOy

– Dựa vào dữ kiện của đề bài ta đưa về tỉ số  . Thí dụ :  =  Þ Fe2O3, …

– Khi giải toán ta cần phải chú ý sắt chỉ có 3 oxit sau: FeO, Fe2O3, Fe3O4.

Thí dụ 1: Một oxit sắt có thành phần phần trăm về khối lượng sắt trong oxit là 70%. Tìm công thức của oxit sắt.

            Hướng dẫn giải

Đặt công thức của oxit sắt là FexOy

%Fe = =  = 0,7

Û 16,8x = 11,2y Þ   = =  Þ x = 2, y = 3

Công thức của oxit sắt là Fe2O3.

Thí dụ 2: Xác định công thức của hai oxit sắt A. Biết rằng 23,2 gam A tan tan vừa đủ trong 0,8 lít HCl 1M.

Hướng dẫn giải

nHCl = 1.0,8 = 0,8 (mol)

Đặt công thức của oxit sắt là FexOy

PTHH:                  FexOy + 2yHCl  ®  xFeCl2y/x  +  yH2O

mol:     ¬   0,8

MFexOy = 56x + 16y =   = 58y

Û 56x = 42y Þ   = =  Þ x = 3, y = 4

Công thức của oxit sắt là Fe2O3.

* Lập CTHH dựa vào phương trình hóa học (PTHH).

                Phương pháp:

– Phân tích đề chính xác và khoa học.

– Quy đổi các dữ kiện ra số mol (nếu được)

– Viết phương trình hóa học

– Dựa vào lượng của các chất đã cho tính theo PTHH. Tìm M nguyên tố.

Thí dụ : Cho 2,4 gam kim loại R hoá trị II tác dụng với dung dịch H2SO4 loãng dư thấy giải phóng 2,24lít H2 (đktc). Hãy xác định kim loại M.

                       Hướng dẫn giải

nH2  = 2,24 : 22,4 = 0,1mol

PTHH:        R  +   H2SO4  ®  RSO4   +  H2

mol:   0,1              ¬                  0,1

MR =  =  = 24 g. Vậy R là kim loại Magie (Mg).

Dạng 4: Bài toán xác định thành phần hỗn hợp.

                           *Phương pháp

– Qui đổi các dữ kiện về số mol.

– Phân tích đề bài một cách khoa học xem trong hỗn hợp chất nào phản ứng, chất nào không phản ứng hay cả hỗn hợp đều tham gia phản ứng.

– Đặt ẩn số cho các chất phản ứng (thường là số mol) và viết các PTHH.

– Dựa vào PTHH và dữ kiện đề bài để lập hệ phương trình (nếu cần thiết).

– Tính thành phần của hỗn hợp theo công thức:

%Atrong hỗn hợp = .100%

Thí dụ 1: Cho 10,5g hỗn hợp 2 kim loại Cu, Zn vào dung dịch H2SO4 loãng dư, người ta thu được 2,24 lít khí (đktc). Tính thành phần % về lượng các chất trong hỗn hợp kim loại.

Hướng dẫn giải

nH2 = 2,24 : 22,4 = 0,1 (mol)

Cu không tác dụng với dung dịch H2SO4 loãng

PTHH:                  Zn + H2SO4  ®  ZnSO4 + H2­

mol:    0,1          ¬                         0,1

mZn = 0,1.65 = 6,5 (g)                       mCu = 10,5 – 6,5 = 4 (g)

%Zn = % = 61,9%              %Cu = 100% – 61,9% = 38,1%

Thí dụ 2: Cho 3,15 gam hai kim loại vụn nguyên chất gỗm Al và Mg tác dụng hết với H2SO4 loãng thì thu được 3,36 lít một chất khí (đktc). Xác định thành phần % mỗi kim loại trong hỗn hợp.

                       Hướng dẫn giải

nH2 = 3,36 : 22,4 = 0,15 (mol)

Gọi x, y lần lượt là số mol của Mg và Al

24x + 27y = 3,15 (*)

PTHH:        Mg  +   2HCl    ®    MgCl2  +   H2­          (1)

mol:   x                  ®                         x

2Al   +  6HCl       ®   2AlCl3   +  3H2­                (2)

                   mol:   y                  ®                           1,5y

Theo (1), (2):   nH2 = x + 1,5y = 0,15 (**)

Giải (*), (**) ta được:          x = 0,075 ; y = 0,05

mMg = 0,075.24 = 1,8 (g)                      mZn = 0,05.27 = 1,35 (g)

%Mg = % = 57,14 %               %Al = 100% – 57,14% = 42,86 %

Dạng 5:  Dạng toán về CO2 tác dụng với kiềm.

    * CO2 (hoặc SO2) tác dụng với dung dịch NaOH (hoặc KOH)

      Phương pháp:

Các phương trình hóa học:

NaOH + CO2 ® NaHCO3                    (1)

2NaOH + CO2 ® Na2CO3 + H2O                   (2)

– Dựa vào dữ kiện đề bài tìm số mol của CO2 và số mol của NaOH.

– Lập tỉ số:   

– Từ tỉ số trên ta có một số trường hợp sau:

Nếu T £ 1 thì chỉ tạo NaHCO3, khí CO2 còn dư và ta tính toán dựa vào số mol NaOH chỉ theo phương trình (1), dấu “=” xảy ra khi phản ứng vừa đủ.

