Xem Nhiều 2/2023 #️ “Một Số Phương Pháp Rèn Luyện Kỹ Năng Biểu Đồ Địa Lý Lớp 9” # Top 4 Trend | Maiphuongus.net

Xem Nhiều 2/2023 # “Một Số Phương Pháp Rèn Luyện Kỹ Năng Biểu Đồ Địa Lý Lớp 9” # Top 4 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về “Một Số Phương Pháp Rèn Luyện Kỹ Năng Biểu Đồ Địa Lý Lớp 9” mới nhất trên website Maiphuongus.net. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

A. ĐẶT VẤN ĐỀ.

Địa lý là một môn khoa học có phạm trù rộng lớn và có tính thực nghiệm. Nó không chỉ dừng lại ở việc mô tả các sự việc và hiện tượng địa lý xẩy ra trên bề mặt Trái Đất mà còn tìm cách giải thích, phân tích, so sánh, tổng hợp các yếu tố địa lý, cũng như thấy được mối quan hệ giữa chúng với nhau. Mặt khác nó còn góp phần phát hiện, khai thác, sử dụng, bảo vệ và cải tạo tài nguyên thiên nhiên, môi trường một cách hợp lý nhằm góp phần tích cực vào việc xây dựng kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh nước nhà.

Vì Vậy việc dạy học địa lý theo phương pháp dạy học tích cực hiện nay, việc rèn luyện kỹ năng địa lý cho học sinh là việc rất cần thiết không thể thiếu được cho mỗi bài học, tiết học và xuyên suốt toàn bộ chương trình dạy và học địa lý ở các cấp học đặc biệt là cấp Trung học cơ sở (THCS ).

          Việc rèn luyện kỹ năng địa lý tốt cho các em giúp học sinh chủ động nắm bắt kiến thức, hiểu bài sâu hơn, phát huy được trí thông minh sáng tạo và hình thành phương pháp học tập bộ môn tốt hơn .

          Kỹ năng địa lý ở THCS gồm nhiều loại như kỹ năng bản đồ, biểu đồ, kỹ năng phân tích nhận xét tranh ảnh, nhận xét giải thích bảng số liệu, kỹ năng so sánh phân tích tổng hợp…

          Hiện nay, ở các trường THCS một số giáo viên dạy địa lý mới ra trường còn rất lúng túng trong việc rèn luyện kỹ năng địa lý cho các em. Đặc biệt đối với học sinh thì việc rèn luyện kỹ năng địa lý chưa hình thành thói quen thường xuyên và các em còn gặp nhiều khó khăn khi rèn luyện kỹ năng biểu đồ.

Từ kinh nghiệm bản thân qua nhiều năm giảng dạy địa lý và qua thực tế dự giờ đồng nghiệp, kết hợp với việc nghiên cứu các tài liệu tôi muốn viết lên: “Một số phương pháp rèn luyện kỹ năng biểu đồ địa lý lớp 9” trong đề tài này. Theo cá nhân tôi nhận thấy, việc rèn luyện kỹ năng biểu đồ cho học sinh gồm: kỹ năng đọc biểu đồ, kỹ năng vẽ biểu đồ, kỹ năng nhận xét, giải thích biểu đồ,…Từ đó sẽ giúp học sinh hiểu và khai thác được một cách dễ dàng động thái phát triền của một hiện tượng, mối quan hệ về độ lớn giữa các đối tượng hoặc cơ cấu thành phần của một tổng thể.

Mục đích chính của đề tài là giúp cho việc dạy và học địa lý lớp 9 trở nên dễ dàng và có hiệu qủa hơn qua việc rèn luyện kỹ năng biểu đồ. Đây là cơ sở tốt để các em học lên THPT và ra trường  trở thành người lao động mới.

Đồng thời qua đề tài này, tôi cũng muốn giúp một số giáo viên mới ra trường còn lúng túng trong việc rèn luyện kỹ năng biểu đồ cho học sinh sẽ biết cách đọc, vẽ, nhận xét và giải thích biểu đồ nhất là các học sinh lớp 9, để giúp các em học tập có hiệu quả hơn, đặc biệt là các em tham gia đội tuyển học sinh giỏi địa lý.

Rèn luyện kỹ năng biểu đồ địa lý cho học sinh bậc THCS nói chung và đặc biệt trọng tâm vào học sinh khối 9.

 Đề tài xây dựng trong phạm vi chương trình địa lý lớp 9 ở bậc THCS.

* Muốn rèn luyện kỹ năng biểu đồ địa lý cho học sinh lớp 9 thì việc đầu tiên phải rèn cho hoc sinh kỹ năng đọc, hiểu biểu đồ, kỹ năng vẽ biểu đồ, kỹ năng nhận xét, giải thích biểu đồ.

* Kỹ năng biểu đồ xuất phát từ tri thức vì vậy việc dạy tri thức tối thiểu về biểu đồ là rất cần thiết.

* Tri thức biểu đồ giúp các em giải mã được các hình vẽ như đường, cột, hình quạt, miền….hoặc những con số khô cứng trong biểu đồ trở nên sống động và có ý nghĩa. Đồng thời giúp các em xác lập được mối quan hệ giữa các con số, các đường, các cột… trong biểu đồ. Từ đó phát hiện ra các kiến thức địa lý mới ẩn tàng trong biểu đồ. Tất nhiên ở đây chỉ có những tri thức biểu đồ là chưa đủ mà cần phải có cả những tri thức địa lý khác.

          Theo một nhà địa lý học nổi tiếng nói: “Khi biểu đồ là đối tượng học tập thì kiến thức, kỹ năng biểu đồ là mục đích. Còn khi biểu đồ là nguồn tri thức thì kiến thức và kỹ năng biểu đồ trở thành phương tiện của việc khai thác tri thức địa lý mới trên biểu đồ”.

Qua thực tế giảng dạy nhiều năm kết hợp với kiểm nghiệm, đối chứng giữa các tiết dạy có rèn luyện kỹ năng biểu đồ và các tiết dạy không rèn luyện kỹ năng biểu đồ, giữa lớp dạy có rèn luyện kỹ năng biểu đồ và lớp dạy không rèn luyện kỹ năng biểu đồ cho thấy những kết quả hết sức khác nhau.

          Tôi thường xuyên thăm lớp, sự giờ đồng nghiệp với mục đích học tập kinh nghiệm và giúp đỡ đồng nghiệp trong việc rèn luyện kỹ năng biểu đồ nói riêng và kỹ năng địa lý nói chung. Đồng thời thăm nắm sở thích và khả năng hiểu biết kiến thức của học sinh khi học địa lý có rèn kỹ năng biểu đồ. Đặc biệt nghiên cứu việc rèn luyện kỹ năng biểu đồ cho học sinh của đồng nghiệp được tiến hành như thế nào và mang lại kết quả ra sao.

LỚP

Sĩ số

GIỎI

KHÁ

TB

YẾU

KÉM

SL

TL%

SL

TL%

SL

TL%

SL

TL

SL

TL%

9A

(không áp dụng)

30

9

30

15

50

4

13.3

2

6.7

0

0

9B

(Áp dụng)

33

20

60.6

10

30.3

3

9.1

0

0

0

0

B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

   Đất nước ta ngày càng phát triển mạnh mẽ từ một nền kinh tế nông nghiệp nay chuyển sang nền kinh tế công nghiệp. Trước sự phát triển đó đòi hỏi ngành Giáo dục- Đào tạo phải đổi mới phương pháp dạy học nhằm mục đích đào tạo con người mới, năng động sáng tạo, những chủ nhân khoa học tương lai của đất nước, phù hợp xu thế phát triển đi lên của đất nước .

   Mục tiêu của Giáo dục Việt Nam là “Hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực của công dân Việt Nam, tự chủ, năng động, sáng tạo có kiến thức văn hóa, khoa học công nghệ, có kĩ năng nghề nghiệp, có sức khỏe, có niềm tin và lòng tự hào dân tộc, có ý chí vươn lên, có khả năng tự học, tự rèn, biết vận dụng lý thuyết vào thực tiễn cuộc sống đáp ứng nhu cầu xây dựng và phát triển đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa ”.

   Để đạt được mục tiêu đó, ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường học sinh phải luyện khả năng suy nghĩ, hoạt động một cách tự chủ, năng động và sáng tạo. Giáo viên cần từng bước áp dụng phương tiện dạy học tiên tiến hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo thời gian tự học  và tự nghiên cứu cho học sinh để các em biết ứng dụng những điều đã học vào thực tế.

Để giảng dạy địa lý theo phương pháp dạy học tích cực thì việc rèn luyện kỹ năng biểu đồ cho học sinh là một việc rất quan trọng, đặc biệt đối với học sinh lớp 9 vì biểu đồ có chứa dựng nhiều nội dung kiến thức mà kênh chữ không biểu hiện hết. Rèn luyện kỹ năng biểu đồ địa lý cho học sinh lớp chín giúp các em hiểu và nắm bắt kiến thức một cách có hiệu quả hơn, chủ động hơn, nhớ kiến thức lâu hơn. Bên cạnh đó, còn rèn cho học sinh khả năng tư duy logic, kỹ năng so sánh các đối tượng địa lý và rèn cho học sinh  tính tỉ mỉ, cẩn thận, chính xác trong việc học

địa lý từ đó giúp các em yêu thích bộ môn hơn, say mê nghiên cứu khoa học địa lý.

   Việc rèn luyện kỹ năng biểu đồ địa lý cho học sinh lớp 9 còn có khả năng bồi dưỡng cho học sinh thế giới quan duy vật biện chứng, bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu cho học sinh giúp cho bộ môn địa lý bớt khô cứng, đồng thời giúp người thầy có điều kiện để phối hợp nhiều phương pháp dạy học và các hình thức dạy học đa dạng, hiệu quả hơn, nâng cao khả năng tư duy và khả năng độc lập sáng tạo của học sinh. Dựa vào biểu đồ người thầy có thể nêu ra những vấn đề cho học sinh suy nghĩ, nhận thức, phát triển tư duy địa lý và khai thác những nét đặc trưng quan trọng của địa lý.

   Khi rèn kỹ năng biểu đồ cho học sinh tốt thì những con số, những cột, đường, miền…. không còn bị khô cứng mà trở nên sống động giúp học sinh có thể phán đoán, suy xét sự phát triển hoặc không phát triển của một ngành, một lĩnh vực địa lý hoặc cả một nền kinh tế của một đất nước.

   – Trường hiện nay đã có những giáo viên chuyên bộ môn Địa lý nên không còn tình trạng dạy chéo phân môn.

