Xem Nhiều 2/2023 #️ Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Vài Kinh Nghiệm Để Nâng Cao Hiệu Quả Một Tiết Dạy Học Môn Địa Lý 8 Theo Phương Pháp Đổi Mới # Top 4 Trend | Maiphuongus.net

Xem Nhiều 2/2023 # Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Vài Kinh Nghiệm Để Nâng Cao Hiệu Quả Một Tiết Dạy Học Môn Địa Lý 8 Theo Phương Pháp Đổi Mới # Top 4 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Vài Kinh Nghiệm Để Nâng Cao Hiệu Quả Một Tiết Dạy Học Môn Địa Lý 8 Theo Phương Pháp Đổi Mới mới nhất trên website Maiphuongus.net. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

trên bản đồ: Ví dụ: Hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức từ bản đồ "Tự nhiên châu Á" trong SGK Địa lí 8 - Tên bản đồ: Tự nhiên châu Á - Cách thể hiện: các miền địa hình được thể hiện bằng thang màu. Màu nâu đậm địa hình núi cao, màu vàng địa hình núi thấp, màu xanh lá địa hình đồng bằng... - Dựa vào màu sắc thể hiện trên bản đồ xác định vị trí các núi cao, các cao nguyên, các đồng bằng... - Dựa vào bản đồ kết hợp với các kiến thức đã học để xác lập mối quan hệ giữa các yếu tố vĩ độ, vị trí địa lí, địa hình, khí hậu, sông ngòi, động thực vật... từ đó tìm ra dược mối quan hệ nhân quả. * Đối với biểu đồ: Giáo viên cần hướng dẫn học sinh phân tích biểu đồ theo các bước: đọc tiêu đề của biểu đồ xem biêu đồ thể hiện hiện tượng gì? Xem các đại lượng thể hiện trên biểu đồ là gì? Dựa vào các số liệu thông kê đã được trực quan hoá trên biểu đồ đối chiếu, so sánh chúng với nhau và rút ra nhận xét về các đối tượng và hiện tượng địa lí được thể hiện. * Đối với tranh ảnh: Nêu tên bức ảnh, xác định xem bức ảnh đó thể hiện đối tượng địa lí nào, ở đâu. * Đối với bảng số liệu thống kê: Hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức các bảng số liệu thống kê không bỏ sót số liệu nào. Phân tích các số liệu tổng quát trước khi đi vào số liệu cụ thể, tìm các trị số lớn nhất, nhỏ nhất, trung bình, xác lập mối quan hệ giữa các số liệu. So sánh, đối chiếu các số liệu. Đặt ra các câu hỏi để giải đáp trong khi phân tích, tổng hợp các số liệu nhằm tìm ra kiến thức mới. b.2. Tổ chức hướng dẫn học sinh thu thập, xử lí thông tin trong SGk và trình bày lại: - Giáo viên hướng dẫn học sinh thu thập xử lí thông tin trong SGK Địa lí 8: + Thu thập thong tin của học sinh được tiến hành qua việc quan sát các kênh hình và kênh chữ trong SGK, song cũng có thể cho học sinh thu thập thông tin qua việc ôn lại kiến thức đã học ở các lớp trước. + Xử lí thông tin thông qua các câu hỏi, bài tập, giáo viên hướng dẫn học sinh căn cứ vào các thông tin đã thu thập để rút ra những kết luận cần thiết về một đơn vị kiến thức cơ bản. b.3: Tổ chức hoạt động của học sinh theo những hình thức học tập khác nhau: * Hình thức học tập cá nhân có thể được tiến hành như sau. Giáo viên nên vấn đề, xác định nghiệm vụ nhận thức chung cho cả lớp và hướng dẫn học sinh làm việc. + Làm việc cá nhân ( ghi kết quả ra giấy hoặc trả lời vào phiếu học tập) + Giáo viên chỉ định một vài học sinh báo cáo kết quả, các học sinh khác theo dõi, góp ý bổ sung. + Giáo viên tóm tắt , cũng cố và chuẩn xác kiến thức. * Hình thức học tập theo nhóm. Tuỳ theo số lượng học sinh trong mỗi lớp mà giáo viên chia thành bao nhiêu nhóm,thông thường mỗi nhóm từ 4-6 học sinh. Các nhóm có thể được duy trì ổn định trong cả tiết học hoặc thay đổi theo từng hoạt động, từng phần của tiết học. Các nhóm được giao cùng một nhiệm vụ hoặc những nhiệm vụ khác nhau. - Giáo viên tổng kết, chuẩn xác kiến thức. IV. NHÓM CÁC PHƯƠNG PHÁP. * Một số PPDH cần được quan tâm nhiều hơn trong dạy học Địa lý 8. 1. Phương pháp sử dụng bản đồ: Để có thể giúp học sinh sử dụng có hiệu quả các loại bản đồ, GV cần chú ý một số điểm sau: - Cần chú trọng hơn vào việc tiếp tục phát triển học sinh các kỷ năng đọc và phân tích bản đồ: Học sinh biết kết hợp vốn hiểu biết về bản đồ và các kiến thức địa lý đã có để tìm ra những kiến thức chứa đựng trong mỗi bản đồ theo yêu cầu bài học. Việc hình thành các kỹ năng này có mức độ từ thấp đên cao như từ việc đọc để biết tên bản đồ, dựa vào bảng chú giải có các ký hiệu để tìm vị trí các đối tượng địa lý trên bản đồ đến việc dựa vào bản đồ để tìm ra một số đặc điểm của đối tượng, phải biết xác lập mối quan hệ để rút ra những điều mà trên .bản đồ không thể hiện trực tiếp. Ví dụ: Khi dựa vào bản đồ để tìm đặc điểm đòng bằng ven biển miền Trung (ở ý b mục 2 bài 9sgk Địa lý 8 ) đầu tiên học sinh phải dựa vào màu sắc, chữ viết trên bản đồ tự nhiên để tìm vị trí các đồng bằng ven biển miền Trung trên bản đồ, tiếp theo học sinh phải dựa vào bản đồ để so sánh độ lớn của các đồng bằng miền Trung với các đồng bằng khác trong nước, từ đó học sinh rút ra được đặc điểm đồng bằng miền Trung. 2. Phương pháp so sánh: Để có thể đạt hiệu quả cao trong việc sử dụng phương pháp so sánh, GV cần chú ý những điểm sau: - Cần xác định rõ mục đích của việc so sánh, GV cần trả lời các câu hỏi: So sánh để nhằm mục đích gì? - Cần chọn kỹ các đối tựợng cần so sánh và làm nổi bật lên những vấn đề cần so sánh. - Cần phát huy cao độ tính tích cực của học sinh trong so sánh. 3. Dạy học giải quyết vấn đề. Đây là phương pháp đặt ra trước học sinh các vấn đề nhận htức có chứa đựng mâu thuẩn giữa cái đã biết và cái chưa biết, đưa học sinh vào tình huống có vấn đề, kích thích họ tự lực, tự chủ, chủ động và có nhu cầu mong muốn giải quyết vấn đề. Dạy học giải quyết vấn đề có thể được tiến hành như sau; -Đặt vấn đè ( tạo tình huống có vấn đề ) - Giải quyết vấn đề ( đề xuất các giả thuyết, lập kế hoạch giả thuyết ) -Kết luận ( khẳng định hay bác bỏ giả thuyết đã nêu ). Ví dụ: Bài 9 Địa lý 8 "KHU VỰC TÂY NAM Á" - Đặt vấn đề: Vì sao khu vực Tây Nam á nằm sát biển nhưng có khí hậu nóng và khô hạn? - Giải quyết vấn. + Học sinh nêu các giả thuyết và nguyên nhân làm cho khí hậu Tây Nam á nóng và khô hạn( do yếu tố địa hình, có nhiều núi cao bao quanh khu vực, chịu ảnh hưởng `gió Mậu dịch khô nóng thổi quang năm từ lục địa ra, lượng mưa rất nhỏ dưới 300mm/năm...) + GV cho học sinh quan sát và phân tích lược đồ tự nhiên khu vực TNA kết hợp với kiến thức đã học tìm ra nguyên nhân dẫn đến khu vực TNA có khí hậu nóng và khô hạn. 4. Dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ. Tuỳ theo số lượng học sinh, GV chia thành các nhóm, mỗi nhóm từ 4-6 học sinh. Các bước của một hoạt động theo nhóm có thể là như sau. * Làm việc chung cả lớp: - Nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức - Phân công nhóm, giao nhiệm vụ cho các nhóm - Hướng dẫn cách làm việc theo nhóm * Làm việc theo nhóm. - Trong nhóm cử nhóm trưởng, thư ký. từng cá nhân làm việc độc lập. - Đại diện nhóm trình bày kết quả - Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả - GV tổng kết đánh giá kết quả học tập của học sinh 5. Đổi mới đánh giá kết quả học tập của học sinh. a. Đánh giá kết quả học tập của học sinh phải đảm bảo các yêu cầu của dạy học bộ môn, gồm cả các kiến thức, kỷ năng, thái độ. - Kiến thức: Đánh giá việc nắm kiến thức của học sinh theo 3 mức độ: + Mức độ nhận biét (ghi nhớ, tái hiện ) + Mức độ hiểu: Giải thích, chứng minh,phân tích được các mối quan hệ địa lý Kỷ năng: Sử dụng bản đồ, lược đồ, các bảng số liệu...để khai thác, trình bày kiến thức địa lý. Thái độ : Xem xét mức độ thể hiện sự tôn trọng, trong bảo vệ thiên nhiên, cuộc sống quê hương đất nước... b. Phương pháp đánh giá. Đánh giá kết quả học tập của học sinh phải toàn diện, khách quan và chính xác. Vì vậy cần kết hợp các phương pháp trắc nghiệm tự luận với các câu hỏi mở và phương pháp trắc nghiệm khách quan với các câu hỏi như đúng, sai, điền khuyết, câu hỏi nhiều lựa chọn... . Các câu hỏi trắc nghiệm cần tạo điều kiện để học sinh bộc lộ được các năng lực của bản thân. GV cũng tạo điều kiện để học sinh tự đánh giá và để học sinh tham gia tự đánh gia l Lẫn nhau. * Đối với học sinh: - Trước hết phải tạo được cho học sinh sự ham mê học tập môn Địa lý - Phải rèn luyện thói quen học tập bộ môn Địa lý theo phương pháp đổi mới + Có tính độc lập, tư duy, năng động, sáng tạo + Biết hợp tác với nhau để hoạt động trong một tiết học + Kết hợp đồng bộ cả kênh hình và kênh chữ - Rèn luyện kỷ năng khai thác qua kênh hình - Rèn kỷ năng vận dụng những kiến thức và kỷ năng vốn có để giải quyết một vấn đề Địa lý cụ thể, thông qua các bài tập, câu hỏi...cỷa giáo viên đặt ra trong một tiết dạy. - Tìm ra phương pháp học tối ưu nhất để nhanh chống chiếm lĩnh, lĩnh hội được kiến thức mới. . Bài 3: SÔNG NGÒI VÀ CẢNH QUAN CHÂU Á. I/ Mục tiêu bài học. 1: Kiến thức: - Mạng lưới sông ngòi Châu Á khá phát triển, có nhiều hệ thống sông lớn. - Đặc điểm của một hệ thống sông lớn và giải thích nguyên nhân. - Sự phân hoá đa dạng của các cảnh quan, nguyên nhân của sự phân hoá đó. - Thuận lợi và khó khăn của tự nhiên Châu Á. 2. Kỹ năng: - Biết sử dụng bản đồ để tìm đặc điểm sông ngói và cảnh quan Châu Á - Xác đinh trên bản đồ vị trí các cảnh quan tự nhiên, các hệ thống sông lớn. - Xác lập mối quan hệ giữa khí hậu, địa hình với sông ngòi và cảnh quan tự nhiên. 