Nếu T ³ 2 thì chỉ tạo Na2CO3, NaOH còn dư và ta tính toán dựa vào số mol CO2 chỉ theo phương trình (2), dấu “=” xảy ra khi phản ứng vừa đủ.

Nếu 1 < T < 2 thì tạo NaHCO3 và Na2CO3 phản ứng xảy ra theo hai phương trình (1), (2). Với x, y lần lượt là số mol của 2 muối NaHCO3 và Na2CO3. Ta lập hệ Þ x, y.

Thí dụ 1: Cho 2,24 lít khí SO2 (đktc) tác dụng với 150 ml dung dịch NaOH 1,5 M. Tính khối lượng các chất sau phản ứng.

Hướng dẫn giải

nSO2 = 2,24 : 22,4 = 0,1 (mol)                   nNaOH = 0,15.1,5 = 0,225 (mol)

PTTH:        2NaOH + CO2 ® Na2CO3 + H2O

mol ban đầu:    0,225      0,1

mol phản ứng:   0,2  ¬   0,1  ®   0,1

mNa2CO3 = 0,1.106 = 10,6 (g)          ;         mNaOH dư = (0,225 – 0,2).40 = 1 (g)

Thí dụ 2: Cho 4, 84 gam CO2 đi qua dung dịch NaOH sinh ra 11,44 gam hỗn hợp 2 muối Na2CO3 và NaHCO3. Hãy xác định số gam mỗi muối trong hỗn hợp.

Hướng dẫn giải

nCO2 = 4,84 : 44 = 0,11 (mol)

Gọi x, y lần lượt là số mol của NaHCO3 và Na2CO3

84x + 106y = 11,44 (*)

PTHH:        NaOH + CO2 ® NaHCO3                           (1)

mol:                     x       ¬  x

2NaOH + CO2 ® Na2CO3 + H2O               (2)

mol:                     y       ¬  y

Theo (1), (2) ta có:                   nCO2 = x + y = 0,11 (**)

Giải (*), (**) ta được:      x = 0,01 ; y = 0,1

mNaHCO3 = 0,01.84 = 0,84 (g)

mNa2CO3 = 0,1.106 = 10,6 (g)

Để giúp học sinh lớp 9 có được kỹ năng giải được 1 số dạng toán định lượng như trên thì cả giáo viên và học sinh phải không ngừng nỗ lực thực hiện các giải pháp sau  mới đạt hiệu quả.

  Đối với Giáo viên

Phải rèn luyện kỹ năng phân tích đề cho học sinh để giúp  học sinh nhận dạng được bài toán. Giúp các em tìm ra đường đi cho bài toán đó. .

Nhiệt tình, chịu khó, kiên nhẫn trong quá trình nghiên cứu và thực hiện.

Tìm hiểu rõ những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế của vấn đề.

Nghiên cứu tìm những phương pháp phù hợp với từng đối tượng học sinh.

Chỉnh sửa kịp thời những học sinh làm sai bài toán và đưa ra nguyên nhân mà học sinh đã làm sai để rút kinh nghiệm.

Phải cần chú ý và quan tâm đến những học sinh trung bình, yếu.

          Phải hệ thống hóa kiến thức trọng tâm cho học sinh một cách khoa học.

Nắm vững các phương pháp giải bài tập và xây dựng hệ thống bài tập phải thật sự đa dạng, nhưng vẫn đảm bảo trọng tâm của chương trình phù hợp với đối tượng học sinh.

Tận dụng mọi thời gian để có thể hướng dẫn giải được lượng bài tập là nhiều nhất, có hiệu quả nhất cho học và học sinh dễ hiểu nhất.

Luôn quan tâm và có biện pháp giúp đỡ các em học sinh có học lực trung bình, yếu. Không ngừng tạo tình huống có vấn đề đối với các em học sinh khá giỏi …

Đối với Học sinh

*Về kiến thức

Là phương tiện để ôn tập củng cố, hệ thống hoá kiến thức một cách tốt nhất.

Rèn khả năng vận dụng kiến thức đã học, kiến thức tiếp thu được qua bài giảng thành kiến thức của mình, kiến thức được nhớ lâu khi được vận dụng thường xuyên.

Đào sâu, mở rộng kiến thức đã học một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn.

* Về kỹ năng

Phải tích cực rèn kỹ năng hệ thống hóa kiến thức sau mỗi bài, mỗi chương. Phân loại bài tập hóa học và lập hướng giải cho từng dạng toán.

Bài tập hoá học là một trong những cách hình thành kiến thức kỹ năng mới cho học sinh.

Rèn kỹ năng hoá học, khả năng tính toán một cách khoa học.

Phát triển năng lực nhận thức rèn trí thông minh.

 * Về thái độ

Có lòng  yêu thích, đam mê học môn Hóa học khi đã hiểu rõ vấn đề.

Phát hiện và giải quyết vấn đề một cách khách quan, trung thực trên cơ sở phân tích khoa học.

CHÚC CÁC THẦY CÔ VÀ CÁC EM HỌC SINH GIẠY TỐT HỌC TỐT

Người trình bày

GV : Phạm Thị Hòa

Thông Tin Thời Tiết Thanh Hóa Quảng Xương 10 Ngày Tới Mới Nhất

Bạn đang xem bài viết Skkn Một Số Kinh Nghiệm Dạy Tiết Ôn Tập Địa Lí 9 Bằng Sơ Đồ Tư Duy Tại Trường Thcs Quảng Giao – Huyện Quảng Xương – Tỉnh Thanh Hóa trên website Maiphuongus.net. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!