   – Ngoài ra trường được trang bị đầy đủ các thiết bị, bản đồ lược đồ treo tường… và các thiết bị công nghệ hỗ trợ cho việc giảng dạy.

Những yếu tố trên tạo điều kiện cho việc dạy và học Địa lý trở nên dễ dàng và hiệu quả hơn.

           – Học sinh chưa có nhu cầu nhận thức, chưa chủ động tìm tòi, suy nghĩ và giải quyết những vấn đề đặt ra trong bài học.

– Chế độ thi cử còn chia ra các môn “chính- phụ” là những trở ngại lớn.

– Nhiều giáo viên chưa tâm huyết với nghề nghiệp, chưa đầu tư nhiều vào chuyên môn

    - Hầu hết các em học  mang tính chất đối phó, thụ động, học Địa lý nhưng chưa hiểu để làm gì, ứng dụng vào lĩnh vực nào của cuộc sống. Nói như vậy có nghĩa là học sinh chưa hiểu được vai trò, vị trí, tầm quan trọng của  bộ môn, phần vì giáo viên có lẽ chưa tạo được tình cảm yêu mến bộ môn cho các em, phần vì nhiều phụ huynh cũng có cùng quan niệm với các em.

   Trong việc học tập địa lý có rất nhiều loại biểu đồ nhưng trong nội dung đề tài này tôi chỉ xin nêu ra các bước hướng dẫn rèn kỹ năng biểu đồ trong nội dung chương trình địa lý lớp chín THCS mà Bộ giáo dục đã ban hành như: Biểu đồ đường, biểu đồ cột,biểu đồ thanh ngang, biểu đồ kết hợp giữa cột và đường, biểu đồ tròn, biểu đồ miền.

* Rèn kỹ năng đọc biểu đồ :

– Đọc tên biểu đồ để  biết được nội dung của biểu đồ.

– Đọc bảng chú giải để biết cách thể hiện nội dung của biểu đồ.

– Căn cứ vào bảng chú giải và nội dung thể hiện của biểu đồ để hiểu từng nội dung của biểu đồ và mối quan hệ giữa các nội dung địa lý trên biểu đồ.

*Rèn luyện kỹ năng vẽ biểu đồ :

Trước khi vẽ biểu đồ cần viết tên biểu đồ một cách chính xác.

– Vẽ trục tọa độ: Trục dọc biểu thị đối tượng địa lý nào? Trục ngang biểu thị đối tượng địa lý nào?

– Dựa vào trục dọc và trục ngang để biểu thị các đối tượng địa lý dưới dạng đường, cột, miền….theo yêu cầu của đề bài.

– Vẽ biểu đồ xong cần chú ý chú giải cho biểu đồ.

Nhận xét :

Sự tăng (giảm) đối với biểu đồ đường.

Sự giảm (tăng) đối với biểu đồ cột, so sánh giữa các cột.

– Biểu đồ tròn cần nhận xét độ lớn (nhỏ) của hình quạt, nếu biểu đồ nhiều  hình tròn thì nhận xét tăng (giảm) của đối tượng địa lý.

– Biểu đồ miền thì nhận xét theo hàng ngang, rồi đến hàng dọc.

* Cách đọc :

– Đọc tên biểu đồ để biết được nội dung của biểu đồ.

– Đọc bảng chú giải (nếu có).

– Đọc hiểu các đối tượng địa lý trên biểu đồ.

* Cách vẽ biểu đồ :

– Vẽ trục tọa độ :

   +  Trục tung thể hiện đơn vị.

   + Trục hoành biểu thị thời gian (cần chính xác cao).

– Đường biểu diễn là đường nối các tọa độ đã được xác định bởi trục thời gian và trục đơn vị (Chấm như xác định tọa độ điểm A, điểm B trong toán học nhưng không có chấm ngang từ trục đến điểm A hay điểm B như trong toán học).

Chú ý : Chỉ nên chấm nhẹ (Không đậm, không to quá, và trên hoặc dưới các chấm ghi giá trị của từng năm tương ứng (ghi số)).

– Ghi tên biểu đồ : Có thể trên hay dưới biểu đồ đều được nhưng nên ghi trên biểu đồ để không bị quên.

– Nếu có hai đường biểu đồ trở nên, phải vẽ hai đường phân biệt (vẽ  nhánh khác nhau) và có ghi chú theo đúng thứ tự đề bài giao cho.

* Cách nhận xét, giải thích :

– Trường hợp biểu đồ chỉ có một đường :

– So sánh số liệu năm đầu và năm cuối có trong bảng số liệu để trả lời câu hỏi: Đối tượng cần nghiên cứu tăng hay giảm? Nếu tăng (giảm) thì tăng (giảm) bao nhiêu? (Lấy số liệu năm cuối trừ đi số liệu năm đầu hay chia xem gấp bao nhiêu lần cũng được).

– Xem đường biểu diễn đi lên (tăng) có liên tục hay không liên tục (năm nào không liên tục). Nếu liên tục thì giai đoạn nào tăng nhanh, giai đoạn nào tăng chậm. Nếu không liên tục thì năm nào không còn liên tục.

    * Trường hợp có hai đường trở lên :

    – Ta nhận xét từng đường một giống như trên theo đúng thứ tự trong bảng số liệu cho: Đường A trước, rồi đến đường B, rồi đường C và đường D.

    – Sau đó chúng ta tiến hành so sánh, tìm mối liên hệ giữa các đường biểu diến.

* Ví dụ :

Ví dụ một: Loại biểu đồ đồ thị đơn

Vẽ đồ thị biểu hiện sự tăng trưởng diện tích lúa ở Đồng bằng Sông Cửu Long (đơn vị : triệu ha).

Năm

1990

1992

1993

1995

1996

2002

Diện tích

2,58

2,92

3,00

3,20

3,44

3,83

Hướng dẫn :

Cách vẽ :

– Bước 1: Vẽ trục tọa độ .

-  Trục dọc biểu thị triệu ha.

 - Trục ngang biểu thị số năm .

 - Chú ý: Lấy năm 1990 trùng với trục tung.

– Bước 2 :

 - Chú ý khoảng cách các năm.

– Đường biểu diễn là đường nối các tọa độ đã được xác định bởi trục thời gian    và trục đơn vị.

Bước 3 : Viết tên biểu đồ.

Bước 4. Lập bảng chú giải.

* Biểu đồ :

Hình 1 :Đồ thị biểu hiện sự tăng trưởng diện tích lúa ở Đồng bằng Sông Cửu Long từ năm 1990 đến 2002.

Nhận xét :

Diện tích trồng lúa của Đồng bằng sông Cửu Long ( ĐBSCL) tăng

    liên tục từ năm 1990 đến 2002 tăng 1,25 triệu ha.

Ví dụ hai :  Đối với dạng biểu đồ có từ 2 hay nhiều đường biểu diễn trở lên cần thận trọng khi lựa chọn mốc thang giá trị trên trục tung một cách hợp lý để khi vẽ các đường biểu diễn không bị sít vào nhau; còn đối với mốc thời gian ở trục hoành  cần  phải  đảm bảo tương ứng với tỷ lệ khoảng cách năm và luôn được tính theo chiều từ trái sang phải.

*Tóm tắt những tiêu chí chủ yếu để đánh giá kỹ năng vẽ và nhận xét biểu đồ đường biểu diễn:

1. Lựa chọn đúng loại biểu đồ.

2. Hệ trục tọa độ:   – Đảm bảo phân chia các mốc chính xác

– Ghi đơn vị ở đầu 2 trục – Có mũi tên chỉ chiều phát triển ở đầu 2 trục – Mốc thời gian sớm nhất được đặt tại gốc tọa độ.      

3. Các đường biểu diễn : – Có ký hiệu phân biệt các điểm và đường.

– Có các đường nét mờ chiếu dọc và ngang ứng với tọa độ từng điểm

– Ghi số liệu giá trị trên các điểm nút của đường

4. Chú thích tên thành phần trên biểu đồ đường hoặc có bảng chú giải và ghi đầy đủ tên biểu đồ (Thể hiện vấn đề gì, ở đâu, thời gian nào?).

5. Hình vẽ và chữ viết phải đẹp và rõ ràng.

6. Nhận xét, phân tích tốt, đảm bảo đủ ý, sát yêu cầu bài tập thực hành.   

* Cách đọc biểu đồ :

Đọc tên biểu đồ để biết được nội dung của biểu đồ.

Đọc bảng chú giải (nếu có).

Đọc hiểu các đối tượng địa lý được biểu hiện trên biểu đồ.

Cách vẽ biểu đồ: Cần lưu ý một số điểm như sau :

Đánh số đơn vị trên trục tung phải cách đều nhau và đầy đủ (Tránh ghi

      lung tung không cách đều).

Vẽ đúng trình tự bài cho không được tự ý sắp xếp từ thấp đến cao hay

       ngược lại. Trừ khi đề bài yêu cầu sắp xếp lại.

Cột đầu tiên phải cách trục tung ít nhất là một đến hai dòng kẻ (Không vẽ dính như biểu đồ đồ thị).

Độ rộng (bề ngang) các cột phải đều nhau.

Nên ghi số lượng trên đầu mỗi cột để dễ so sánh và nhận xét. Số ghi phải rõ ràng ngay ngắn.

* Cách nhận xét :

Trường hợp cột đơn (Chỉ có một yếu tố) :

Xem xét năm đầu và năm cuối của bảng số liệu để trả lời câu hỏi tăng hay giảm và tăng giảm bao nhiêu? Lấy số liệu năm cuối trừ đi số liệu năm đầu hay chia cũng được.

Xem số liệu trong khoảng trong để trả lời tiếp là tăng (hay giảm) liên tục hay không liên tục? (Lưu ý năm nào không liên tục).

 Nếu liên tục thì cho biết giai đoạn nào nhanh, giai đoạn nào chậm. Nếu không liên tục thì năm nào không còn liên tục.

Trường hợp cột đôi, ba (Có từ hai yếu tố trở nên).

Nhận xét từng yếu tố một : giống như trường hợp một yếu tố (cột đơn).

Ví dụ :

              Ví dụ 1 : Biểu đồ cột đơn:

Vẽ biểu đồ cột độ che phủ rừng của các tỉnh Tây Nguyên năm 2003

Các tỉnh

Kon Tum

Gia Lai

Đắk Lắk

Lâm Đồng

Độ che phủ rừng (%)

64,0

49,2

50,2

63,5

Hướng dẫn :

Cách vẽ :

Vẽ trục tọa độ:

– Trục dọc biểu thị độ che phủ (%).

– Trục ngang là các địa phương.

Cột đầu tiên phải cách trục tung từ một đến hai đường kẻ.