3. Thái độ: Ý thức được sự cần thiết phải bảo vệ tự nhiên. II/ Các phương tiện dạy học. - Bản đồ tự nhiên Châu Á - Bản đồ cánh quan tự nhiên Châu Á - Tranh, ảnh về các cảnh quan tự nhiên Châu Á (sưu tầm ). III/ Tiến trình trên lớp: 1: ổn định lớp: 2: Bài cũ: ( 5/ ) * Khí hậu Châu Á phổ biến là các kiểu khí hậu nào? Sự phân bố và đặc điểm của các kiểu khí hậu đó? 3: Bài mới. Hoạt động Thầy Hoạt động trò Nội dung chính * Hoạt động 1: (15/ ) Tìm hiểu đặc điểm sông ngòi Châu á. Hoạt động nhóm. * Nhóm1,2,3: - Quan sát bản đồ tự nhiên Châu á và H1.21sgk, hãy . + Nhận xét chung về mạng lưới sông ngòi Châu á? + Tên các sông lớn ở khu vực Bắc á, Đông á, Tây nam á? + Nơi bắt nguồn từ khu vực nào? Đổ vào biển và đại dương nào? * Nhóm4,5,6: Dựa vào bản đồ tự nhiên Châu á và kiến thức đã học, hãy cho biết: + Đặc điểm mạng lưới sông ngòi ở 3 khu vực Bắc á, Đông á, TNA? + Sự phân bố và chế độ nước sông ngòi ở 3 khu vực trên? Giải thích nguyên nhân? + Gọi h/s lên xác định các sông lớn của 3 khu vực trên bản đồ? Gv mở rộng thêm kiến thức về hồ Châu á + Yêu cầu h/s xác định các hồ lớn nước mặn, nước ngọt của Châu á trên bản đồ? + Liên hệ đến giá trị kinh tế của sông và hồ ở Vnam? * Hoạt động 2: (13/) Tìm hiểu các đới cảnh quan tự nhiên. Hoạt động cá nhân/ cặp . - Dựa vào H3.1 sgk cho biết. + Tên các đới cảnh quan Châu á theo thứ tự từ Bắc xuống Nam dọc theo kinh tuyến 80oĐ? + Tên các cảnh quan phân bố ở khu vực khí hậu gió mùa và cảnh quan ở khu vực khí hậu khô hạn? * Hoạt động 3: ( 6/ ) Thuận lợi và khó khăn của thiên nhiên Châu á. Hoạt động cả lớp. - Dựa vào bản đồ tự nhiên Châu á và vốn hiểu biết. + Châu á có những thuận lợi và khó khăn gì về tự nhiên đối với sản xuất và đời sống? - Q/sát bản đồ và H1.2sgk - Đại diện trả lời - Nhóm khác nhận xét bổ sung - Quan sát bản đồ - Đại diện trả lời - Nhóm khác nhân xét bổ sung -H/S lên xác định, lớp nhận xét H/S lên xác định, h/s khác nhận xét bổ sung -H/S liên hệ - Quan sát H3.1 - N/C độc lập - H/S trả lời, h/s khác nhận xét, bổ sung - H/S lên xác định, lớp nhận xét N/C cá nhân - H/S trả lời - h/S khác nhận xét bổ sung I/ Đặc điểm sông ngòi - Châu á có mạng lưới sông ngòi khá phát triển, nhưng phân bố không đều, chế độ nước phức tạp - Bắc á: + Mạng lưới sông ngòi dày + Mùa đông sông đóng băng, mùa xuân có lũ do băng tuyết tan. - Tây Nam á và Trung á. + Rất ít sông + Nguồn cung cấp nước cho sông là băng tan, lượng nước giảm dần về hạ lưu - Đông á, ĐNA, Nam á. + Có nhiều sông, sông nhiều nước, lên xuống theo mùa - Sông ngòi và hồ Châu á có giá trị rất lớn trong đời sống văn hoá, du lịch 2: Các đới cảnh quan tự nhiên - Cảnh quan tự nhiên Châu á phân hoá rất đa dạng. + Rừng lá kim phân bố chủ yếu ở Xi- bia +Rừng cận nhiệt, nhiệt đới ẩm có nhiều ở phía Đông Trung Quốc, Đông Nam á và Nam á 3: Những thuận lợi và khó khăn của thiên nhiên Châu á - Thuận lợi. + Nguồn tài nguyên phong phú, nhiều loại khoáng sản có trữ lượng lớn( than, dầu khí, sắt...) + Thiên nhiên đa dạng - Khó khăn. + Địa hình núi cao hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt. + Thiên tai bất thường 4: Đánh giá & dặn dò.(6/) Khu vực Tên sông lớn Nguồn cung cấp nước Mùa lũ Bắc á Đông Á §NA vµ Nam ¸ TNA và Trung á b/ Nối các ý ở cột A Với cột B sao cho đúng. A (Khí hậu ) B (Cảnh quan ) 1. Cực và cận cực a. Rừng cận nhiệt đới ẩm 2. Ôn đới lục địa b. Rừng nhiệt đới ẩm 3. ôn đới gió mùa c. Rừng cây bụi lá cứng ĐTH 4. Cận nhiệt lục địa, nhiệt đới d. Đài nguyên 5. Cận nhiệt gió mùa e. Rừng lá kim Tai ga 6. Nhiệt đới gió mùa f. Rừng hỗn hợp và rừng lá rộng 7. Cận nhiệt Địa Trung Hải g. Hoang mạc và bán hoang mạc * Dặn dò: - Học bài , trả lời các câu hỏi sgk - Chuẩn bị nội dung bài thực hành - Ôn tập lại kiến thức lớp 7 " Môi trường nhiệt đới gió mùa" - Ôn tập lai khí hậu Châu Á V/ KẾT QUẢ Qua quá trình áp dụng kinh nghiệm dạy học theo phương pháp mới vào một tiết học Địa lý 8 năm học 2010-2011, tôi nhận thấy như sau. - Về tâm lý: Đã từng bước tạo được sự hứng thú, khơi dậy lòng say mê học tập môn Địa lý ở học sinh. Chính vì vậy mà các em không còn xem nhẹ môn học này. - Về kiến thức: Học sinh hoạt động tích cực chủ động hơn, đa phần học sinh đã chiếm lĩnh được kiến thức một cách nhanh chống và chắc chắn - Về kỷ năng : Kỹ năng trực quan, tư duy, phân tích, tổng hợp của học sinh được nâng cao hơn và hoàn thiện hơn. Qua đó hình thành và nâng cao kỹ năng xác lập mối quan hệ qui luật, biện chứng, mối quan hệ nhân quả...ở học sinh. Đồng thời học sinh vận dụng được các liến thức địa lý vào cuộc sống thực tiễn một cách dễ dàng và hiệu quả. Chính vì vậy mà sau khi tiến hành vận dụng một số kinh nghiệm dạy học theo PP mới trong năm học 2009-2010 Tôi tiến hành khảo sát chất lượng của học sinh ( thời gian 15/ ) cũng qua bài "Sông ngòi và cảnh quan Châu á" . Kết quả là số học sinh khá giỏi tăng lên và số học sinh yếu- kém giảm hẳn đi so với năm trước * Kết quả cụ thể: Số lượng HS Giỏi % Khá % TB % Yếu % 40 8 20% 16 40% 13 32,5% 3 7,5% PHẦN III: KẾT LUẬN I. BÀI HỌC KINH NGHIỆM. Qua quá trình tìm tòi, nghiên cứu dạy học theo phương pháp đổi mới ở môn Địa lý 8 nói chung và trong một tiết dạy Địa lý 8 nói riêng tôi rút ra được bài học kinh nghiệm như sau. 1/ Đối với giáo viên: + Luôn luôn học hỏi đồng nghiệp, trau dồi kiến thức, nâng cao nghiệp vụ chuyên môn. + Đầu tư nhiều hơn vào việc soạn bài theo tinh thần dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh. Giáo viên phải thể hiện rõ ràng mục tiêu ,nội dung bài học, hệ thống câu hỏi lôgic, phân chia thời gian hợp lý. + Đẩy mạnh việc đổi mới hoạt động dạy học trên lớp, giáo viên là người chỉ đạo, hướng dẫn, học sinh là người chủ động, sáng tạo chiếm lĩnh kiến thức. + Chú trọng việc cũng cố và phát triển ở học sinh các kỷ năng: Kỹ năng sử dụng bản đồ, biểu đồ, lược đồ, kỹ năng phân tích bảng số liệu thống kê, kỹ năng xác lập mối quan hệ nhân quả.... + Vận dụng linh hoạt các PPDH tích cực vào trong một tiết dạy. Hình thành và phát triển các kỹ năng làm việc với các thiết bị học tập Địa lý ở học sinh + Tạo được niềm tin, sự hứng thú, ham mê học tập Địa lý ở học sinh. + Có thái độ cởi mở, thân thiện đối với học sinh, biết khen thưởng và động viên kịp thời, phê bình một cách tế nhị để giúp học sinh tự tin và tự nhiên hơn trong hoạt động học tập, hạn chế tính tự ti, lười hoạt động của học sinh. + Thường xuyên kiểm tra việc học bài, làm bài tập,chuẩn bị bài mới của học sinh, quan tâm nhiều hơn đến học sinh yếu kém và có những biện pháp khắc phục kịp thời. 2: Đối với học sinh: + Yêu thích, say mê,hứng thú học tập môn Địa lý. + Đổi mới trong cách học, phải giác ngộ mục đích học tập, chủ động, sáng tạo, có ý thức trách nhiệm về hoạt động học tập của mình. + Xác định rõ mục đích, yêu cầu của giờ học, không chỉ về kiến thức mà còn về cả ký năng địa lý ( Kỹ năng quan sát, tư duy, phân tích, tổng hợp ). + Dành thời gian thích đáng để tự làm việc, nghiên cứu với SGK ( kênh hình, kênh chữ ), với các nguồn cung cấp kiến thức khác theo sự hướng dẫn của giáo viên. + Biết cách học tập, làm việc theo nhóm, hợp tác với bạn để tìm ra kiến thức mới. II. NHỮNG ĐỀ XUẤT - KIẾN NGHỊ. Qua quá trình nghiên cứu và thực hiện giảng dạy tại trường THCS Lý Tự Trọng. Bản thân tôi nhận thấy: Thứ nhất việc thực hiện đổi mới PPDH tích cực không phải là một sớm một chiều mà đòi hỏi người GV thực hiện liên tục, thông suốt trong cả quá trình giảng dạy. Thứ hai Đổi mới PPDH theo hướng tích cực không chỉ là việc cung cấp các phương tiện dạy học, điều chỉnh nội dung, phương pháp giảng dạy mà quan trọng và cần thiết là trang bị cho giáo viên và học sinh kỹ năng dạy - học tối ưu nhất và đạt hiệu quả cao nhất. Để dạy tốt một tiết học Địa lý 8 theo phương pháp đổi mới - rèn luyện kỹ năng địa lý không chỉ ở mỗi lớp 8 mà cần phải bắt đầu từ lớp đầu cấp và được tiến hành liên tục, thông suốt giữa các lớp, phải gây được một phong trào dạy- học lôi cuốn tất cả học sinh và giáo viên tham gia. Krông buk, ngày: 30/11/2010. Người viết Nguyên Hồng Tuyên ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC MỤC LỤC Nội dung Trang PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ - Lý do chọn đề tài. - Mục tiêu đề tài nghiên cứu. 1 PHẦN II: NỘI DUNG - Cơ sở lý luận. 2 - Cơ sở thực tiễn. 3 - Một số kinh nghiệm để nâng cao hiệu quả giảng dạy 4 - Nhóm các phương pháp 6 Bài soạn minh hoạ: sông ngòi và cảnh quan châu á 10 - Kết quả 12 PHẦN III: KẾT LUẬN 12 - Những đề xuất - kiến nghị 14 IV. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO - Tài liệu: Giáo dục bảo vệ môi trường trong môn Địa lý Trung học cơ sở. Tác giả: Nguyễn Hải Hà- Nguyễn Việt Hùng - Phan Thị Lạc- Trần Thị Nhung- Phạm Thu Phương- Nguyễn Minh Phương. - Tài liệu: lý luận dạy học Địa lý. Tác giả: Nguyễn dược, Nguyễn Trọng Phúc. -Tài liệu: Bồi dưỡng thường xuyên chu kỳ III - Tạp chí: Thế giới trong ta. - SGK và SGV Địa lí lớp 7. - Hướng dẫn phân phối chương trình môn Địa lý 7