Vẽ đúng trình tự bài cho, bề ngang các cột phải bằng nhau.

Ghi số lượng trên đầu các cột để dễ so sánh.

Viết tên biểu đồ

Biểu đồ :

Hình 3: Biểu đồ cột độ che phủ rừng của các tỉnh Tây Nguyên năm 2003

Nhận xét :

Độ che phủ rừng của các tỉnh Tây Nguyên cao nhất là Kon Tum 64%, thứ hai là Lâm Đồng 63,5%, thứ ba là Đắk Lắk 50,2% và thấp nhất là 49,2%.

Chênh lệch giữa tỉnh cao nhất và tỉnh thấp nhất về độ che phủ rừng của Kon Tum và Gia Lai là: 14,8%.

Ví dụ 2: Biểu đồ cột kép :

Dựa vào bảng 18.1 vẽ biểu đồ hình cột và nhận xét về giá trị sản xuất công nghiệp ở hai tiều vùng Đông Bắc và Tây Bắc.

Bảng 18.1: Giá trị sản xuất công nghiệp ở Trung Du và miền núi Bắc Bộ

(đơn vị tỉ đồng).

Năm

Tiểu vùng

1995

2000

2002

Tây Bắc

320,5

541,1

696,2

Đông Bắc

6179,2

10657,7

14301,3

Hướng dẫn :

Cách vẽ:

Bước 1: Vẽ hệ trục tọa độ:

Trục tung đơn vị ( tỉ dồng).

Trục hoành: (năm).

Bước 2:Tiến hành vẽ theo năm: năm 1995 sau đó đến năm 2000 – 2002. Dùng kí hiệu riêng để phân biệt hai tiểu vùng Đông Bắc và Tây Bắc.

Bước 3: Viết tên biểu đồ.

Bước 4 : Lập bảng chú giải.

Biểu đồ :

Hình 4 :Giá trị sản xuất công nghiệp ở Trung du và miền núi Bắc Bộ  qua các năm 1995, 2000, 2002.

Nhận xét :

Giá trị sản xuất công nghiệp ở hai vùng Đông Bắc và Tây Bắc đều liên tục tăng năm 2002.

Từ 1995 – 2002 giá trị sản xuất công nghiệp ở hai tiều vùng Đông Bắc và Tây Bắc đều liên tục tăng 2002.

-  Đông bắc tăng gấp 2,17 lần so với năm 1995.

– Tây Bắc tăng gấp 2,3 lần so với năm 1995.

Giá trị sản xuất công nghiệp ở tiểu vùng Đông Bắc luôn cao hơn giá trị sản xuất công nghiệp ở Tây Bắc.

Năm 1995 gấp 19,3 lần.

Năm 2000 gấp 19,7 lần.

Năm 2002 gấp 20,5 lần.

Ví dụ 5: Dạng đặc biệt với số phần trăm và có tổng là 100% còn gọi là cơ cột cơ cấu hay cột chồng.

Bảng 8.4. Cơ cấu giá trị sản xuất ngành chăn nuôi (%)

Năm

Tổng số

Gia súc

Gia cầm

Sản phẩm trứng, sữa

Phụ phẩm chăn nuôi

1990

100

63,9

19,3

12,9

3,9

2002

100

62,8

17,5

17,3

2,4

Hướng dẫn :

Cách vẽ :

Bước 1: Vẽ trục tọa độ :

                        – Trục dọc biểu thị phần trăm.

                        -  Trục ngang biểu thị năm.

Bước 2: Vẽ hai cột năm 1990 và 2002 đều là 100%.

 Bước 3:Chi tỷ lệ phần trăm từng cột theo số lượng trong bảng.

Bước 4: Ghi tên biểu đồ.

Bước 5: Chú giải: Mỗi ngành một ký hiệu khác nhau.

Biểu đồ :

Hình 5 :Biểu đồ cơ cấu giá trị sản xuất.

Nhận xét :

Cả hai năm 1990 và 2002 ngành chăn nuôi gia súc có giá trị sản xuất

lớn nhất, sau đó đến chăn nuôi gia cầm, thứ ba là sản phẩm trứng sữa, thấp nhất là phụ phẩm chăn nuôi.

Từ năm 1990 – 2002 giá trị sản xuất ngành chăn nuôi gia súc giảm 1,1%, ngành chăn nuôi gia cầm giảm 1,8%, ngành sản phẩm trứng sữa tăng 4,4%, ngành phụ phẩm chăn nuôi giảm 1,1%.

Cách vẽ :

Tương tự biểu đồ cột chỉ khác là trục dọc thường biểu thị các vùng, trục ngang biểu thị đơn vị.

Khi đề bài yêu cầu cụ thể vẽ biểu đồ thanh ngang hoặc khi đề bài yêu cầu vẽ biểu đồ cột. Nếu có các vùng kinh tế chúng ta chuyển qua vẽ biểu đồ thanh ngang để việc ghi tên vùng dễ dàng và đẹp hơn.

Lưu ý : Khi vẽ biểu đồ thanh ngang cần xếp thứ tự các vùng kinh tế từ Bắc đến Nam.

Ví dụ 6 :

Vẽ biểu đồ lực lượng lao động ở các vùng kinh tế nước ta năm 1996.

                                                                             (Đơn vị : Nghìn người)

Vùng kinh tế

Lực lượng lao động

Miền núi và trung du phía Bắc

6,433

Đồng bằng sông Hồng

7,383

Bắc Trung Bộ

4,664

Duyên hải Nam Trung Bộ

3,805

Tây Nguyên

1,442

Đông Nam Bộ

4,391

Đồng bằng sông Cửu Long

7,748

Biểu đồ :

        

Hình 6 : Biểu đồ lực lượng lao động ở các vùng kinh tế nước ta năm 1996

Nhận xét

Cách nhận xét tương tự như biểu đồ cột.

Cách đọc biểu đồ :

Cần đọc tên biểu đồ để biết nội dung của biểu đồ.

Đọc để hiểu bảng chú giải.

Đọc để hiểu hai trục dọc, mỗi trục dọc biểu thị đơn vị nào.

Đọc trục ngang biểu thị yếu tố nào?

Đọc nội dung biểu đồ để biết biểu đồ cột thể hiện gì? Biểu đồ đường thể hiện gì?

Cách vẽ :

* Biểu đồ có hai trục đơn vị.

Ta có thể chọn một trong hai cách vẽ : một vẽ biểu đồ cột và một vẽ biểu đồ đồ thị nhưng chia tỉ lệ sao cho  để hạn chế sự dính nhau giữa cột và đường. Tốt nhất nên vẽ đường cao hơn cột.

Tọa độ đường nằm giữa cột vì thế vẽ cột trước xong mới vẽ đường.

* Cách nhận xét : Các bước nhận xét giống như biểu đồ cột và đồ thị.

* Ví dụ  7:

Vẽ biểu đồ biểu hiện sự tăng dân số và tỷ lệ gia tăng tự nhiên của dân số nước ta từ năm 1954 đến 2003 theo bảng số liệu sau :

Năm

1954

1960

1965

1970

1976

1979

1989

1999

2003

Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên(%)

1,1

3,9

2,9

3,3

3,0

2,5

2,1

1,43

1,43

Dân số (triệu người)

23,8

30,2

34,9

41,1

49,2

52,7

64,4

76,3

80,9

Hướng dẫn :

Cách vẽ :

Bước 1: Vẽ biểu đồ hai trục tung  và trục hoành.

Trục tung bên tay trái biểu thị phần trăm.

Trục tung bên tay phải biểu thị triệu người.

Trục hoành biểu thị các năm.

Chú ý: chia khoảng cách các năm.

Bước 2 : 

 -  Dân số vẽ bằng cột.

-  Tỷ lệ tăng tự nhiên vẽ bằng đường.

Bước 3: Ghi tên biểu đồ.

Bước 4: Lập bảng chú giải.

Biểu đồ

Hình 7 : Biểu đồ biến đổi dân số nước ta từ 1954 – 2003

Nhận xét :

Từ 1954 – 2003 dân số nước ta liên tục tăng, bình quân mỗi năm tăng hơn 1 triệu người.

Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của nước ta tăng nhanh từ 1954 đến 1960. Sau đó giảm từ 1960 – 1965 rồi lại tăng tù 1960 – 1970 và từ 1970 – 2003 thì liên tục giảm. Năm 2003 tỷ lệ tăng tự nhiên là 1,43%.

Từ 1960 – 1989 nước ta có hiện tượng bùng nổ dân số.

Kết luận :

          Mặc dù tỷ lệ gia tăng tự nhiên của dân số nước ta có giảm nhưng dân số nước ta vẫn tăng nhanh.

Cách đọc biểu đồ:

Cần đọc tên biểu đồ để hiểu nội dung  của biểu đồ.

Độc bảng chú giải để hiểu nội dung.

Đọc các nội dung cụ thể trong biểu đồ.

Cách vẽ biểu đồ tròn:

Chọn trục gốc: Để thống nhất và dễ so sánh ta chọn trục gốc là đường thẳng nối từ tâm vòng tròn đến điểm số mười hai trên mặt đồng hồ.

Vẽ theo trình tự đề bài cho và vẽ theo chiều kim đồng hồ, mỗi phần trăm tương ứng với 3 % .

Ghi chú, kí hiệu: Nên dùng các đường thẳng, nghiêng, đan, đậm, nhạt, để trắng….

Số ghi: Ghi ở giữa mỗi phần (bên trong biểu đồ), số ghi phải ngay ngắn, rõ ràng, không nghiêng ngả, phải ghi số phần trăm, không ghi số độ hay số thực. Nếu phần ghi số nhỏ không thể ghi bên trong được thì ghi ngay ở bên ngoài.

Tên biểu đồ : Nên ghi phía trên biểu đồ hoặc ghi phía dưới biểu đồ cũng được. Nên ghi chữ in hoa cho rõ.

Ghi chú: Dưới biểu đồ và ghi đúng trình tự như đề bài cho.

* Lưu ý :

– Nếu đề bài không cho số liệu phần trăm ta phải tính phần trăm

– Nếu bảng số liệu có cho số phần trăm nhưng tổng số phần trăm

không đủ 100 % hoặc có vẽ quá nhỏ thì tùy trường hợp mà vẽ cột    hay tròn.

* Nhận xét :

– Khi chỉ có một vòng tròn: Ta nhận xét về thứ tự lớn, nhỏ, sau đó so sánh.

– Khi có từ hai vòng tròn trở lên:

Trước tiên cần nhận xét tăng hay giảm trước. Nếu có ba vòng tròn trở lên thì thêm liên tục hay không liên tục, tăng giảm bao nhiêu?

Sau đó mới nhận xét về nhất, nhì, ba…của các yếu tố trong từng năm. Nếu giống nhau thì ta gom chung lại cho các năm một lần thôi (Không nên nhắc lại hai, ba lần).

Cuối cùng cho kết luận về mối tương quan giữa các yếu tố.

Ví dụ :

Ví dụ 8 :Biểu đồ một hình tròn

Bảng 6.1. Cơ cấu GDP phân theo thành phần kinh tế, năm 2002

Các thành phần kinh tế

Tỷ lệ %

Kinh tế Nhà nước

38,4

Kinh tế tập thể

8,0

Kinh tế tư nhân

8,3

Kinh tế cá thể

31,6

Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

13,7

Tổng cộng :

100

Nhận xét về thành phần kinh tế?

Hướng dẫn :

Cách vẽ :

Bước 1: Vẽ hình tròn và bắt đầu vẽ từ kim chỉ 12 giờ

Bước 2: Vẽ theo trình tự đề bài cho 1% – 3,60

              Ví dụ:  38,4% x 3,6 = 138,240

Bước 3: Ghi tên biểu đồ

Lập bảng chú giải: Mỗi thành phần kinh tế một kí hiệu riêng

Biểu đồ :

Hình 8: Biểu đồ cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế năm 2002

            Nhận xét :

Năm 2002 cơ cấu GDP phân theo thành phần kinh tế lớn nhất là kinh tế nhà nước 38,4%.

Thứ nhì là kinh tế cá thể 31,6%

Thứ ba là kinh tế vốn đầu tư nước ngoài 13,7%

 Thứ tư là kinh tế tư nhân, thấp nhất là kinh tế tập thể 8,0%.

Ví dụ 9: Biểu đồ có hai hình tròn (cho bảng số liệu thô, cho bán kính năm trước, học sinh phải tính cơ cấu hay tỉ lệ, tính bán kính năm sau)

Cho bảng số liệu tổng sản phẩm trong nước GDP phân theo ngành kinh tế ở nước ta ( đơn vị tính tỉ đồng)

Khu vực

Năm 1993

Năm 2000

Nông – lâm – ngư nghiệp

40.769

63.717

Công nghiệp – xây dựng

39.472

96.913

Dịch vụ

56.303

113.036

Tổng số

136.571

273.666

Hướng dẫn :

Cách vẽ :

Bước 1: Hướng dẫn học sinh tính bảng cơ cấu giá trị tổng sản phẩm các ngành kinh tế:

                                            Giá trị từng ngành

                     % ngành   =                                                x 100%

                                                Tổng số

          Ví dụ : 136.571 – 100%

                               40.769 – x % ?

                     Vậy:         

                                          40769 x 100

                                   x =                             = 29,9 %  

                                               136571

Theo đó tính được bảng số liệu như sau:

Bảng cơ cấu – Góc ở tâm

Khu vực

Năm 1993

Năm 2000

%

Góc ở tâm độ

%

Góc ở tâm độ

Nông – lâm – ngư nghiệp

29,9

107,64

23,3

83,88

Công nghiệp – xây dựng

28,9

104,04

35,4

127,44

Dịch vụ

41,2

148,32

41,3

148,68

Tổng số

100

3600

100

3600

Bước 2: Tính bán kính đường tròn theo công thức  

Với :      n = tổng số năm sau / tổng số năm đầu .

Bước 3: Vẽ biểu đồ

– Đối với biểu đồ cho bán kính trước để vẽ được chính xác giáo viên nên hướng dẫn học sinh dùng thước kẻ có chia mm, vẽ đường bán kính trước ( một đường độ dài 20mm, một đường dài 28mm).

  Sau đó dùng compa đặt đúng vào hai đầu của đường bán kính rồi quay ta được đường tròn chính xác. Nếu học sinh vẽ theo cách đo bán kính 20mm vào thước sau đó đặt compa vào giấy quay thì khi quay thường compa không dữ được độ chính xác như ta kẻ bán kính trước.

– Thứ tự vẽ như ví dụ 1.

Biểu đồ :

Hình 9: Biểu đồ cơ cấu tổng sản phẩm trong nước (GDP) phân theo ngành kinh tế ở nước ta.

Nhận xét và giải thich sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế nước ta.

Đối với học sinh khá giỏi yêu cầu nhận xét theo bảng số liệu thô và tỉ trọng sau đó rút ra nhận xét.

Đối với học sinh trung bình, yếu yêu cầu học sinh dựa vào bảng cơ cấu hay biểu đồ để nhận xét.

Cách đọc biểu đồ miền:

Đọc tên biểu đồ để hiểu nội dung của biểu đồ thể hiện gì?

Đọc bảng chú giải để hiểu cách biểu hiện của biểu đồ.

Đọc từng nội dung trong biểu đồ để có cách nhận xét thích hợp.

Cách vẽ biểu đồ miền:

Biểu đồ miền là dạng biểu đồ vừa bao gồm đồ thị vừa bao gồm biểu đồ cột chồng 100 % (cột cơ cấu) nhưng thể hiện rõ rệt hơn, về tình hình phát triển của từng nhóm ngành kinh tế.

Lưu ý: Biểu đồ miền khi vẽ có khác so với biểu đồ đồ thị ở những điểm sau:

Dùng số phần trăm (vì diễn tả cơ cấu), đôi khi người ta cũng dùng số

      liệu tuyệt đối (số thực).

Trục đơn vị bằng 100% và được đóng khung chữ nhật.

Yếu tố đầu tiên vẽ giống như đồ thị, yếu tố thứ hai thì khác: ta vẽ lên trên bằng cách cộng số liệu của yếu tố thứ hai với yếu tố thứ nhất, rồi mới dựa vào kết quả đó ta lấy mức số lượng ở trục tung. Vì thế hai đường của biểu đồ miền không bao giờ cắt nhau (ở dạng đồ thị thì có thể cắt nhau) .

Số ghi trên biểu đồ giống cách ghi ở biểu đồ cột chồng (ghi ở khoảng giữa miền)

Cách nhận xét :

Ta nhận xét hàng ngang trước: Theo thời gian yếu tố A tăng hay giảm? Tăng (giảm) thế nào? Tăng giảm bao nhiêu? Sau đó mới đến yếu tố B tăng hay giảm? Tiếp theo đến các yếu tố C, ….

Nhận xét hàng dọc: Yếu tố nào xếp hàng nhất, nhì, ba… và có thay đổi thứ tự hay không?

Cuối cùng có phần tổng kết lại….

Ví dụ 10:

Cơ cấu GDP của nước ta thời kì 1991 – 2002 ( %)

Năm

1991

1993

1995

1997

1999

2001

2002

Tổng số

100

100

100

100

100

100

100

Nông – Lâm – Ngư nghiệp

40,5

29,9

27,2

25,8

25,4

23,3

23,0

Công nghiệp xây dựng

23,8

28,9

28,8

32,1

34,5

38,1

38,5

Dịch vụ

35,7

41,2

44,0

42,1

40,1

38,6

38,5

a) Vẽ biểu đồ miền thể thiện cơ câu GDP thời kỳ 1991 – 2002.

b) Nhận xét sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta từ  1991 – 2002.

Hướng dẫn :

Chú ý: Giáo viên hướng dẫn học sinh khi nào vẽ biểu đồ cơ câu bằng biểu đồ miền: Thường sử dụng khi chuỗi số liệu là nhiều năm, không  vẽ biểu đồ miền khi chuỗi số liệu không phải là theo các năm vì trục hoành trong biểu đồ miền biểu diễn năm.

Cách vẽ:

Bước 1: Vẽ hình chữ nhật.

– Trục tung có trị số 100%.

– Trục hoành là các năm được chia tương ứng với khoảng cách năm.

Bước 2:

– Vẽ chỉ tiều nông lâm ngư nghiệp trước vẽ đến đâu, tô mầu, kẻ vạch đến đó.

– Vẽ chỉ tiêu công nghiệp xây dựng bằng cách cộng tỉ lệ ngành nông lâm ngư nghiệp với nghành công nghiệp và xây dựng để xác định điểm và nối các điểm đó với nhau ta được miền công nghiệp xây dựng, miền còn lại là dịch vụ.

Bước 3: Ghi tên biểu đồ.

Bước 4: Lập bảng chú giải.

Biểu đồ :

Hình 10: Biểu đồ cơ cấu GDP thời kỳ 1991 – 2002.

Nhận xét và giải thích

 Từ 1991 – 2002 tỉ trọng ngành nông lâm ngư nghiệp giảm mạnh từ 40,5%

( 1991) xuống 23% (2002) điều đó cho ta thấy nước ta đang từng bước chuyển từ nước nông nghiệp sang nước công nghiệp.

   – Tỉ trọng khu vực công nghiệp xay dựng tăng nhanh nhất từ 23,8% (1991) nên 38,5% (2002). Thực tế này phản ánh quá trình công ghiệp hóa của nước ta đang tiến triển.

– Tỉ trong ngành dịch vụ tăng nhẹ 1991 ( 35,7%) nên 38,5% (2002).

          Mặc dù học sinh đã được tiếp xúc với biểu đồ ở các lớp 6-7-8 song số tiết học có rèn luyện kỹ năng biểu đồ còn quá ít. Chính vì vậy các em thường chỉ dừng ở mức độ biết đọc, hiểu biều đồ hoặc biết cách vẽ một số biểu đồ đơn giản như biểu đồ đường hoặc biểu đồ cột.

          Vì vậy trong quá trình dạy địa lý 9 tôi đặc biệt chú ý rèn luyện kỹ năng biểu đồ cho các em như kỹ năng đọc vẽ và nhận xét biểu đồ. Từ các loại biểu đồ đơn giản đến các biểu đồ phức tạp và đặc biệt là kỹ năng khai thác các kiến thức từ biểu đồ. Tôi thường dùng các câu hỏi gợi mở để dẫn dắt các em tự tìm tòi, khám phá và tự đi đến kết luận cụ thể chính xác.

          Để rèn luyện kỹ năng vẽ cho các em tôi thường hướng dẫn học sinh cách chọn biểu đồ thích hợp để vẽ. Các loại biểu đồ rất đa dạng, phong phú mà mỗi loại biểu đồ lại có thể được dùng để biểu hiên nhiều mục đích khác nhau. Vì vậy khi vẽ biểu đồ, việc đầu tiên là đọc kỹ đề bài để tìm hiểu mục đích định thể hiện trên biểu đồ (thể hiện động thái phát triển, so sánh tương quan độ lớn hay thể hiện cơ cấu). Sau đó căn cứ vào mục đích đã được xác định  để lựa chọn loại biểu đồ thích hợp nhất.