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Dạy Học Nhằm Nâng Cao Kĩ Năng Vẽ Theo Mẫu Môn Mĩ Thuật Lớp 6

mẫu, kỹ năng này cũng được sử dụng trong vẽ trang trí và vẽ tranh. 4.6 Kĩ năng vẽ đậm nhạt: Sau khi hình vẽ được hoàn chỉnh, học sinh cần quan sát mẫu để xác định các mảng đậm, nhạt trên cơ sở ánh sáng chiếu vào vật mẫu. Học sinh biết cách vẽ đậm nhạt, thể hiện đúng các độ đậm nhạt trên mẫu. II. THỰC TRẠNG 1 Thuận lợi + Với nhiều năm liền được sự quan tâm của Phòng giáo dục và Đào tạo Huyện Ân Thi và Ban giám hiệu trường trung học cơ sở Hồ Tùng Mậu về cơ sở vật chất, trang thiết bị hỗ trợ đắc lực cho việc giảng dạy ở trường. + Phòng giáo dục cũng thường xuyên tổ chức cho giáo viên tham dự chuyên đề và bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ môn mĩ thuật có ứng dụng công nghệ thông tin vào trong các tiết dạy. + Với tinh thần trách nhiệm cao trong công tác giảng dạy, việc giáo viên tự làm đồ dùng dạy học để giảng dạy là hết sức quan trọng. + Giáo viên giảng dạy, là người tốt nghiệp đại học mĩ thuật và đã trực tiếp giảng dạy bộ môn mĩ thuật 6, nên rất thích nghiên cứu đề tài, nhằm giúp học sinh học tốt môn mĩ thuật 2 Khó khăn: Tổng số học sinh của của khối 6 là 86 học sinh. Ân Thi là một huyện nằm nhỏ của tỉnh Hưng Yên, đời sống của nhân dân ở đây còn khó khăn, nên việc phụ giúp gia đình của các em là điều khó tránh khỏi là vùng sâu, vùng xa của tỉnh là vùng có dân tộc nên việc xem môn học mĩ thuật nói chung và môn vẽ theo mẫu nói riêng cũng còn hạn chế trong cách nghĩ và học của học sinh, bên cạnh đó một số giáo viên và không ít những bậc phụ huynh học sinh còn xem việc học môn mĩ thuật là môn học phụ Một số học sinh còn chưa chủ động trong việc học và thực hành bài vẽ theo mẫu. + Môn mĩ thuật hiện nay chưa được coi trọng, nhiều người cho rằng ai dạy mà chẳng được, học sinh đa phần thuộc vùng sâu, vùng xa, các em mới từ cấp I lên nên nhiều khi phương pháp, kĩ năng vẽ chưa tiếp thu kịp, phòng thực hành, đồ dùng dạy học còn thiếu thốn, mặt khác với đặt điểm bộ môn Để thấy việc học của các em có tiến bộ hay không, tôi đã thực hiện cuộc thăm dò như sau: Yêu cầu Kết quả a. Cách sắp mẫu và nhận xét mẫu. 25 học sinh chưa hiểu về cách sắp mẫu như thế nào cho hợp lí. b. Cách tìm bố cục và dựng hình. 15 học sinh tìm bố cục còn xộc xệch và phác hình chưa ổn. c. Cách ước lượng và phác khung hình chung và riêng của vật mẫu. 25 học sinh còn yếu trong cách tìm khung hình chung và riêng. d. Cách vẽ đậm, nhạt và màu trong vẽ theo mẫu. 21 học sinh chưa phân biệt được các mảng đậm nhạt trên mẫu. Trước những vấn đề trên, tôi đã suy nghĩ tìm tòi, và rút ra một số kinh nghiệm và biện pháp trong quá trình giảng dạy, nhằm hướng dẫn những kĩ năng vẽ theo mẫu cho học sinh khối 6. III. GIẢI PHÁP 1 Trước tiên giáo viên phải rèn luyện kĩ năng quan sát, phân tích cho học . Để làm được điều này giáo viên cần: a. Chuẩn bị mẫu vẽ: Đối với phân môn Vẽ theo mẫu thì nhất thiết phải chuẩn bị mẫu vẽ. Giáo viên tự chuẩn bị mẫu vẽ hoặc giao cho các nhóm học sinh chuẩn bị. Mỗi lớp học phải có ít nhất 4 mẫu cho 4 nhóm. Lựa chọn mẫu vẽ phải có sự đa dạng, phong phú về kiểu dáng, màu sắc, kích thước...nhằm tạo hứng thú cho học sinh, tránh sự đơn điệu, nhàm chán. Đặc biệt đối với mẫu vẽ tĩnh vật cần chọn các loại hoa quả có hình dáng đẹp, màu sắc phong phú. Tuy vậy cũng không nên chọn mẫu có quá nhiều màu sắc đối chọi nhau, sẽ làm cho bài vẽ không có tính chủ đạo. Với những mẫu vẽ đẹp học sinh sẽ có hứng thú quan sát, từ đó lôi cuốn vào các bước tiếp theo của bài vẽ. Như vậy ngay từ bước chuẩn bị đồ dùng học tập, giáo viên bước đầu hình thành cho học sinh kĩ năng quan sát mẫu. b. Tổ chức lớp học: Lớp học giờ vẽ theo mẫu cần được sắp xếp hợp lí đảm bảo cho tất cả các học sinh đều có thể quan sát mẫu một cách dễ dàng. Có thể sắp xếp thành 4 nhóm ngồi xung quanh mẫu hoặc xếp học sinh thành 2 hàng dọc hai bên...tuỳ theo ánh sáng của lớp học. c. Bày mẫu : Giáo viên nên để cho học sinh tự bày mẫu, sau đó chỉnh sửa và gợi ý cho học sinh cách bày mẫu đẹp. Mẫu vẽ cần được bày phong phú và đảm bảo có nhiều góc vẽ đẹp. Giáo viên yêu cầu học sinh phải tự quan sát và vẽ mẫu đúng với góc nhìn của mình . d. Hướng dẫn học sinh quan sát mẫu: *. Cách đặt câu hỏi: Đối với phân môn vẽ theo mẫu, giáo viên cần bám sát mẫu để đặt câu hỏi cụ thể trên từng mẫu vẽ, không đặt câu hỏi một cách chung chung. Khi đặt câu hỏi giáo .viên cần chỉ vào mẫu để hướng sự chú ý của học sinh vào mẫu vẽ. Ví dụ : mẫu vẽ Lọ hoa và quả: - Mẫu gồm có mấy đồ vật? - Đó là những vật mẫu nào? - Vị trí của lọ hoa so với quả như thế nào? - So sánh tỉ lệ chiều cao của quả so với lọ hoa? - So sánh tỉ lệ chiều ngang của quả so với lọ hoa? - Lọ hoa bao gồm những phần nào? - So sánh tỉ lệ giữa các phần của lọ hoa? - So sánh tỉ lệ giữa chiều ngang và chiều cao của quả? - Có những nguồn sáng nào chiếu tới mẫu? - Hướng ánh sáng nào mạnh nhất? - Phân biệt các độ sáng - trung gian - đậm...thay đổi trên mẫu? v.v..... Giáo viên yêu cầu học sinh đo, dọi, ước lượng trước khi trả lời. Như thế bắt buộc các em phải quan sát mẫu thì mới có thể phân tích cấu trúc mẫu và đưa ra những nhậnxét chính xác. Các bước vẽ theo mẫu là một chuỗi logic, nếu không thực hiện tốt bước thứ nhất thì sẽ không thể thực hiện tốt bước tiếp theo. Chẳng hạn, không quan sát kĩ thì sẽ không thể hiểu cấu trúc mẫu, không nhìn ra các độ đậm nhạt, không nắm được tỉ lệ...thì không thể phác hình chính xác. Trong quá trình phân tích mẫu, giáo viên có thể đặt các câu hỏi mang tính suy luận như: - Vẽ theo mẫu khác với vẽ trang trí như thế nào? - Lọ hoa là đồ vật được biến dạng từ hình khối nào? - Ánh sáng thay đổi trên khối lập phương khác với trên khối cầu như thế nào? *. Quan sát mẫu: + Quan sát từ bao quát đến chi tiết, không sa vào chi tiết, bộ phận để nhận ra: -Hình dáng bề ngoài của mẫu(chiều cao, chiều ngang, và những nét cơ bản). - Đặc điểm chính của mẫu (qua cấu trúc và các kích thước). - Các mảng đậm nhạt lớn. + Quan sát mẫu để suy nghĩ về bố cục: - Vẽ hình trong tờ giấy ngang hay dọc là hợp lí. - Hình vẽ bằng nào thì vừa, đặt nó ở giữa hay lệch sang phải, sang trái hoặc lên trên, xuống dưới trang giấy để có bố cục cân đối.Ngoài việc quan sát mẫu thật ra, giáo viên cần vẽ minh hoạ nhiều góc nhìn cho một mẫu: chẳng hạn nhìn miệng giếng ở các độ cao khác nhau thì ta sẽ thấy nó có hình khác nhau như: hình tròn, hình elip, thậm chí là một đường thẳng nằm ngang.Hoặc minh hoạ nhiều mẫu ở một góc nhìn để học sinh thấy được sự phong phú của mẫu vẽ, từ đó gợi ý cho các em về cách lựa chọn mẫu cũng như các góc vẽ đẹp.Bên cạnh việc giáo viên vẽ minh hoạ thì giáo viên có thể hỏi học sinh các câu hỏi kiểm tra trí nhớ cũng như thói quen quan sát hàng ngày của học sinh. Chẳng hạn: - Khi nhìn ngôi nhà em đang ở với các góc nhìn khác nhau như: phía trước, phía sau, mặt bên của ngôi nhà, thì em thấy có sự khác nhau như thế nào? - Khi đứng ở một điểm cố định nhìn một hàng cột điện có kích thước bằng nhau thì nhìn càng xa ta càng thấy có sự thay đổi như thế nào? - Khi nhìn người khác với các góc nhìn ngang tầm mắt, nhìn dưới lên hoặc đứng trên tầng nhìn xuống...thì ta thấy có sự biến dạng như thế nào? - Hãy mô tả theo trí nhớ cấu tạo của cái ấm tích, cái phích nước, hình dáng con trâu, con gà, con lợn...? - Khi ta đứng ngoài nắng vào buổi sáng, trưa, chiều, chiều tối...thì bóng đổ của ta xuống đất có sự thay đổi như thế nào? v.v..... *. Hướng dẫn học sinh vẽ mẫu: *. Hướng dẫn học sinh nhận xét, đánh giá, rút kinh nghiệm . Sau khi học sinh thực hành vẽ mẫu, cuối tiết học giáo viên chọn một số bài vẽ đạt yêu cầu và chưa đạt yêu cầu để các em nhận xét. Giáo viên có thể đánh số cho các bài vẽ chọn và đặt các câu hỏi như: - Em thích nhất bài số mấy? - Theo em bài vẽ này đạt ở điểm nào và chưa đạt ở điểm nào? - Theo em bài nào cần chỉnh sửa? Chỉnh sửa ở những phần nào? - Qua tiết vẽ này em rút ra được những kinh nghiệm gì? 2 . Để phát triển những kĩ năng trên cho học sinh, giáo viên cần : - Nghiên cứu kĩ nội dung bài học để xác định mục tiêu cụ thể. Trong bài học đó giáo viên cần hình thành ở học sinh những kĩ năng nào và mức độ đến đâu? Ví dụ: những bài đầu vẽ theo mẫu ở lớp 6, giáo viên cần kiểm tra lại những kĩ năng học sinh đã có ở tiểu học trên cơ sở cần phát triển các kĩ năng cho học sinh như chọn mẫu, bày mẫu, quan sát, vẽ hình, chỉnh hình, vẽ đậm nhạt. Ở bài này giáo viên có thể tập trung vào kĩ năng quan sát: chọn mẫu, bày mẫu , nhận xét mẫu, phác hình. - Kĩ năng sắp xếp bố cục và phác hình: những bài sau, kĩ năng này sẽ được củng cố từng bước và phát triển những kĩ năng chỉnh hình và vẽ đậm nhạt. Qua nhiều bài luyện tập các kĩ năng trên được hình thành từng bước và phát triển. - Cuối mỗi bài học qua đánh giá kết quả học tập của học sinh giáo viên nắm được mức độ, kĩ năng đã phát triển ở từng học sinh và từ đó giáo viên có thể có kế hoạch bồi dưỡng cho cả lớp và từng cá nhân học sinh. 3 Để hình thành và phát triển những kĩ năng trên cho học sinh, giáo viên nên sử dụng một số phương tiện dạy học như: -Yêu cầu học sinh cùng tham gia chuẩn bị mẫu vẽ. Học sinh phân công trong nhóm mang theo đồ vật, hoa quả để bày mẫu tuỳ theo nội dung của bài học (có thể bày 3 hoặc 4 nhóm mẫu để học sinh vẽ theo nhóm). Các nhóm mẫu có thể giống hoặc khác nhau tùy theo yêu cầu của bài. Tuy nhiên phải đảm bảo yêu cầu chung của bài. - Bài vẽ của học sinh năm trước (cả bài tốt và bài chưa tốt). - Các bước tiến hành bài vẽ (có thể trình bày trên giấy khổ rộng hoặc giấy trong để trình bày trên máy chiếu qua đầu). 