          Khi vẽ bất cứ loại biểu đồ nào, cũng phải đảm bảo được ba yêu cầu: Khoa học (chính xác), Trực quan (rõ ràng, dễ học), thẩm mỹ (đẹp). Để đảm bảo tính trực quan và thẩm mỹ, khi vẽ biểu đồ tôi thường yêu cầu học sinh dùng ký hiệu để phân biệt các đối tượng trên biểu đồ như gạch nền, dùng ước hiệu toán học, dùng các ký hiệu sao cho vừa đẹp, vừa dễ hiểu…

          Khi vẽ biểu đồ xong cần hoàn thiện biểu đồ như ghi tên biểu đồ, kí hiệu biểu đồ, ghi các số liệu tương ứng vào biểu đồ, lập bảng chú giải cho biểu đồ.

          Ngoài việc rèn luyện kỹ năng biểu đồ ở lớp tôi thường ra các bài tập có rèn luyện kỹ năng biểu đồ cho học sinh khi về nhà ở trong sách giáo khoa và trong tập bản đồ .

          Để cho các tiết dạy có rèn luyện kỹ năng biểu đồ cho học sinh được thành công tôi thường nghiên cứu kỹ sách giáo khoa, sách giáo viên và tài liệu tham khảo để soạn giáo án chi tiết, nghiên cứu bài để tìm ra cách rèn luyện kỹ năng biểu đồ thích hợp nhất, phù hợp nhất với ba đối tượng học sinh như học sinh trung bình, học sinh khá và học sinh yếu.

          Ngay từ đầu năm học lớp 9 tôi quy định tất cả các em học sinh phải có đầy đủ sách giáo khoa, atlat địa lý và dụng cụ học tập đầy đủ để phục vụ việc học tập cho bộ môn.

          Trong bài dạy ở những bài có biểu đồ tôi luôn chú ý rèn kỹ năng biểu đồ cho học sinh nhất là các đối tượng học sinh trung bình và học sinh yếu. Đặc biệt phải dạy vẽ biểu đồ tôi thường tiến hành cho các em hoạt động nhóm để các em có cơ hội trao đổi bàn bạc nhau và tranh thủ học tập nhau những thủ thuật cho học biểu đồ nhanh, dễ nhớ và nhớ lâu.

          Ngoài ra tôi thường ra các bài tập biểu đồ về nhà cho các em để các em có thời gian rèn luyện ở nhà. Sau đó đến lớp tôi có kiểm tra đánh giá và nhắc nhở uốn nắn các em một cách kịp thời để động viên khuyến khích các em.

          Trong quá trình triển khai, áp dụng qua hai năm học gần đây là năm học 2015 – 2016  và học kì I năm học 2016 – 2017 tôi đã nhận thấy có những kết quả bước đầu:

Về phía thầy: Giáo viên  đã tự tin hơn trong giảng dạy và có cách rèn luyện kỹ năng cho học sinh qua biểu đồ ngày càng có hiệu quả, giúp học sinh dễ hiểu, dễ tiếp thu kiến thức đồng thời giúp cho việc đổi mới phương pháp hiệu quả hơn.

Về phía trò: Ngày càng có nhiều em học sinh yêu thích học bộ môn nhất là các em có tâm lý ngại học thuộc lòng. Từ đó tỷ lệ học sinh yếu và học sinh trung bình ngày càng giảm, số học sinh khá, giỏi ngày càng tăng, chất lượng môn học cũng tăng lên rõ rệt. Kết quả cụ thể qua hai năm như sau:

Năm 2015-2016:

LỚP

Tổng số

GIỎI

KHÁ

TB

YẾU

KÉM

SL

TL%

SL

TL%

SL

TL%

SL

TL

SL

TL%

 Khối 9

63

23

36.5

19

30.1

18

28.5

3

4.9

0

0

       Kết quả đạt được như trên tôi nhận thấy chuyên đề có khả thi nên tôi tiếp tục thực hiện chuyên đề vào giảng dạy ở học kì I năm học 2016-2017, học sinh đã dễ dàng tiếp nhận các kiến thức từ bản đồ, bảng số liệu, không chỉ thế học sinh còn có phần ham thích môn học hơn. Kết quả được thể hiện như sau:

LỚP

Tổng số

GIỎI

KHÁ

TB

YẾU

KÉM

SL

TL%

SL

TL%

SL

TL%

SL

TL

SL

TL%

Khối 9

61

31

50.8

20

32.7

10

16.5

0

0

0

0

Biểu đồ thể hiện kết quả học tập khối 9 của năm học 2015-2016 so với học kỳ I năm học 2016-2017:

          Bài học kinh nghiệm: Qua đề tài này tôi thấy để giảng dạy  địa lý lớp chín được tốt thì cả thầy và trò phải chuẩn bị đầy đủ sách giáo khoa, tập bản đồ, dụng cụ dạy và học. Người thầy là người có nhiệm vụ hướng dẫn học trò nên thầy phải nghiên cứu, soạn giáo án kỹ, có hệ thống câu hỏi dẫn dắt phù hợp khi khai thác kiến thức qua biểu đồ, rèn cho học sinh tính cẩn thận, tỉ mỉ và có óc thẩm mỹ khi vẽ biểu đồ.

      Tóm lại, thực hiện được các kỹ năng vẽ và nhận xét biểu đồ trong việc dạy-học môn Địa Lí trong nhà trường là hết sức cần thiết và quan trọng, hơn thế nữa nó còn góp phần thay đổi phương pháp dạy học truyền thống bằng phương pháp mới nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, tính độc lập, sáng tạo của học sinh. Đồng thời nó cũng góp phần làm thay đổi cách kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh-từ kiểm tra, đánh giá bằng lý thuyết suông chuyển sang kiểm tra, đánh giá cả kỹ năng và khả năng vận dụng kiến thức. Từ nhận thức đó trong những năm qua, tôi đã đúc kết và áp dụng tương đối thành công nội dung theo đề tài đã chọn này để giảng dạy môn Địa Lí tại trường THCS. Vấn đề này đã được tôi áp dụng vào quá trình nghiên cứu soạn giảng giúp học sinh học tập môn địa lý lớp 9 đạt được một số kết quả nhất định. Qua bài này giúp tôi thêm kinh nghiệm trong việc nghiên cứu để soạn giảng địa lý, giúp cho bài học sinh động hơn, khoa học hơn, góp phần “Đổi mới phương pháp giảng dạy”.

          Về phía học sinh: các em chủ động nắm bắt kiến thức phát huy được khả năng tư duy sáng tạo.

          Với đề tài này tôi hi vọng nó sẽ góp phần nào đó giải quyết những khó khăn của một số giáo viên khi sử dụng biểu đồ trong giảng dạy và giúp học sinh có thói quen sử dụng biểu đồ trong học tập địa lý 9.

– Đề nghị sở, phòng GD-ĐT quan tâm nhiều hơn đến môn học này, cung cấp thêm nhiều hơn tư liệu mang tính cập nhật, tính thời sự hơn cho môn.

– Tổ chức nhiều hơn những chuyên đề để giáo viên học hỏi thêm chuyên sâu hơn về môn học.

– Cung cấp, bổ xung các văn bản pháp luật mới nhất kịp thời hơn.

-      Sách giáo khoa địa lý 9

Sách giáo viên địa lý 9

Át lát địa lý Việt Nam

Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy thay sách giáo khoa lớp 8

Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy thay sách giáo khoa lớp 9

Tuyển chọn Những bài ôn luyện thực hành kỹ năng thi vào Đại học Cao đẳng môn địa lý- NXB Giáo dục

Rèn luyện kỹ năng vẽ và nhận xét biểu đồ- Tác giả Trần Văn Quang – NXB Giáo dục.

Một số tài liệu bồi dưỡng học sinh giỏi môn địa lý lớp 9

Những Kỹ Năng Vẽ Biểu Đồ Địa Lý

Để vẽ biểu đồ trong chương trình Địa lí 9 được tốt, giáo viên cần phải chú trọng tuyệt đối việc rèn kỹ năng về vẽ biểu đồ thật kỹ và thật tốt cho học sinh.

Các kỹ năng bao gồm:

Kỹ năng nhận dạng các dạng biểu đồ trong chương trình Địa lí 9 (gồm các dạng biểu đồ sau: Dạng hình tròn, dạng hình cột; dạng cột chồng, dạng miền, dạng đường biểu diễn và dạng thanh ngang).

Không cần phải xử lý bảng số liệu khi: Yêu cầu vẽ biểu đồ theo tên của bảng số liệu đã cho và có kèm theo các từ : “về…”, “thể hiện….” hoặc đơn vị là phần trăm (%).

Phải xử lý bảng số liệu rồi sau đó dựa vào bảng số liệu vừa xử lý để vẽ biểu đồ khi:

Đơn vị không phải là % – Có các từ gợi mở như: ” cơ cấu”, “tỉ trọng”, ‘tỉ lệ” , “tăng trưởng”, “biến động”,”phát triển”….

Dạng biểu đồ hình tròn: Thường có các từ gợi mở như: “cơ cấu”, ” tỉ trọng”, “tỉ lệ’ …và đơn vị là %. Mốc thời gian 1 hoặc 2 mốc, tối đa 3 mốc.

Dạng hình cột: Gồm cột đơn, cột nhóm khi thường có các từ gợi mở như: ” về”, “thể hiện”: “khối lượng”, “sản lượng”, “diện tích”,… và kèm theo một hoặc vài mốc thời gian hoặc thời kì, giai đoạn; yêu cầu vẽ biểu đồ theo tên của bảng số liệu đã cho.

Dạng cột chồng: Có từ gợi mở như “cơ cấu”, đơn vị là % , từ 1 mốc đến 3 mốc thời gian (ví dụ: 1990, 1995, 2000); Trong tổng thể có những thành phần chiếm tỷ trọng quá nhỏ hoặc trong tổng thể có quá nhiều cơ cấu thành phần.

Dạng biểu đồ miền: Cần phải quan sát trên bảng số liệu: khi các đối tượng trải qua trên 3 mốc thời gian, có cụm từ : “cơ cấu” và đơn vị %.

Dạng biểu đồ đường biểu diễn: Thường có các từ gợi mở như: “tăng trưởng”, “biến động”, “phát triển”, và kèm theo là một chuỗi thời gian “qua các năm từ… đến…”.

Dạng thanh ngang: Học sinh phải hiểu được đây là một dạng biến thể của biểu đồ cột, đơn vị thường % và nội dung trong bảng số liệu thường không phải là năm.

Kĩ năng vẽ từng dạng biểu đồ cụ thể Kĩ năng vẽ biểu đồ hình tròn:

Bước 1: Xử lý số liệu (Nếu số liệu đề bài cho là số liệu thô như: tỉ đồng, triệu người… thì ta phải chuyển sang số liệu tinh là: %).

Bước 2: Xác định bán kính của hình tròn. Bán kính cần phù hợp với khổ giấy để đảm bảo tính trực quan và thẩm mĩ cho biểu đồ.

Biểu đồ cho bán kính trước thì hướng dẫn học sinh dùng thước chia mm kẻ đường bán kính trước, sau đó dùng compa quay theo bán kính đó.

Bước 3: Chia hình tròn thành các hình quạt theo đúng tỉ lệ và thứ tự của các thành phần theo trong đề ra. Phương pháp vẽ theo dây cung nhanh hơn vẽ theo góc ở tâm.

Lưu ý: Toàn bộ hình tròn là 360 độ tương ứng với tỉ lệ 100%, như vậy tỉ lệ 1% ứng với3,6 độ trên hình tròn. Khi vẽ các hình quạt nên bắt đầu từ tia 12 giờ và lần lượt vẽ theo chiều quay của kim đồng hồ.

Bước 4: Hoàn thiện biểu đồ; ghi tỉ lệ của các thành phần lên biểu đồ phải ngayngắn, rõ ràng không nghiêng ngã; lập bảng chú giải theo thứ tự của hình vẽ và nên ghi ở bên dưới biểu đồ hoặc ghi bên cạnh không được ghi bên trên, sau đó ghi tên biểu đồ.

Bước 1: Kẻ hệ trục toạ độ vuông góc cho cân đối giữa hai trục.

Trục tung (trục đứng) thể hiện đơn vị của các đại lượng, có mốc ghi cao hơn giá trị cao nhất trong bảng số liệu. Phải ghi rõ đơn vị (nghìn tấn, tỉ đồng…) và phải cách đều nhau.

Trục hoành (trục ngang) thể hiện các năm hoặc đối tượng khác: khoảng thời gian giữa các năm phải lưu ý để xem coi là chia đều hay không đều.

Bước 2: Xác định tỉ lệ thích hợp ở cả hai trục. Chú ý tương quan giữa độ cao của trục đứng và độ dài của trục ngang sao cho biểu đồ đảm bảo được tính trực quan và thẫm mỹ.

Bước 3: Vẽ theo đúng trình tự bài cho, không được tự ý sắp xếp từ thấp tới caohoặc ngược lại, trừ khi bài có yêu cầu sắp xếp lại.

Không nên vạch 3 chấm (…) hoặc gạch nối từ trục vào cột vì nó làm biểu đồ rườm rà, cột bị cắt thành nhiều khúc không có thẩm mỹ.

Cột đầu tiên phải cách trục từ 1 đến 2 ô vở.

Bước 4: Hoàn thiện biểu đồ: ghi các số liệu tương ứng vào các cột, vẽ ký hiệu và lập bản chú giải, ghi tên biểu đồ.

Lưu ý: Trong biểu đồ các cột chỉ khác nhau về độ cao còn bề ngang của các cột phải bằng nhau. Tuỳ theo yêu cầu cụ thể mà vẽ khoảng cách giữa các cột bằng nhau hoặc cách nhau theo đúng tỉ lệ.

Ở dạng này thì việc thể hiện độ cao của các cột là điều quan trọng hơn cả bởi vì nó cho thấy sự khác biệt về quy mô số lượng giữa các năm hoặc đối tượng cần thể hiện.

Kĩ năng vẽ biểu đồ cột chồng:

Bước 1: Xây dựng hệ trục tọa độ cần phải xem xét:

Số lượng cột cần thể hiện trên trục hoành để phân chia khoảng cách giữa các cột vừa phải và dễ quan sát.

Độ rộng các cột nên có kích thước nhất định để thể hiện các thành phần bên trong.

Bước 2: Thể hiện cơ cấu hoặc quy mô của các thành phần:

Vẽ các cột có chiều cao bằng nhau và đều bằng 100%, đơn vị được ghi trên trục tung là %, bề rộng của các cột phải bằng nhau. Sau đó lần lượt vẽ từng thành phần theo bảng thống kê đã cho cụ thể hoặc vừa mới xử lý xong.

Bước 3: Thể hiện kí hiệu cho từng thành phần trong biểu đồ và ghi số liệu mỗi thành phần.

Bước 4: Hoàn thiện biểu đồ: Lập bảng chú giải, ghi tên biểu đồ

Bước 1: Xử lý số liệu. (Nếu số liệu đề bài cho là số liệu tuyệt đối như tỉ đồng, triệu người… thì ta phải chuyển sang số liệu tương đối là %).

Bước 2: Kẻ khung biểu đồ hình chữ nhật. Cạnh đứng thể hiện tỉ lệ %, cạnh ngang thể hiện khoảng cách thời gian từ năm đầu đến năm cuối của biểu đồ (khoảng cách các năm phải tương ứng với khoảng cách trong bảng số liệu)

Quy định chiều cao của khung biểu đồ 100% tương ứng với 10 cm (để tiện cho đo vẽ).

Bước 3: Vẽ lần lượt từng chỉ tiêu. Năm đầu tiên phải sát với cạnh đứng. Nên cộng cơ cấu ngành nông nghiệp với cơ cấu ngành công nghiệp để xác định điểm thứ hai.

Dùng bút chì kẻ mờ những đường thẳng theo các năm thì khi xác định các điểm sẽ dễ dàng

Bước 4: Hoàn thiện biểu đồ (Tương tự như cách vẽ biểu đồ hình tròn).

Kĩ năng vẽ biểu đồ đường biểu diễn:

Bước 1: Kẻ hệ trục toạ độ, chia tỉ lệ ở hai trục cho cân đối và chính xác.

Trục tung (trục đứng) thể hiện đơn vị của các đại lượng, có mốc ghi cao hơn giá trị cao nhất trong bảng số liệu. Phải ghi rõ danh số (nghìn tấn, tỉ đồng…)

Trục hoành (trục ngang) thể hiện năm và chia mốc thời gian tương ứng với mốc thời gian ghi trong bảng số liệu. ( lưu ý về khoảng cách giữa các mốc thời gian để từ đó ta có thể chia đều hoặc không đều).

Bước 2: Xác định tỉ lệ thích hợp ở cả hai trục. Chú ý tương quan giữa độ cao của trục đứng và độ dài của trục ngang sao cho biểu đồ đảm bảo được tính trực quan và mĩ thuật.

Bước 3: Căn cứ vào các số liệu của đề bài và tỉ lệ đã xác định để tính toán và đánh dấu toạ độ của các điểm mốc trên 2 trục. Khi đánh dấu các năm trên trục ngang cần chú ý đến tỉ lệ. Thời điểm năm đầu tiên nằm dưới chân trục đứng.

Bước 4: Hoàn thiện biểu đồ (ghi số liệu vào biểu đồ, chú giải, ghi tên biểu đồ)

Lưu ý: Nếu vẽ 2 hoặc nhiều đường biểu diễn có chung đơn vị thì mỗi đường cần dùng 1 kí hiệu riêng biệt và có chú giải kèm theo.

Nếu phải nhiều đường biểu diễn mà số liệu đã cho lại thuộc nhiều đơn vị khác nhau thì phải tính toán để chuyển số liệu thô (số liệu tuyệt đối với các đơn vị khác nhau) sang số liệu tinh (số liệu tương đối – với cùng đơn vị thống nhất là: %).

Ta thường lấy số liệu năm đầu tiên ứng với 100%, số liệu các năm tiếp theo là tỉ lệ % so với năm đầu tiên.

Kĩ năng vẽ biểu đồ thanh ngang:

Tương tự như vẽ biểu đồ cột nhưng các cột nằm ngang chứ không đứng dọc như hình cột

Trục đứng thể hiện đơn vị của các đại lượng, có mốc ghi cao hơn giá trị cao nhất trong bảng số liệu.

Trục ngang thể hiện các đối tượng và trục ngang đơn vị %.

Muốn nhận xét biểu đồ được tốt học sinh phải quan sát bảng số liệu kết hợp với quan sát biểu đồ vừa vẽ.

Đọc kĩ yêu cầu câu hỏi để “khoanh vùng” nội dung, phạm vi cần nhận xét.

Trước tiên cần nhận xét các số liệu có tầm khái quát chung, tiếp đến là các số liệu thành phần.

Tìm mối quan hệ so sánh các con số theo hàng dọc, hàng ngang (nếu có).

Chú ý những giá trị nhỏ nhất, lớn nhất và trung bình, nhất là những số liệu được thể hiện trên hình vẽ mang tính đột biến (tăng hoặc giảm nhanh).

Cần thiết phải tính toán ra tỉ lệ % hoặc tính ra số lần tăng, giảm của các con số làm cơ sở chứng minh ý kiến nhận xét.

Về sử dụng ngôn ngữ trong lời nhận xét biểu đồ: Trong các loại biểu đồ cơ cấu mà số liệu đã được qui thành các tỉ lệ (%). Khi nhận xét phải dùng từ “tỷ trọng” trong cơ cấu để so sánh nhận xét.

Rèn Luyện Kỹ Năng Giải Một Số Dạng Toán Định Lượng Hóa Học 9

1.1 Lí do chọn đề tài.

Hoá học là bộ môn khoa học thực nghiệm, có tầm quan trọng trong trường phổ thông và trong thực tiễn đời sống con người.. Tuy nhiên đây lại là một môn học mà học sinh được tiếp cận muộn so với các môn khoa học tự nhiên khác như: Toán, Lí … Vì vậy kinh nghiệm bộ môn, kỹ năng giải các dạng bài tập đối với học sinh lớp 9 nói riêng và với học sinh THCS nói chung còn lúng túng, khó giải được các dạng bài tập ở lớp 9 từ đó khó hơn khi học lên THPT.

Với bộ môn Hóa học có hai dạng bài tập cơ bản là bài tập định tính như nhận biết các hóa chất dạng dung dịch, rắn, khí hay là lập phương trình, viết chuổi phản ứng hóa học… Dạng thứ hai là làm các bài tập định lượng như tính khối lượng, thể tích chất tham gia, chất tạo thành, lập công thức hóa học…

Đối với dạng bài tập định lượng này ngoài phải nắm được tính chất hóa học của chất thì phải nắm được các công thức, kỹ năng tính toán đặc biệt là kỹ năng, phướng pháp giải các dạng toán định lượng Hóa học.