4. Dưạ vào các giải pháp trên tôi thử vận dụng các phương pháp vào dạy học một số bài vẽ theo mẫu trong chương trình sách giáo khoa mĩ thuật 6 như sau : Bài 15, 16- tiết 16, 17. Vẽ theo mẫu- Mẫu có dạng hình trụ và hình cầu Giáo viên có thể sử dụng kết hợp nhiều phương pháp dạy học trong bài học như phương pháp quan sát, trực quan, giảng giải - minh hoạ, thực hành - Giáo viên có thể tổ chức cho học sinh làm việc theo nhóm, các nhóm tự chọn và bày mẫu (mẫu đã được phân công chuẩn bị trước). - Sau khi các nhóm bày mẫu xong, giáo viên phân tích cái được và chưa được cần điều chỉnh lại cho đẹp. Qua đó học sinh hiểu được để có mẫu đẹp cần phải chọn mẫu như thế nào? Có mẫu đẹp chưa đủ mà cần phải đặt như thế nào để có bố cục đẹp? a/ a/ b/ a/ c/ a/ d/ a/ e/ a/ Hình a- bố cục lỗng Hình b, c- bố cục bị thu hẹp Hình d- bố cục không thuận mắt Hình e- bố cục đẹp, thuận mắt. - Sau khi đã bày mẫu, giáo viên đặt câu hỏi để học sinh quan sát nhận ra đặc điểm, hình dáng, màu sắc và cấu trúc hình thể của từng mẫu vật và so sánh sự khác nhau giữa các vật mẫu về hình dáng, màu sắc, tỉ lệ (quan sát nhóm mẫu mà học sinh sẽ thực hiện bài vẽ). ? Những đồ vật hình trụ là những vật có hình dạng như thế nào? Kể tên một số đồ vật có dạng hình trụ. ? Hãy kể tên một số đồ vật có dạng hình cầu ? ? Miêu tả những màu sắc , chất liệu sẵn có trên mẫu? ? So sánh tỉ lệ của hình cầu và hình trụ. Ở bước này giáo viên cần hướng học sinh quan sát từ tổng thể đến chi tiết. - Sau khi quan sát nhận ra đặc điểm riêng của từng mẫu vật, giáo viên hướng dẫn học sinh quy nhóm mẫu vào khung hình chung theo tỉ lệ chiều ngang, chiều cao (lấy chiều cao của đồ vật cao nhất, chiều ngang tính từ vật nằm bên trái qua phải), sắp đặt khung hình chung lên giấy vẽ sao cho cân đối đẹp mắt (không quá to, quá nhỏ, lệch lên, lệch xuống hoặc lệch sang trái, sang phải). Giáo viên có thể dùng đồ dùng trực quan để minh hoạ cho các dạng bố cục đó để học sinh nhận ra thế nào là bố cục đẹp và chưa đẹp. - Sau khi xác định được khung hình chung, giáo viên cần hướng học sinh tiến hành phác khung hình riêng của từng vật mẫu. Quan sát, so sánh tỉ lệ của từng vật mẫu để có hình vẽ chính xác với đặc điểm của mẫu. Ví dụ: hình cầu có chiều cao gần bằng ¼ chiều cao của hình trụ , chiều ngang của hình cầu gần bằng ½ chiều ngang của hình trụ. Dùng chì phác nhẹ tay (nét mờ để dễ điều chỉnh, tẩy xoá). Khi khung hình chung và khung hình riêng của mẫu đã được xác định tương đối chính xác, cần quan sát mẫu để xác định tỉ lệ các bộ phận trên mẫu. Để phác hình cho cân cần xác định các đường trục đứng và trục ngang, trên từng mẫu vật. Dựa trên các đường trục, xác định vị trí các bộ phận và phác hình từng mẫu vật (các bộ phận của từng mẫu vật). - Khi hình dáng chung của từng mẫu vật đã được xây dựng, tiến hành chỉnh hình cho đúng với đặc điểm của mẫu. Quan sát, so sánh đặc điểm của các bộ phận trên mẫu để điều chỉnh hình vẽ cho đúng. Chú ý đến nét vẽ có chỗ đậm, chỗ nhạt dựa trên cơ sở ánh sáng chiếu vào mẫu vật. Không nên viền chu vi của hình vẽ bằng nét có độ đậm đều nhau làm cho hình vẽ trở nên khô cứng. Khi hình vẽ được chỉnh sửa, tiếp tục quan sát, so sánh độ đậm nhạt lớn trên mẫu để phân chia các mảng đậm nhạt trên hình vẽ và gợi đậm nhạt bằng bằng các nét đan xen nhau, chồng lên nhau. Trên cơ sở các mảng đậm nhạt lớn điều chỉnh, đẩy sâu, nhấn đậm, nhạt một số chi tiết cần thiết để bài vẽ hoàn chỉnh. Vẽ đậm nhạt cần chú ý đến nguồn ánh sáng chiếu vào mẫu để diễn tả cho đúng. Ánh sáng - Sau phần hướng dẫn chung giáo viên cho học sinh thực hành bài vẽ. Trong khi thực hành giáo viên đến từng nhóm để hướng dẫn cá nhân thực hiện bài vẽ theo đúng các bước tiến hành. IV. Kết quả đạt được: Qua nghiên cứu và thực nghiệm vận dụng các các kĩ năng vào dạy học ở một số bài vẽ theo mẫu, đạt được những kết quả khả quan, từng bước nâng cao chất lượng học sinh qua từng giai đoạn. Kết quả cụ thể như sau: Các giai đoạn Khối Tổng số học sinh Chưa đạt Đạt SL TL% SL TL% Đầu HKI 6 86 6 6,9% 80 93,1% Giữa HKI 6 86 1 1.2% 85 98,8% Sau khi tôi đã hướng dẫn học sinh về kĩ năng vẽ theo mẫu. tôi đã cho học sinh vẽ lên giấy với những yêu cầu sau: Câu 1: Em có thích học phân môn vẽ theo mẫu không ? Có Không Câu 2: Em thích bước vẽ màu trong bài vẽ theo mẫu không ? Có Không Câu 3: Em có thích vẽ thích vẽ đậm nhạt ? Có Không Câu 4: Em có biết cách đặt mẫu như thế nào là hợp lí không? Có Không Câu 5: để tiến hành bài vẽ theo mẫu gồm có mấy bước ? 3 bước 4 bước 5 bước Câu 6: Trước khi vẽ đậm nhạt ta phải làm gì? Đánh liền Đánh đậm một chổ Hướng ánh sáng Phác mảng đậm nhạt Câu 7: Em có hay thường xuyên vẽ mẫu ở nhà không? có Không Thỉnh thoảng Câu 8: Qua môn học vẽ theo mẫu em có thấy thoải mái không ? Có Không Bình thường Tổng kết : Phương án A có 29 học sinh = 33,7% B có 32 học sinh = 37,3 % C. có 22 học sinh = 25,6% D có 3 học sinh = 3,4 % * Qua kết quả trên tôi thấy học sinh đã bước đầu có ý thức về các kĩ năng vẽ bài Sau khi đã có vốn kiến thức về màu sắc giúp các em say mê hơn đối với môn mĩ thuật nói chung và vẽ theo mẫu nói riêng. Các em đã bước đầu nắm được quy luật về màu sắc để vẽ màu. Các em đã dùng màu rất mạnh dạn, đem lại hiệu quả bất ngờ đối với bài vẽ, đảm bảo quy luật dùng màu. ]] C. KẾT THÚC VẤN ĐỀ Bài học kinh nghiệm: Mỹ thuật là bộ môn thuộc lĩnh vực nghệ thuật. Do đó, tuy môn học cũng nhằm cung cấp kiến thức và theo những quy định chung nhưng khi vận dụng, giáo viên không đòi hỏi, không bắt buộc tất cả học sinh phải làm bài như nhau và tuân thủ một cách máy móc, rập khuôn theo cái chung. Học sinh tuy vẽ cùng một mẫu, nhưng sản phẩm rất khác nhau về nét vẽ, về hình, về bố cục vì thế có thể nói kết quả học tập của học sinh phụ thuộc vào sự "giàu có" kiến thức, vào "nghệ thuật truyền đạt" của giáo viên. Nhưng quan trọng hơn cả là khả năng cảm nhận của học sinh. Bởi lẽ, học sinh có thích thú thì mới chịu suy nghĩ, tìm tòi và thể hiện bằng cảm xúc của mình. Vẽ có cảm xúc bao giờ cũng mang lại hiệu quả cao. Vì thế, dạy- học môn mĩ thuật không đơn giản là dạy và học kĩ thuật vẽ mà còn phải kết hợp với dạy và học cảm thụ thế giới xung quanh. Bắt buộc, gò ép học sinh trong học mĩ thuật sẽ dẫn đến khuôn mẫu, đồng điệu. 2. Hướng phổ biến và áp dụng đề tài: * Để một tiết dạy- học Vẽ theo mẫu thành công, giáo viên cần: Chuẩn bị tốt ở khâu soạn giảng, hình thành các phương pháp dạy học tích cực thích hợp với từng bài, từng phần, từng nội dung. Sử dụng đồ dùng dạy học hợp lý với đặc trưng của từng bài (mẫu vẽ, hình gợi ý các bước vẽ hình, vẽ màu) Khi sử dụng đồ dùng dạy học cần chú ý tới tính khoa học, thẩm mỹ và độ chính xác của kiến thức. Giáo viên nên rèn luyện cho học sinh tính tự giác, tư duy sáng tạo trong quá trình làm bài nhằm phát hiện và bồi dưỡng những học sinh có năng khiếu. Trong quá trình áp dụng vào bài giảng, tôi nhận thấy phần khởi động và thực hành của tiết học, là phần mà học sinh rất ham thích và tôi áp dụng thành công nhất. Nên tôi rút cho bản thân là phải cố gắng hơn nữa, phải áp dụng trị chơi bài hát, một câu chuyện . Cho phù hợp với từng nội dung của bài. Kiểm tra, nhắc nhở học sinh giữ gìn cẩn thận dụng cụ học tập của mình Dặn dò học sinh chuẩn bị kĩ, đầy đủ những đồ dùng cần thiết cho tiết học tiếp theo. * Vận dụng khéo léo các phương pháp dạy học tích cực như: phương pháp làm việc theo nhóm, phương pháp trực quan, phương pháp luyện tập (làm việc cá nhân), phương pháp quan sát, phương pháp nêu vấn đề, phương pháp trị chơi. Khi các kĩ năng đã được hình thành, giáo viên cần tiếp tục nâng cao và phát triển để hình thành thị hiếu thẩm mĩ và nâng cao khả năng cảm thụ cái đẹp, kĩ năng miêu tả đồ vật bằng đường nét, hình khối, đậm nhạt, không gian và màu sắc của học sinh trong vẽ theo mẫu. 3. Hướng nghiên cứu: * Với những khó khăn đối với bộ môn mĩ thuật tôi sẽ cố gắng làm tốt công tác giảng dạy của mình, đồng thời tìm ra những khuyết điểm trong bộ môn để giúp tôi nghiên cứu sâu hơn về đề tài * Trong quá trình thực hiện đề tài này, bản thân tôi đã cố gắng tìm tòi, học hỏi kết hợp với một phần nhỏ kinh nghiệm giảng dạy của bản thân, tuy nhiên không tránh khỏi những khiếm khuyết, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp chân thành của các đồng nghiệp để tôi có thể nâng cao hiểu biết và cải thiện hiệu quả trong công tác giảng dạy bộ môn Mỹ thuật. 4. Đề nghị, kiến nghị. - Đề nghị với Phòng giáo dục trang bị thêm trang thiết bị học tập như trang, ảnh, mô hình, sách, tài liệu tham khảo cho bộ môn mĩ thuật. - Ban giám hiệu nhà trường quan tâm hơn nữa đến môn học, tạo điều kiện hơn nữa về cơ sở vật chất, thời gian, trang thiết bị phục phụ cho môn học. Tôi xin trân trọng cảm ơn! " Đây là sáng kiến kinh nghiệm của tôi, do tôi viết, không sao chép nội dung của người khác! " Hồ Tùng Mậu, ngày 20 tháng 02 năm 2016 Người thực hiện. Nguyễn Thị Thu Hương TÀI LIỆU THAM KHẢO Trong quá trình làm đề tài này tôi có tham khảo các tài liệu sau đây: Sách giáo khoa, sách giáo viên MỸ THUẬT 6- Nhà xuất bản Giáo Dục. Tài liệu bồi dưỡng cho giáo viên THCS môn Mĩ Thuật - Bộ Giáo Dục và Đào Tạo - Vụ Giáo Dục Trung Học. Tự học vẽ- Tác giả Phạm Viết Song- Nhà xuất bản Giáo Dục.

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Phương Pháp Giải Phương Trình Và Bất Phương Trình Môn Đại Số 8

Bộ môn Toán học được coi là một trong những môn chủ lực nhất, nó được vận dụng và phục vụ rộng rãi trong đời sống hằng ngày của chúng ta. Bởi trước hết Toán học hình thành ở các em học sinh tính chính xác, hệ thống, khoa học, logic và tư duy cao, do đó nếu chất lượng dạy và học tốn ở trường THCS được nâng cao thì có nghĩa là các em học sinh tiếp cận với nền tri thức khoa học hiện đại, có ý nghĩa giàu tính nhân văn của nhân loại.

Đổi mới chương trình, tăng cường sử dụng thiết bị dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, đổi mới phương pháp dạy học toán hiện nay ở trường THCS đã và đang làm tích cực hoạt động tư duy học tập của học sinh, khơi dậy và phát triển khả năng tự học, tự tìm tòi, tự sáng tạo, nhằm nâng cao năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, rèn luyện và hình thành kỹ năng vận dụng kiến thức một cách khoa học, hợp lý, sáng tạo vào thực tế cuộc sống.

Trong chương trình Đại số lớp 8, thì dạng bài tập về giải phương trình và bất phương trình là nội dung quan trọng, là trọng tâm của chương trình đại số lớp 8, việc áp dụng của dạng toán này rất phong phú, đa dạng và phức tạp. Vì vậy để giúp học sinh nắm được khái niệm về phương trình và bất phương trình, giải thành thạo các dạng toán là yêu cầu hết sức cần thiết đối với người giáo viên. Qua thực tế giảng dạy nhiều năm, cũng như qua việc theo dõi kết quả bài kiểm tra, bài thi của học sinh lớp 8 (các lớp đang giảng dạy), thì việc giải phương trình và bất phương trình là không quá khó, nhưng vẫn còn nhiều học sinh mắc phải các sai lầm không đáng có, giải phương trình và bất phương trình còn nhiều sai sót, rập khuôn máy móc hoặc chưa làm được, do chưa nắm vững chắc các cách giải, vận dụng kỹ năng biến đổi chưa linh hoạt vào từng dạng toán về phương trình và bất phương trình.