Với đặc thù như vậy thì Hóa học là một môn học mà đa số học sinh ở cấp trung học cơ sở nói chung và học sinh lớp 9 nói riêng đều cho là môn học khó, nhàm chán thậm chí là cảm giác sợ học của một số học sinh nhất là đối với học sinh yếu.

Trong chương trình Hóa học lớp 9, tiết luyện tập chỉ có sau mỗi chương hoặc là sau khi nghiên cứu về tính chất của một chất. Trong tiết dạy chỉ có 45 phút, thời gian để rèn luyện cho các em kỹ năng giải các bài tập toán định lượng Hóa học không được nhiều nên nhìn chung học sinh đa số yếu và thậm chí không tự tin trong học tập bộ môn này.

Trường THCS là một trường thuộc vùng miền đặc biệt khó khăn, dân cư làm nghề thủ công Mây – Đan nên hầu như toàn bộ thời gian ở nhà các em dùng để đan Mây, đan Nón và ít có thời gian học nên kỹ năng bộ môn càng yếu.

Rèn luyện kỹ năng giải 1 số dạng bài tập định lượng Hóa học là một biện pháp rất quan trọng để cũng cố và nắm vững các định luật, các khái niệm và tính chất hóa học của các chất. Nhưng thực tế ở các trường, thời gian giải bài tập trên lớp của các em rất ít, bản thân học sinh chưa nắm vững cách giải và hệ thống hóa được các dạng bài tập, vì thế các em không thể tự học ở nhà nhất là các học sinh lớp 9. Kết quả là học sinh ít làm bài tập, chỉ học những lí thuyết suông, không đáp ứng được yêu cầu do môn Hóa học đề ra, từ từ các em cảm thấy sợ học môn Hóa. Là giáo viên dạy Hóa 8-9, tôi luôn băn khoăn, trăn trở nhiều về vấn đề này.

Từ những thực trạng nêu trên, tôi thiết nghĩ cần phải có một bộ tài liệu hệ thống hóa kỹ năng giải một số dạng bài tập định lượng, cơ bản ở bậc THCS nói chung và lớp 9 nói riêng nhằm giúp các em có thể tự học, tự giải bài tập ở nhà, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng học tập môn Hóa của học sinh.

Trong đề tài của mình tôi sẻ nghiên cứu “Rèn luyện kỹ năng giải một số dạng toán định lượng Hóa học 9” cho học sinh lớp 9 trường THCS nhằm có cái nhìn rõ nét về thực tế của vấn đề này, giúp tìm ra nguyên nhân của những khó khăn mà học sinh gặp phải trong quá trình học tâp. Đồng thời, đề tài đưa ra một số giải pháp để góp phần nâng cao kỹ năng giải một số dạng toán định lượng Hóa học cho học sinh lớp 9.

Trong phạm vi đề tài này đồng nghiệp chưa có ai nhiên cứu, mặt khác trong quá trình giảng dạy tại trường, thực tế kỹ năng giải một số dạng toán định lượng hóa học cúa học sinh lớp 9 nói riêng và của toàn học sinh nói chung còn yếu nên tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài này để nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn của mình tại trường sở tại.

1.2. Phạm vi áp dụng cho đề tài.

Đề tài này áp dụng cho học sinh lớp 9 nói chung và học sinh THCS nói riêng và được áp dụng cụ thể tại cấp THCS và cũng có thể là tài liệu tham khảo cho đồng nghiệp dạy và học sinh học bộ môn Hóa học tại địa phương.

2.1.Thực trạng của nội dung cần nghiên cứu.

Học sinh của trường THCS đa số là học sinh con em nhà nông, làm rẫy, làm nghề mây tre đan, nón lá… kinh tế gia đình khó khăn do đó ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình học tập của học sinh. Thực tế học sinh chất lượng đại trà thấp, kỹ năng giải toán bộ môn kém. Đặc biệt ở khối 9 các em muốn học nhưng không biết bắt đầu từ đâu vì một số em đã bị mất gốc, thiếu phương pháp học tập, thiếu kỹ năng giải các dạng toán bộ môn. Nhiều em không có hứng thú học tập, thấy sợ khi đến tiết học Hóa học nhất là khi tiếp xúc với công thức, phương trình, các bài tập giải .Vì vậy nhiều em trên lớp không tham gia vào hoạt động học vì không hiểu. Các em chỉ đơn thuần ngồi chờ kết quả từ các bạn giỏi hơn hoặc từ phía thầy cô…Dù đã được học Hóa học từ năm lớp 8 và đầu năm lớp 9 nhưng kỷ năng giải toán định lượng hóa học của học sinh còn yếu, mỗi khi lên lớp tôi luôn gặp những ánh mắt lo âu. Giờ học rất trầm…Trong một lớp chỉ có vài học sinh hoạt động tích cực trong các tiết học còn lại thì ngồi im, làm cho không khí lớp học rất buồn tẻ, thiếu sinh khí , quá chênh lệch. Đây là một vấn đề làm tôi suy nghĩ,trăn trở tìm giải pháp để khắc phục.

Như chúng ta đã biết, Hóa học là một môn khoa học thực nghiệm, mới mẻ và tương đối khó đối với học sinh. Đặc biệt là đối với học sinh nông thôn, học sinh thuộc vùng khó khăn. Vì vậy vấn đề “Rèn luyện kỹ năng giải một số dạng toán định lượng hóa học 9” cho học sinh luôn là câu hỏi thường xuyên mà tôi trăn trở muốn tìm ra câu trả lời để khắc phục được thực trạng trên.

Là giáo viên trực tiếp giảng dạy, tôi phải quyết tâm tìm ra giải pháp là làm sao cho các em thấy những điều lý thú trong học Hóa học, khơi dậy sự ham hiểu biết ở học sinh có thể giúp tất cả các đối tượng học đều có kỹ giải toán Hóa học… Qua nhiều năm học hỏi, tham khảo tài liệu và những kinh nghiệm được rút ra thông qua các giờ dạy thực tế ở trên lớp, bản thân tôi đã tìm ra được phương pháp dạy phù hợp, thu hút được phần lớn học sinh tham gia bài học một cách chủ động, sáng tạo nhất là trong các tiết dạy luyện tập, ôn tập có sử dụng kỹ năng giải các dạng bài tập toán Hóa học.

Tình hình khảo sát chất lượng đầu năm năm học 2017 – 2018 khi chưa áp dụng các giải pháp này ở lớp 9 trường THCS như sau:* Nguyên nhân:

Qua quá trình giảng dạy và tìm hiểu học sinh khối 9 tôi đã tìm ra một số nguyên nhân dẫn đến kỹ năng giải các dạng bài tập định lượng Hóa học ở học sinh còn thấp đó là:

Về học sinh :

Hóa học là một môn khoa học thực nghiệm đòi hỏi học sinh vừa phải nắm được lý thuyết, vừa phải có kỷ năng thực hành, mặt khác các dạng bài tập lại rất rộng và khó.

Muốn giải được các dạng bài tập định lượng trong chương trình hóa học lớp 9 thành công thì đòi hỏi học sinh phải nắm chắc tính chất hóa học của các chất,có lòng hăng say, yêu thích bộ môn và phải có phương pháp giải các dạng toán…Với môn học như vậy nhưng các em chỉ mới được tiếp cận bắt đầu từ năm lớp 8, bên cạnh đó cách học thụ động, đọc thuộc lý thuyết, thiếu tính thực hành, thiếu rèn luyện, kỹ năng giải các bài tập cụ thể… do đó hạn chế không nhỏ đến chất lượng học tập bộ môn của các em . Là một bộ môn đòi hỏi học sinh phải chăm chỉ, thường xuyên học bài, thường xuyên luyện tập nhưng các em chưa dành nhiều thời gian cho học tập do điều kiện gia đình khó khăn. Một số học sinh còn lười học hoặc ỷ lại còn khá lớn.Tinh thần tự học chưa cao, thiếu phương pháp học tập. Có học sinh không học bài cũng như không soạn bài mới trước khi đến lớp thậm chí có em không biết bài học này nói về vấn đề gì? Một số khác thì ham chơi, các em không tha thiết với việc học của mình.

Học sinh nông thôn còn nhút nhát, tự ti thấy bài tập khó thì nhụt chí không chịu học hỏi bạn, thầy để giải quyết nên dần dần kỹ năng giảỉ toán nhất là các dạng toán định lượng hóa học bị mai một, dần mất gốc.

Về nhà trường

Việc đẩy mạnh phương pháp dạy học mới nhằm tạo ra thế hệ học sinh vừa giỏi về lý thuyết, vừa giỏi về thực hành của bộ môn Hóa học ở trường sở tại còn gặp nhiều khó khăn do cơ sở vật chất. Tại trường THCS, bộ môn Hóa học vẫn chưa được đưa vào dạy bổ trợ kiến thức trái buổi như đối với các bộ môn Toán, văn nên thời gian rèn luyện kỹ năng giải các dạng toán định lượng hóa học cho học sinh vẫn chưa được thích đáng.

Từ thực tế kết quả khảo sát và vốn kĩ năng giải các dạng bài tập định lượng của học sinh lớp 9 trường tôi đang trực tiếp giảng dạy rất thấp nên tôi đã suy nghĩ, trăn trở và tìm nhiều giải pháp để nâng cao chất lượng bộ môn cũng như rèn luyện cho các em có được kĩ năng giải các bài tập định lượng trong chương trình THCS đáp ứng chuẩn kiến thức, kĩ năng . Trong nhiều giải pháp đó tôi tâm đắc nhất và quyết định sử dụng đó là hệ thống và hướng dẫn giãi các dạng bài tập định lượng cơ bản nhất trong chương trình THCS để giúp học sinh lớp 9 có kĩ năng giãi các dạng bài tập định lượng đáp ứng nhu cầu bộ môn và tôi mạnh dạn trình bày kinh nghiệm thực tế của mình trước các đồng nghiệp để được trao đổi, học tập, góp ý nhằm không ngừng nâng cao tay nghề với mục đích cuối cùng là làm sao cho học sinh dể hiểu, say mê hơn nữa đối với bộ môn Hóa học nhằm từng bước nâng cao chất lượng dạy và học.

Dạng 1: Toán tính theo phương trình hóa học tìm chất tham gia hoặc chất tạo thành.

Dạng 2: Toán tính theo phương trình hóa học khi biết 2 chất phản ứng.

Dạng 3: Toán xác định công thức của hợp chất vô cơ.

Dạng 4: Toán xác định thành phần hỗn hợp.

Dạng 5: Toán về CO2 tác dụng với dung dịch kiềm.