nh mới tương đương . Hệ quả 1 ; Nếu xóa hai hạng tử giống nhau ở hai vế của một bất phương trình thì được một bất phương trình tương đương . Hệ quả 2 : Nếu chuyển hạng tử từ vế này sang vế kia và đổi dấu của nó thì được một bất phương trình tương đương . + Định lí 2 : - Nếu nhân hai vế của một bất phương trình với một số dương thì được một bất phương trình tuơng đương . - Nếu nhân hai vế của một bất phương trình với một số âm và đổi chiều của bất phương trình thì được một bất phương đương 2- Các dạng bài tập Dạng 1 : Giải bất phương trình bậc nhất một ẩn Bài 1 : Giải các bất phương trình sau . a) x - 4 - 6 Với bài tập này học sinh có thể giải rễ ràng bằng cách sử dụng các phếp biến đổi tương đương . Giải a ) x - 4 < - 8 ↔ x < -8 + 4 ↔ x < - 4 Vậy tập nghiệm của bất phương trình đã cho là S = {x / x < - 4 } Bài 2 : Giaỉ các bất phương trình sau ; a ) (x + 2 ) 2 < 2x ( x + 2) +4 Bài tập này sẽ làm cho học sinh hơi bối rối vì các em thấy lũy thừa của x không là bậc nhất nên không biết làm như thế nào vì vậy giáo viên đưa ra một gợi ý nhỏ cho các em : Hãy thực hiện các phép tính ở hai vế và thu gọn . Giải ( x + 2 ) 2 < 2x ( x + 2) + 4 ↔ x2 + 4x + 4 < 2 x2 + 4x + 4 → Bất phương trình vô nghiệm . Khi làm xong bài tập 2 giáo viên có thể cho học sinh rút ra các bước làm : Bước 1 : Thực hiện các phép tính ở hai vế của bất phương trình . Bước 2 : Chuyển các hạng tử chứa ẩn sang một vế , các hạng tử bằng số sang một vế rồi thu gọn bất phương trình Bước 3 : Giải bất phương trình sau khi thu gọn. Bài 3 : Giải các bất phương trình sau : Giáo viên cho học sinh nhận xét các bất phương trình trên có đặc điểm gì và gợi ý học sinh hãy quy đồng và khử mẫu . Giải Vậy tập nghiệm của bất phương trình là : S = {x / x ≤ 15} b) Vậy tập nghiệm của bất phương trình là ; S = {x / x ≤ -115} Qua bài tập này giáo viên cho học sinh rút ra cách giải bất phương trình có chứa mẫu : Bước 1 : Quy đồng và khử mẫu Bước 2 : Chuyển các hạng tử chứa ẩn sang một vế và các hạng tử bằng số sang một vế và thu gọn bất phương trình . Bước 3 : Giải bất phương trình sau khi thu gọn . Bài 4 : Giải bất phương trình : mx + 1 ≥ m2 + x ( với m là tham số ) Học sinh có thể biến đổi tương đương bình thường + Nếu m < 1 thì nghiệm của bất phương trình là x ≤ m + 1 + Nếu x = 1 thì bất phương trình có dạng 0x ≥ 0 nghiệm đúng với mọi giá trị của x. Bài 5 : Giải bất phương trình ( với a là hằng số ) . Đây là bất phương trình có chứa mẫu do đó cần phải tìm điều kiện để cho mẫu có nghĩa sau đó biến đổi và rút gọn bất phương trình . Giải Bất phương trình có nghĩa khi a ≠ 0 Nếu a < - 2 thì nghiệm của bất phương trình đã cho là : Bài 6 : Giải bất phương trình : Với bài tập này phần lớn học sinh sẽ vận dụng cách làm một cách máy móc đó là quy đồng , rút gọn rồi mới giải bất phương trình , làm như vậy thì các em sẽ khá vất vả hoặc có em thì lại tách thành Làm như vậy cũng rất phức tạp nên giáo viên có thể cho học sinh nhận xét về mối quan hệ giữa tử và mẫu của mỗi phân thức và hướng dẫn học sinh tạo ra các phân thức có tử giống nhau bằng cách cộng thêm vào mỗi phân thức với 1 khi đó ta có : Bên cạnh các bài toán với yêu cầu cụ thể là giải bất phương trình thì còn những bài toán mà để giải được nó thì phải đưa về bài toán giải bất phương trình . Bài toán này đòi hỏi học sinh phải có sự tư duy logic , phân tích chặt chẽ . Bài 7 : Tìm giá trị của x thỏa mãn cả hai bất phương trình và Học sinh phải hiểu các giá trị cần tìm của x chính là nghiệm chung của cả hai bất phương trình và để tìm được thì ta phải đi giải 2 bất phương trình và tìm phần chung trong tập nghiệm của chúng . * (1) * ( 2) Từ (1) và (2) ta có x Bài 8: Tìm các số nguyên x thỏa mãn cả hai bất phương trình và Giải Xét bất phương trình : (1) Xét bất phương trình : (2) Từ (1) và (2) ta có 12 ≤ x <13 Sau khi tìm được các giá trị của x thỏa mãn cả hai bất phương trình thì học sinh lại thêm bước lựa chọn các giá trị nguyên của x Vì x € Z nên x = 12 Nhận xét : Khi cho bài tập thì giáo viên có thể cho những bài tập tương tự nhau nhưng tập sau phải đòi hỏi cao hơn bài tập trước để tạo cho các em vừa biết lợi dụng các bài tập đã biết để làm tương tự nhưng lại phải tư duy thêm để trả lời được câu hỏi của bài như vậy sẽ tạo cho các em sự hứng thú và say mê học tập . Bài 9 : tìm số nguyên x lớn nhất thỏa mãn mỗi bất phương trình sau 5,2 + 0,3x < - 0,5 1,2 - ( 2,1 - 0,2x ) <4,4 Giải 5,2 + 0,3x < - 0,5 Học sinh khi làm đến đây có nhiều em sẽ không biết vậy x sẽ nhận giái trị nào thì giáo viên có thể gợi ý : Số nguyên nhỏ hơn -19 và gần với -19 nhất là bao nhiêu thì học sinh sẽ tìm được đó là -20 1,2 - ( 2,1 - 0,2x ) < 4,4 Vậy số nguyên x lớn nhất thỏa mãn bất phương trình là 26. Bài 10: Với giá trị nào của x thì Giá trị phân thức lớn hơn giá trị phân thức Giá trị phân thức nhỏ hơn giá trị phân thức Ở bài tập này học sinh phải thiết lập được mối quan hệ giữa các phân thức và đưa về giải bất phương trình. Giải Giá trị phân thức lớn hơn giá trị phân thức nghĩa là Vậy giá trị của phân thức lớn hơn giá trị phân thức khi x < Giá trị phân thức nhỏ hơn giá trị phân thức nghĩa là Dạng bài tập này sau khi giải học sinh thường hay kết luận nghiệm của bất phương trình do vậy giáo viên chú ý học sinh hãy kết luận theo yêu cầu của bài . Bài 11: Tìm giá trị của m để nghiệm của phương trình sau dương Đây là phương trình chứa mẫu vì vậy cần tìm điều kiện để phương trình có nghĩa : Điều kiện x - 1 ≠ 0 suy ra x ≠ 1 Là bài toán về phương trình nhưng để trả lời được nó thì lại phải sử dụng đến bất phương trình Giải - Nếu m = 1 thì phương trình có dạng 0x = 0 phương trình vô nghiệm - Nếu m ≠ 0 thì Vì x ≠ 1 nên Nghiệm của phương trình là với m ≠ +-1 Phương trình có nghiệm dương khi Bài 12: Cho biểu thức Rút gọn biểu thức A Giải Điều kiện a) b) Kết hợp với điều kiện ta được x < và x ≠ -1 Vậy với x 0 Bài 13 : Tìm các số nguyên a và b sao cho a2 - 2ab + b2 - 4a +7 < 0 Giáo viên hướng dẫn , dẫn dắt học sinh biến đổi vế trái của bất đẳng thức sau đó đánh giá để tìm được a , b. Giải Do a , b nguyên ta cộng 1 vào vế trái của bất đẳng thức đã cho ta được a2- 2ab + b2 - 4a +7 < 0 Bài 14: Tìm x biết rằng Giáo viên giới thiệu cho học sinh biết khái niệm phần nguyên : Phần nguyên của a kí hiệu [a] là số nguyên lớn nhất không vượt quá a Ví d ụ ; [3,135] = 3 ; [-1,47] = -2 Nếu b là phần nguyên của a thì ta có Từ đó học sinh có thể dựa vào đó để giải bài toán . Giải Theo đề bài , x là số nguyên lớn nhất không vượt qua . Do đó Giải bất phương trình ta có Ta lại có x € Z do đó x = -2. Bài 15: Tìm x biết rằng Ta có 2x +1 là số nguyên lớn nhất không vượt quá nên Giải Mặt khác 2x + 1 € Z nên 2x + 1 = 0 hoặc 2x + 1 = 1 Suy ra x = - hoặc x = 0 Bài 16 : Cho một dãy các số tự nhiên bắt đầu từ 1 . Người ta xóa đi một số thì trung bình cộng của các số còn lại bằng . Tìm số bị xóa . Giải Giả sử ta có n số tựu nhiên liên tiếp từ 1 đến n : - Nếu xóa số 1 thì trung bình cộng của các số còn lại là - Nếu xóa số n thì trung bình cộng của các số còn lại là Ta có Do n là số tự nhiên nên n = 69 hoặc n = 70 Nếu n = 70 thì tổng của 69 số còn lại là loại Nếu n = 69 thì tổng của 69 số còn lại là số bị xóa là ( 1 + 2 + 3 + ..+ 69 ) - 2408 = 7 Dạng 2 : Bất phương trình chúa ẩn trong dấu GTTĐ . Với dạng toán này để giải bất phương trình loại này ta phải khử dấu giá trị tuyệt đối . Ta nhớ lại rằng : Giá trị tuyệt đối của một biểu thức bằng chính nó nếu biểu thức không âm , bằng số đối của nó nếu biểu thức âm . │A│= A nếu A≥ 0 -A nếu A < 0 Do đó để khử dấu giá trị tuyệt đối cần xét giá trị của biến làm cho biểu thức âm hay không âm . Nếu biểu thức nằm trong dấu giá trị tuyệt đối là nhị thức bậc nhất ta cần nhớ định lí sau : Định lí về dấu của nhị thức bậc nhất ax + b ( a ≠ 0 ) Nhị thức ax + b ( a ≠ 0 ) + Cùng dấu với a với các giá trị của x lớn hơn nghiệm của nhị thức . + Trái dấu với a với các giá trị của x nhỏ hơn nghiệm của nhị thức. Bài 1 : Giải các bất phương trình sau Giải * Xét khoảng x < thì ( 1) có dạng Nghiệm của bất phương trình trong khoảng này là x < * Xét khoảng thì (1) có dạng b) │3-2x│ < x + 1 Vậy bất phương trình có nghiệm trong khoảng này là * Xét khoảng , ( 2 ) có dạng Vậy bất phương trình có nghiệm trong khoảng này là Kết luận : Nghiệm của bất phương trình đã cho là : Bài 2 : Giải bất phương trình │x│- x + 2 ≤ 2│x - 4│ (1) Giải a) Lập bảng xét dấu các biểu thức x và x - 4 x 0 4 x - 0 + │ + x - 4 - │ - 0 + * Xét khoảng x < 0 ; ( 1) có dạng - x - x + 2 ≤ 2 ( 4 - x ) Nghiệm đúng với mọi x thuộc khoảng đang xét x < 0 * Xét khoảng 0 ≤ x < 4 ,(1) có dạng x - x + 2 ≤ 8 - 2x Nghiệm của bất phương trình đang xét trong khoảng này là 0 ≤ x ≤ 3 * Xét khoảng x ≥ 4 , (1) có dạng x - x + 2 ≤ 2x - 8 ↔ x ≥ 5 thỏa mãn x ≥ 4 Kết luận : Nghiệm của bất phương trình đã cho là x ≤ 3 ; x ≥ 5 b) Lập bảng xét dấu các biểu thức ( x - 1 ) ; ( x - 5 ) x 1 5 x - 1 - 0 + │ + x - 5 - │ - 0 + * Xét khoảng x < 1 , (2) có dạng thỏa mãn x < 1 * Xét khoảng 1 ≤ x < 5 , (2) có dạng không xảy ra với mọi x do đó bất phương trình vô nghiệm trong khoảng đang xét . * Xét khoảng x ≥ 5 , ( 2) có dạng nghiệm đúng với mọi x ≥ 5 Kết luận : Nghiệm của bất phương trình đã cho là x 7. Nhận xét : Trong cách cách giải trên ta đã khử dấu GTTĐ bằng cách xét từng khoảng giá trị của biến . Trong một số trường hợp , có thể giải nhanh hơn cách dùng phương pháp chung nói trên bởi các biến đổi tương đương sau : Dạng 1 Với a là số dương , ta có : │f(x) │ < a │f(x) │ < g (x) Dạng 2 : Bài 3 : Giải bất phương trình a) 3│2x - 1│ < 2x + 1 (1) b) │5x - 3│ < 3x + 2 ( 2) Giải Cách 1 : (Theo phương pháp chung ) * Xét khoảng x < , (1) có dạng 3( 1 - 2x ) <2x + 1 Nghiệm của bất phương trình trong khoảng này là * Xét khoảng x ≥ ,(1) có dạng Nghiệm của bất phương trình trong khoảng này là Kết luận : Nghiệm của bất phương trình đã cho là Cách 2 : Biến đổi thành phương trình tương đương theo dạng 1b 3│2x - 1│ < 2x + 1 │5x - 3│ < 3x + 2 Kết luận : Nghiệm của bất phương trình đã cho là x Dạng 3 : Bất phương trình tích , bất phương trình thương . Với dạng bài tập này học sinh có thể lập bảng để xét dấu nhưng cũng có thể sử dụng các phép biến đổi tương đương . Khi sử dụng phép biến đổi tương đương cần chú ý : Tích (thương ) của hai số cùng dấu là số dương Tích ( thương ) của hai số trái dấu là số âm . b) < 0 Giải a) Cách 1 : lập bảng xét dấu x - 2 và x - 5 x 2 5 x - 2 - 0 + │ + x - 5 - │ - 0 + (x - 2) ( x - 5 ) + 0 - 0 + Kết luận : Nghiệm của bất phương trình là x 5 Cách 2 : Sử dụng phép biến đổi tương đương . Lập bảng xét dấu của các nhị thức x -2 5 x + 2 - 0 + │ + x - 5 - │ - 0 + + 0 - ║ + Kết luận : Nghiệm của bất phương trình là x 5 Bài 2 : Giải các bất phương trình sau x2 - 2x + 1 < 9 ( x3 -27) ( x3 - 1 ) ( 2x + 3 - x2) ≥ 0 Giải a) Cách 1 : x2 - 2x + 1 < 9 Cách 2 : Biến đổi bất phương trình về dang bất phương trình tích Lập bảng xét dấu của nhị thức (x + 2 ) , ( x - 4 ) x -2 4 x + 2 - 0 + │ + x - 4 - │ - 0 + (x + 2) ( x - 4 ) + 0 - 0 + Nghiệm của bất phương trình là - 2 < x < 4 b) ( x3 -27) ( x3 - 1 ) ( 2x + 3 - x2) ≥ 0 Vậy nghiệm của bất phương trình là x = 3 , x = - 1 Bài 3 : Giải bất phương trình sau a) b) Giải a) (1) ĐK ; x ≠ -1 ; x ≠ -2 ; x ≠ 4 (1) x -2 -1 x + 2 - 0 + │ + x + 1 - │ - 0 + (x + 2) ( x + 1 ) + ║ - ║ + Kết luận : Nghiệm của bất phương trình đã cho là : x 4 b) (2) ĐK : x ≠ -1 ; x ≠ -2 (2) Bài 4: Tìm điều kiện của x , y để biểu thức A có giá trị lớn hơn 1 ĐK : xy ≠ 0 ; x ≠ y ; x ≠ - y = Vậy A nhận giá trị lớn hơn 1 khi xy < 0 và x + y ≠ 0 Qua việc tham khảo một số loại sách và đồng nghiệp tôi thấy hầu hết các loại sách được trình bày theo lối : - Đưa ra nội dung kiến thức cơ bản . - Đưa ra các dạng toán và hướng giải quyết các dạng toán này . - Một số chú ý khi làm các dạng bài toán này . - Đưa ra một số bài toán nâng cao và cách giải để học sinh tham khảo . Đó chính là tiền đề để bồi dưỡng học sinh giỏi mà trong các giờ lên lớp giáo viên không thể bồi dưỡng được . Vì kiến thức ở lớp chỉ là các kiến thức cơ bản để cho học sinh từ yếu , kém , trung bình cũng như học sinh khá giỏi nắm đuộc cái can bản của chi thức . - Rèn cho các em có tinh thần học tập , khả năng tự học tự đọc và tìm lời giải hay , phong phú , tạo hứng thú học tập bộ môn toán mà nhiều người cho là khô khan . C: KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC Tôi so sánh chất lượng học sinh khi chưa áp dụng sáng kiến với khi áp dụng tấy kết quả tăng lên rõ rệt : * Khi chưa áp dụng sáng kiến . - Phân chia thành các nhóm tiếp thu kiến thức như sau + Nhóm những em tiếp thu nhanh , giải quyết vấn đề nhanh , linh hoạt : 25% + Nhóm học sinh biết vận dụng trực tiếp ; 50% + Nhóm học sinh chưa biết vận dụng : 25% ( Phân chia các nhóm tiếp thu về bộ môn Toán ) * Khi áp dụng sáng kiến : - Phân chia thành các nhóm tiếp thu kiến thức như sau + Nhóm những em tiếp thu nhanh , giải quyết vấn đề nhanh , linh hoạt : 32% + Nhóm học sinh biết vận dụng trực tiếp ; 55% + Nhóm học sinh chưa biết vận dụng : 13% ( Phân chia các nhóm tiếp thu về bộ môn Toán ) D : BÀI HỌC KINH NGHIỆM - Khi chưa áp dụng sáng kiến vào giảng dạy đa số học sinh đều lúng túng khi là bài tập , chỉ dừng lại ở những bài tập cơ bản và dễ , các bài toán phải ở sẵn dạng quên thuộc đã là thì học sinh theo dạng đó mới làm được chưa có những suy luận logic , phân tích bài toán hợp lý để giải các bài toán mà nó chưa có sẵn dạng quen thuộc . Nếu có bài tập nâng cao thì làm xong bài nào chỉ biết có bà đó mà không biết cách suy luận để chuyển về những bài toán về dạng đã làm , đã giải , không biết mở rộng những bài toán đã làm - Sau khi áp dụng kinh nghiệm thì tôi thấy : + Học sinh vận dụng kiến thức nhanh vào giải toán . + Học sinh giải các bài toán từ cơ bản mở rộng lên những bài toán nâng cao chính xác và nhanh hơn . + Tạo điều kiện cho học sinh khả năng tư duy thành thói quen , suy nghĩ , phân tích nội dung và yêu cầu của bài toán một cách cẩn thận chính xác trước khi giải một bài toán nối riêng và các bài toán nói chung . + Tạo nếp suy nghĩ , nếp khai thác chiều sâu , hay mở rộng bài toán . + Tạo nếp tự học , độc lập suy nghĩ trong đại đa số học sinh , đồng thời có ý thức tham khảo ý kiến đồng nghiệp , các cách làm hay của các em để từ đó rút ra những lời giải hay trong quá trình giải toán . + Giúp học sinh say mê , hứng thú trong quá trình học tập bộ môn toán hơn và các môn học khác . Bên cạnh những thành công đó thì còn tồn tại một số hạn chế sau : Cách giải các bài toán chưa đa dạng , phong phú . Các bài toán đưa ra chưa thật sự điển hình .Giáo viên cần tìm hiểu thêm nhiều sách tham khảo hơn nữa . E : ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN SÁNG KIẾN G : KẾT LUẬN Việc đổi mới phương pháp dạy học theo chiều hướng tích cực , phát huy tính độc lập của học sinh không thể trong chốc lát mà là cả một quá trình lâu dài từng bước từ thấp đến cao . Mục tiêu cuối cùng là hướng dẫn cho học sinh nắm được nội dung kiến thức của từng tiết học , của từng chương , từng cấp học để học sinh giải các bài toán một cách chặt chẽ , có đủ cơ sở lý luận trong lời giải của mình , học toán và vận dụng toán học vào các bộ môn khác cũng như thực tế . Vấn đề sách tham khảo trường còn hạn chế chưa đáp ứng được nhu cầu của giáo viên và học sinh vì vậy cần đầu tư thêm về tài liệu học tập cũng như các thiết bị phục vụ cho công tác giảng dạy được tốt hơn , giáo viên chủ động trong công tác giảng dạy và học sinh chủ động trong việc học tập . Bản thân tôi cũng đã tham gia giảng dạy được vài năm nhưng kinh nghiệm chưa nhiều nên vẫn còn phải học tập nhiều ở các cô chú đi trước để đạt kết quả cao hơn trong công tác giảng dạy . Mặc dù vậy tôi cũng mạnh dạn đưa ra sáng kiến kinh nghiệm này và vận dụng vào trong giảng dạy và đã ít nhiều có kết quả đối với học sinh tôi được phân công giảng dạy . Rất mong được sự đóng góp ý kiến của các cấp quản lý chuyên môn , các đồng nghiệp để tôi hoàn thành sáng kiến này . Tôi xin chân thành cảm ơn ! Tứ Dân , ngày 10 tháng 1 năm 2010 Người viết §ç ThÞ H­¬ng NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA NHÀ TRƯỜNG NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA PHÒNG GIÁO DỤC

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Kinh Nghiệm Ôn Thi Học Sinh Giỏi Môn Tiếng Anh Lớp 9

đại trà trên lớp, việc bồi dưỡng học sinh giỏi các môn học nói chung và bộ môn

tiếng Anh nói riêng được Ban giám hiệu nhà trường THCS Bù Nho đặc biệt

quan tâm, số lượng học sinh của trường tham gia thi học sinh giỏi các cấp ngày

càng tăng. Tuy nhiên tỷ lệ học sinh đỗ chưa cao, chưa đạt theo mục tiêu mà nhà

trường đã đề ra.

Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy bộ môn tiếng Anh, những năm học

vừa qua tôi đã được nhà trường tín nhiệm, giao nhiệm vụ bỗi dưỡng học sinh

giỏi lớp 9, tôi đã trăn trở, học hỏi và nghiên cứu, tìm ra các phương pháp, kinh

nghiệm để làm sao giúp học sinh đỗ cao hơn trong các kỳ thi học sinh giỏi.

Trong năm học 2009 – 2010, 2010 – 2011 tôi đã mạnh dạn áp dụng các

phương pháp, kinh nghiệm mà tôi nghiên cứu trong năm học 2008 – 2009 vào

thực tế đối với các em học sinh giỏi lớp 9 thì kết quả đã khả quan hơn.

Do vậy hôm nay tôi viết sáng kiến kinh nghiệm này với mục đích là rút

kinh nghiệm cho chính minh, nghiên cứu khoa học và chia sẻ cùng các bạn

đồng nghiệp trong và ngoài nhà trường.

ifully Một số phương pháp, kinh nghiệm ôn thi học sinh giỏi môn tiếng Anh lớp 9 Người thực hiện: Nguyễn Đình Luyện 16 Ngoài ra giáo viên cũng cần phải nghiên cứu thật sâu từ cách thành lập từ trong tiếng anh Ví dụ giáo viên có thể dạy cho các em các hậu tố như less, ful, ment, ly...,và cách dùng của chúng. Ngoài ra trong các đề thi học sinh giỏi chúng thường gặp các bài về phát âm, trọng âm - Thông thường đối với các bài tập này người thầy phải dạy cho học sinh kiến thức cơ bản về âm học như các nguyên âm (vowels), phụ âm (consonants) cách đọc chúng, trong tiết học giáo viên thường phải cho các em đọc đúng, chính xác các từ vựng đã học. KINH NGHIỆM 2: XỬ LÝ CÁC BÀI TẬP TRÊN LỚP Đối tượng đa số các em là học sinh giỏi do vậy giáo viên thường xuyên làm các dạng bài tập này để các em rút kinh nghiệm qua từng bài tập. Đối với học sinh ở trường lớp 9 thì giáo viên nên soạn ra các loại bài tập riêng. Ví dụ khi dạy tới chuyên đề hình thức của động từ (verb forms) tôi cho các em làm các dạng bài tập sau. Dạng 1: Bài tập trắc nghiệm A. be B. being C. to be D. to have been A. to come B. come C. coming D. to have come A. to travel B. travel C. to have traveled D. traveling A. to learn B. learn C. learning D. to have learned A. work B. to work C. worked D. working A. cooking B. being cooked C. to cook D. to be cooked A. taking B. being taken C. to take D. to be taken A. do B. to do C. doing D. to have done A. go B. going C. to go D. to have gone Dạng 2: Bài tập tự luận Một số phương pháp, kinh nghiệm ôn thi học sinh giỏi môn tiếng Anh lớp 9 Người thực hiện: Nguyễn Đình Luyện 17 Dạng 3: Tìm lỗi sai 1. Have you finished to write your letter? 2. My mother is used to get up early. 3. My classmate has enjoyed to climbing in the mountains. 4. They requested us writing in ink. 5. Tom is not good at repair things. 6. He used to taking his childen to the fair. 7. The pupils keep to talk about their summer holiday. 8. You can't avoid to doing this work. 10. They asked their father repairing the toys for them. Dạng 4: Viết lại câu 1. He would prefer you to tell him a story. 2. Daisy likes to eat fish better than meat. 3. "Let's go for a walk in the park," said Ann. 4. I like detective stories. 5. They once started these machines by hand. 6 .They made him wait for two hours 7. They made her finish the test in one hour 8. I wish I had gone on holiday with my friend. 9. The children kept on talking about the animal shows at the circus last night. 10. At last he managed to open the door. KINH NGHIỆM 3: THỰC HÀNH LÀM CÁC ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI CỦA HUYỆN TỈNH. Hàng tháng giáo viên cho các em làm thử các đề thi học sinh giỏi của huyện hoặc tỉnh ở nhà, sau đó giáo viên cùng các em sửa bài. Trong quá trình sửa bài giáo viên thấy các em còn sai ở phần nào thì giáo viên nên giảng lại các phần các em còn sai qua đó các em sẽ nhớ lại các kiến thức đã được học. Một số phương pháp, kinh nghiệm ôn thi học sinh giỏi môn tiếng Anh lớp 9 Người thực hiện: Nguyễn Đình Luyện 18 VD: Tôi cho học sinh làm đề thi sau đây. UBND HUYỆN PHƯỚC LONG PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO -------------------------------------- Ghi chú: Đề thi này có 5 trang. KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI HUYỆN LỚP 9 THCS NĂM HỌC 2006-2007 Môn : Tiếng Anh Thời gian: 150 phút ( không kể thời gian giao đề) Ngày thi: sáng ngày 14-01-2007 Thí sinh làm bài trên phiếu trả lời ----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- A. being taken B. taking C. being taking D. took (Passive voice) A. while B. unless C. if D. since (unless = Trừ khi, urgent = khẩn cấp) A. were working B. worked C. had worked D. have been working A. know B. know C. have known D. has known A. hear B. was hearing C. heard D. had heard A. invent B. invented C. discover D. discovered (Passive voice) A. concerned B. surprised C. interesting D. interested Be interested in + N/V_ing A. into B. after C. over D. near Run after chạy theo A. worrying B. caring C. fearing D. bothering A. caught B. swept C. thrown D. swung - Sweep along cuốn theo - Be swept along bị cuốn theo - Current(n) luồng nước, dòng nước A. practicing B. training C. exercising D. doing A. load B. pile C. helping D. sharing - Helping (of sth) an amount of food given to sb at a meal (phần thức ăn đưa mời) - To take a third helping (lấy món ăn thứ ba) - She had two generous helpings of pie (cô ta ăn hai suất bánh nướng khá to) A. definite B. liquid C. fluent D. national A. scale B. staircase C. grade D. ladder A. Reach B. Arrive C. Take D. Come A. fall B. faint C. feel D. become ĐỀ THI CHÍNH THỨC Một số phương pháp, kinh nghiệm ôn thi học sinh giỏi môn tiếng Anh lớp 9 Người thực hiện: Nguyễn Đình Luyện 19 A. stopping B. staying C. leaning D. supporting Lean+ (against, on, upon) dựa, tựa, chống vào cái gì To lean against the wall Dựa vào tường A. How often B. How long C. How far D. How much A. intervals B. rest C. interruptions D. gaps Interval /'intəvəl/ Khoảng thời gian ngắn tách biệt các phần của một vở kịch, bộ phim, buổi hoà nhạc...; lúc giải lao - An interval of 15 minutes after the second act (giải lao 15 phút sau màn thứ hai) A. nephew B. cousin C. niece D. relation A. smiles B. laughters C. amusements D. Enjoyment A. exchanged B. turned C. removed D. change A. exchange B. turn C. alter D. arrange Exchange + money for money ( Đổi tiền gì ra tiền gì, đổi tiền gì ra được bao nhiên tiền gì) Ex: A pound can exchange for more than two dollars Một đồng bảng có thể đổi ra được hơn hai đô la Ex: I want to exchange dollars to Vietnam dong 24. The safety committee's report recommended that all medicines should be kept out of the ________ of children. A. hold B. hand C. reach D. grasp A. accustomed B. familiar C. unconscious D. aware A. except B. otherwise C. unless D. but A. then B. straight away C. immediately D. so A. skilled B. able C. possible D. fit A. for B. on C. at D. in houses. A. avoided B. excluded C. protected D. preserved A. break B. beat C. breathe D. cough A. vision B. view C. sight D. picture - Vision /'viʒn/ sự nhìn; sức nhìn, thị lực, khả năng của sự nhìn - View sự nhìn; tầm nhìn, tầm mắt The lake came into view/We came in view of the lake as we turned the corner quang cảnh + Enjoying the magnificent views from the summit, over the mountains + Đứng trên đỉnh núi ngắm cảnh vật hùng vĩ - Sight sức nhìn, thị lực; sự nhìn, khả năng nhìn, sự nhìn, sự trông; cách nhìn A. some B. lots C. any D. all A. was B. is C. were D. will be Một số phương pháp, kinh nghiệm ôn thi học sinh giỏi môn tiếng Anh lớp 9 Người thực hiện: Nguyễn Đình Luyện 20 A. does B. is C. did D. used to A. came B. will come C. would come D. would have come A. exact B. exactly C. exacting D. exacted A. likeness B. alike C. same D. the same A. why didn't you put your luggage under the seat? B. why you didn't put your luggage under the seat C. why did you put your luggage under the seat. D. why did you put your luggage under the seat? A. finish B. finished C. have finished D. will finish KỲ THI CHỌN HSG LỚP 9 - VÒNG TỈNH NĂM HỌC 2009-2010 Môn thi: TIẾNG ANH Phần IX: Hãy dùng từ gợi ý để viết lại mỗi câu sau sao cho nghĩa của câu không thay đổi. 91. When did you start learning English?  How long 92. The sister asked" Are you hungry, Tom?"  The sister 93. A lot of afford has been put in the work by the little girl.  The little girl 94. Smoking is not allowed in public.  You must 95. The work was hard enough for him to ask his friend for some help.  The work Answer keys 91. How long have you learnt English? 92. The sister asked Tom if he was hungry 93. the little girl has put a lot of effort in the work 94. You must not smoke in public/ you must stop smoking in public 95. The work was so hard that he asked his friends for some help. Đối với các đề thi học sinh giỏi các cấp giáo viên cần cho học sinh làm ở nhà sau đó tới lớp giáo viên sửa bài cho các em qua các đề thi học sinh giỏi các em có thể học được nhiều từ mới, ôn lại các kiến thức đã học. Các đề thi học sinh giỏi đòi hỏi giáo viên phải bỏ nhiều thời gian nghiên Một số phương pháp, kinh nghiệm ôn thi học sinh giỏi môn tiếng Anh lớp 9 Người thực hiện: Nguyễn Đình Luyện 21 sinh các kinh nghiệm sử dụng từ loại, từ vựng, các từ hay gây hiểu lầm, cấu trúc ngữ pháp đã được học. KINH NGHIỆM 4: ỔN ĐỊNH TÂM LÝ, CHUẨN BỊ TỐT KIẾN THỨC TRƯỚC CÁC CUỘC THI HỌC SINH GIỎI. Trước các cuộc thi học sinh giỏi thông thường tâm lý các em rất hồi hộp lo âu, bồn chồn. Nếu các em quá hồi hộp hoặc lo lắng sẽ rất ảnh hưởng tới kết quả thi: Do vậy giáo viên cần chuẩn bị tốt tâm lý cho các em : như động viên, khích lệ, hỏi han. Giáo viên cần truyền đạt cho các em mẹo làm bài trắc nghiệm như dùng phương pháp loại trừ, từ gần nghĩa, đồng nghĩa... C. KẾT QUẢ CỤ THỂ: Sau quá trình áp dụng các phương pháp trên, học sinh của trường tham gia dự thi các kỳ thi chọn học sinh giỏi các cấp tăng cả về chất lượng lẫn số lượng. Kết quả của học sinh do tôi ôn tập đã phát triển theo chiều hướng đi lên mỗi năm một tăng và có kết quả đáng khích lệ. Cụ thể như sau: Năm học 2008 - 2009 tôi có 4 học sinh dự thi Vòng huyện, vòng tỉnh không có em nào đậu Năm học 2009 - 2010 tôi có 4 em tham dự kỳ thi học sinh giỏi vòng huyện các em đạt 1 em giải 3, 1 em giải khuyến khích. Vòng tỉnh 1 em giải nhì, 1 em giải ba. Năm học 2010 - 2011 tôi có 6 em tham gia học sinh giỏi vòng huyện theo kết quả chính thức tôi có 5 em học sinh đỗ vòng huyện trong đó 1 em đạt điểm cao nhất huyện với số điểm 83 / 100 điểm; 2 em đạt 77 / 100 điểm; 2 em đạt 54 / 100 điểm qua đó 3 em được tham gia thi học sinh giỏi vòng tỉnh vào tháng 3 năm 2011. D. BÀI HỌC KINH NGHIỆM: Từ việc tìm ra một số phương pháp, kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi trong công tác giảng dạy của chính mình và cùng trao đổi ý kiến với các Một số phương pháp, kinh nghiệm ôn thi học sinh giỏi môn tiếng Anh lớp 9 Người thực hiện: Nguyễn Đình Luyện 22 giáo viên đồng nghiệp trong tổ bộ môn tôi đã mạnh dạn áp dụng giải pháp này với kết quả ban đầu tuy chưa cao nhưng bản thân tôi rút ra được kinh nghiệm cho bản thân là: - Trong mỗi bài học giáo viên cho học sinh thực hành nhiều hơn với các mẫu câu thực tế, các đề thi cấp huyện tỉnh, các bài tập về nhà cần phong phú. Ngoài ra giáo viên cần giúp các em tìm thêm các loại sách tham khảo từ cơ bản đến nâng cao. - Giáo viên cần lựa chọn thủ thuật phù hợp với nội dung từng mảng kiến thức cần truyền đạt cho các em. Tạo không khí "học mà chơi, chơi mà học" lồng ghép tìm kiếm cấu trúc khó, các từ mới trong các bài hát tiếng Anh để giúp các em vừa giải trí vừa học. - Khi kiểm tra việc nắm vững bài của học sinh giáo viên cũng cần tìm hiểu, đánh giá xem các em có sử dụng được cấu trúc ngữ pháp mới đúng ngữ âm,và đúng nghĩa hay không. - Có nhiều cách kiểm tra việc hiểu bài của học sinh , tuy vậy, giáo viên có thể áp dụng một hay vài thủ thuật sao cho phù hợp với nội dung của cấu trúc, thời, thể của động từ, số của danh từ . Tuy rằng một số phương pháp, kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi có chút hiệu quả ban đầu trong phạm vi áp dụng của lớp 9, sẽ không tránh khỏi một vài hạn chế nhất định. Tôi rất mong sự đóng góp ý kiến nhiệt tình của tổ bộ môn ban giám hiệu, các cấp lãnh đạo để giải pháp của tôi có thể áp dụng rộng rãi hơn không những trong trường mà còn có thể ngoài trường trong thời gian sắp tới. E. KẾT LUẬN: Là giáo viên trực tiếp giảng dạy, có lẽ tất cả chúng ta đều mong học sinh của mình học giỏi. Thế nhưng việc bồi dưỡng học sinh giỏi quả thật không phải là công việc dễ dàng, nhưng tôi tin rằng với tấm lòng yêu nghề mến trẻ, chịu khó, ham học hỏi, tất cả chúng ta đều có thể làm được, bởi lẽ trong mỗi chúng ta chắc hãy còn nhớ lời dạy của Bác Hồ: Một số phương pháp, kinh nghiệm ôn thi học sinh giỏi môn tiếng Anh lớp 9 Người thực hiện: Nguyễn Đình Luyện 23 "Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền, đào núi và lấp biển, quyết chí ắt làm nên". Tất cả chúng ta cần quan tâm hơn nữa đối với học sinh có học lực giỏi môn Tiếng Anh, kịp thời phát hiện những "hạt giống tốt" để có kế hoạch bồi dưỡng. Chúng ta không ngừng trao dồi chuyên môn, trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp để ngày càng có được những phương pháp phù hợp hơn trong việc bồi dưỡng học sinh của mình. Thực tế sau khi áp dụng phương pháp khoa học thành công ở lớp 9, tôi rất mong muốn phương pháp khoa học này sắp tới có thể phổ biến rộng rãi hơn trong tât các cả khối của trường nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ học sinh giỏi của trường. Tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu bổ sung những thiếu sót, hoàn thiện những ưu việt của phương pháp hơn và có hướng phổ biến phương pháp này không những ở khối 9 tại đơn vị trường THCS Bù Nho nơi tôi đang giảng dạy mà có thể là trong toàn huyện hoặc toàn tỉnh. Tôi chân thành cảm ơn sự đóng góp ý kiến nhiệt tình của các cấp lãnh đạo và các bạn đồng nghiệp. có thể cùng chia sẻ với các bạn đồng nghiệp về những phương pháp dạy bồi dưỡng học sinh giỏi, nhằm góp phần làm cho danh hiệu học sinh giỏi Tiếng Anh cấp huyện, cấp tỉnh được nhìn thấy ngày càng nhiều ở các trường, nhằm giúp các em có thể học giỏi và đạt thành tích cao trong việc học Tiếng Anh, bởi lẽ Tiếng Anh đóng một vai trò rất quan trọng trong thời kỳ hội nhập của nước ta hiện nay. Bù Nho Ngày 20 tháng 01 năm 2011 Người viết Nguyễn Đình Luyện Một số phương pháp, kinh nghiệm ôn thi học sinh giỏi môn tiếng Anh lớp 9 Người thực hiện: Nguyễn Đình Luyện 24 PHỤ LỤC A. MỞ ĐẦU: 1 I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: 1 II. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU. 1 III. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ: 1 B. NỘI DUNG. 1 I. CƠ SỞ LÝ LUẬN: 1 II. KẾ HOẠCH THỰC HIỆN: 2 III. GIẢI PHÁP: 2 IV. MỘT SỐ KINH NGHIỆM 7 Kinh nghiệm 1: Tích hợp kiến thức thu thập và sắp xếp kiến thức. 7 Kinh nghiệm 2: Sử lý các bài tập trên lớp 15 Kinh nghiệm 3: Thực hành làm các đề thi học sinh giỏi của huyện tỉnh. 16 Kinh nghiệm 4: Ổn định tâm lý, chuẩn bị tốt kiến thức trước các cuộc thi học sinh giỏi. 19 C. KẾT QUẢ CỤ THỂ: 20 D. BÀI HỌC KINH NGHIỆM: 20 E. KẾT LUẬN: 21 Một số phương pháp, kinh nghiệm ôn thi học sinh giỏi môn tiếng Anh lớp 9 Người thực hiện: Nguyễn Đình Luyện 25 Ý KIẾN NHẬN XÉT, XẾP LOẠI CỦA TỔ CHUYÊN MÔN Ý KIẾN NHẬN XÉT, XẾP LOẠI CỦA HĐKH TRƯỜNG THCS BÙ NHO Ý KIẾN NHẬN XÉT, XẾP LOẠI CỦA HĐKH PHÒNG GIÁO DỤC Một số phương pháp, kinh nghiệm ôn thi học sinh giỏi môn tiếng Anh lớp 9 Người thực hiện: Nguyễn Đình Luyện 26

Bạn đang xem bài viết Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Vài Kinh Nghiệm Để Nâng Cao Hiệu Quả Một Tiết Dạy Học Môn Địa Lý 8 Theo Phương Pháp Đổi Mới trên website Maiphuongus.net. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!