Để làm được các dạng bài tập trên thì học sinh phải hệ thống lại và bắt buộc nắm vững các nội dung lí thuyết sau để phục vụ việc giải toán:

* Nắm vững tính chất của các chất trong chương trình hóa học 8, 9 và viết được phương trình phản ứng.

* Nắm được hệ thống công thức, định luật sau trong chương trình hóa học 8,9 như:

– Tìm số mol chất.

+ Dựa và khối lượng chất.

+ Dựa vào thể tích chất khí đo ở điều kiện tiêu chuẩn (đktc) + Dựa vào nồng độ mol dung dịch.

– Công thức tính nồng độ phần trăm ( C%).

mct: khối lượng chất tan (g)

mdd: khối lượng dung dịch (g)

-Khi cho khối lượng riêng dung dịch D(g/ml)

-Khi trộn nhiều chất lại với nhau

m dd = mtổng các chất phản ứng – mchất không tan – mchất khí

– Tỉ khối của chất khí.

* Chú ý: Nếu B là không khí thì M B = 29

– Định luật bảo toàn khối lượng.

: Trong một phản ứng hóa học tồng khối lượng các chất phản ứng bằng tổng khối lượng các chất sản phẩm.

Phản ứng hóa học: A + B ® C + D

Ta có: mA + mB = mC + mD

– Ngoài ra việc giải bài toán hóa học đòi hỏi học sinh phải biết cách giải phương trình bậc nhất một ẩn số, giải hệ phương trình bậc nhất hai ẩn số, …

Dạng toán tính theo phương trình hóa học để tìm chất tham gia hoặc chất tạo thành.* Phương pháp:

– Chuyển đổi các đại lượng bài toán cho như khối lượng (m), thể tích chất khí (V) về số mol(n)

– Viết phương trình hóa học cho phản ứng và cân bằng phương trình.

– Đặt tỉ lệ số mol chất tham gia và chất tạo thành theo phương trình

– Từ phương trình suy ra số mol chất cần tìm từ số mol chất đã cho.

– Tính khối lượng hoặc thể tích chất khí đề bài yêu cầu theo công thức:

m = n*M (gam) hoặc V(đktc) = n* 22,4(lít).

Ví dụ: Cho 5,6 gam sắt tác dụng với vừa đủ với khí oxi ở nhiệt độ cao tạo thành oxit sắt từ.

a/ Tính khối lượng oxit sắt từ tạo thành?

b/ Tính thể tích khí oxi ở điều kiện tiêu chuẩn đã tham gia phản ứng.?

Hướng dẫn giải

Số mol Fe = 5,6/ 56 = 0,1 (mol)

Phương trình: 3Fe + 2 O 2 t 0 Fe 3O 4

0,1 mol 0,07mol 0,03 mol

a/ Từ phương trình ta có số mol Fe 3O 4 = 0,03 ( mol)

Khối lượng Fe 3O 4 = 0,03* 232= 6,96 ( gam)

b/ Thể tích khí oxi( đktc) = 0,07 * 22,4 = 1,57 ( lít)

: Tính theo phương trình hóa học khi biết 2 chất phản ứng( dạng toán dư).* Phương pháp:

– Chuyển đổi các lượng chất đã cho ra số mol.

– Viết phương trình hóa học: A + B ® C + D

So sánh hai tỉ số này, số nào lớn hơn thì chất đó dư, chất kia phản ứng hết. Tính toán (theo yêu cầu của đề bài) theo chất phản ứng hết.

Hoà tan 2,4 g CuO trong 200 gam dung dịch HNO 3 15,75%. Tính nồng độ phần trăm các chất có trong dung dịch sau khi phản ứng kết thúc.

Hướng dẫn giải

nCuO = 2,4 : 80 = 0,03 (mol)

mHNO 3 = = 31,5 (g)

Þ nHNO 3 = 31,5 : 63 = 0,5 (mol)

PTHH: CuO + 2HNO 3 Cu(NO 3) 2­ + H 2 O

mol ban đầu: 0,03 0,5

mol phản ứng 0,03 ® 0,06 ® 0,03

Lập tỉ số: Þ < Þ HNO 3 dư, CuO­ hết ta tính theo CuO.

Các chất sau khi phản ứng kết thúc gồm: Cu(NO 3) 2 và HNO 3 còn dư

mCu(NO 3­) 2 = 0,03 . 188 = 5,64(g) mHNO 3 dư = (0,5- 0,06).63 = 27,72(g)

mdd sau phản ứng = mCuO + mdd HNO 3 = 2,4 + 200 = 202,4(g)

C% ddHNO 3 dư = = 13,7%

: Xác định công thức của hợp chất vô cơ.

Đối với dạng toán này khi giải học sinh gặp nhiều trừng hợp khác nhau, chúng ta sẽ xét các trường hợp cụ thể sau:

*Lập CTHH của oxit sắt. Phương pháp:

– Đặt công thức của oxit sắt là FexOy

– Dựa vào dữ kiện của đề bài ta đưa về tỉ số . Thí dụ : = Þ Fe2O3, …

– Khi giải toán ta cần phải chú ý sắt chỉ có 3 oxit sau: FeO, Fe2O3, Fe3O4.

Thí dụ 1: Một oxit sắt có thành phần phần trăm về khối lượng sắt trong oxit là 70%. Tìm công thức của oxit sắt.

Hướng dẫn giải

Đặt công thức của oxit sắt là FexOy

%Fe = = = 0,7

Û 16,8x = 11,2y Þ = = Þ x = 2, y = 3

Công thức của oxit sắt là Fe 2O 3.

Thí dụ 2: Xác định công thức của hai oxit sắt A. Biết rằng 23,2 gam A tan tan vừa đủ trong 0,8 lít HCl 1M.

Hướng dẫn giải

nHCl = 1.0,8 = 0,8 (mol)

Đặt công thức của oxit sắt là Fe xO y

PTHH: Fe xO y + 2yHCl ® xFeCl2y/x + yH 2 O

mol: ¬ 0,8

Û 56x = 42y Þ = = Þ x = 3, y = 4

Công thức của oxit sắt là Fe 2O 3.

* Lập CTHH dựa vào phương trình hóa học (PTHH). Phương pháp:

– Phân tích đề chính xác và khoa học.

– Quy đổi các dữ kiện ra số mol (nếu được)

– Viết phương trình hóa học

– Dựa vào lượng của các chất đã cho tính theo PTHH. Tìm M nguyên tố.

: Cho 2,4 gam kim loại R hoá trị II tác dụng với dung dịch H 2SO 4 loãng dư thấy giải phóng 2,24lít H 2 (đktc). Hãy xác định kim loại M.

Hướng dẫn giải

nH 2 = 2,24 : 22,4 = 0,1mol

mol: 0,1 ¬ 0,1

M R = = = 24 g. Vậy R là kim loại Magie (Mg).

: Bài toán xác định thành phần hỗn hợp. *Phương pháp

– Qui đổi các dữ kiện về số mol.

– Phân tích đề bài một cách khoa học xem trong hỗn hợp chất nào phản ứng, chất nào không phản ứng hay cả hỗn hợp đều tham gia phản ứng.

– Đặt ẩn số cho các chất phản ứng (thường là số mol) và viết các PTHH.

– Dựa vào PTHH và dữ kiện đề bài để lập hệ phương trình (nếu cần thiết).

– Tính thành phần của hỗn hợp theo công thức:

%Atrong hỗn hợp = .100%

Cho 10,5g hỗn hợp 2 kim loại Cu, Zn vào dung dịch H 2SO 4 loãng dư, người ta thu được 2,24 lít khí (đktc). Tính thành phần % về lượng các chất trong hỗn hợp kim loại.

Hướng dẫn giải

nH 2 = 2,24 : 22,4 = 0,1 (mol)

Cu không tác dụng với dung dịch H2SO4 loãng

PTHH: Zn + H2SO4 ® ZnSO4 + H2­

mol: 0,1 ¬ 0,1

m Zn = 0,1.65 = 6,5 (g) m Cu = 10,5 – 6,5 = 4 (g)

%Zn = % = 61,9% %Cu = 100% – 61,9% = 38,1%

Cho 3,15 gam hai kim loại vụn nguyên chất gỗm Al và Mg tác dụng hết với H 2SO 4 loãng thì thu được 3,36 lít một chất khí (đktc). Xác định thành phần % mỗi kim loại trong hỗn hợp.

Hướng dẫn giải

nH 2 = 3,36 : 22,4 = 0,15 (mol)

Gọi x, y lần lượt là số mol của Mg và Al

24x + 27y = 3,15 (*)

PTHH: Mg + 2HCl ® MgCl 2 + H2­ (1)

mol: x ® x

2Al + 6HCl ® 2AlCl 3 + 3H 2 ­ (2)

mol: y ® 1,5y

Theo (1), (2): nH 2 = x + 1,5y = 0,15 (**)

Giải (*), (**) ta được: x = 0,075 ; y = 0,05

mMg = 0,075.24 = 1,8 (g) mZn = 0,05.27 = 1,35 (g)

%Mg = % = 57,14 % %Al = 100% – 57,14% = 42,86 %

Dạng 5: Dạng toán về CO2 tác dụng với kiềm. Phương pháp:

Các phương trình hóa học:

NaOH + CO 2 ® NaHCO 3 (1)

– Dựa vào dữ kiện đề bài tìm số mol của CO 2 và số mol của NaOH.

– Lập tỉ số:

– Từ tỉ số trên ta có một số trường hợp sau:

Nếu T £ 1 thì chỉ tạo NaHCO3, khí CO2 còn dư và ta tính toán dựa vào số mol NaOH chỉ theo phương trình (1), dấu “=” xảy ra khi phản ứng vừa đủ.

Nếu T ³, NaOH còn dư và ta tính toán dựa vào số mol CO2 chỉ theo phương trình (2), dấu “=” xảy ra khi phản ứng vừa đủ.

Cho 2,24 lít khí SO 2 (đktc) tác dụng với 150 ml dung dịch NaOH 1,5 M. Tính khối lượng các chất sau phản ứng.

Hướng dẫn giải

nSO 2 = 2,24 : 22,4 = 0,1 (mol) nNaOH = 0,15.1,5 = 0,225 (mol)

PTTH: 2NaOH + CO2 ® Na2CO3 + H2O

mol ban đầu: 0,225 0,1

mol phản ứng: 0,2 ¬ 0,1 ® 0,1

mNa 2CO 3 = 0,1.106 = 10,6 (g) ; mNaOH dư = (0,225 – 0,2).40 = 1 (g)

Cho 4, 84 gam CO 2 đi qua dung dịch NaOH sinh ra 11,44 gam hỗn hợp 2 muối Na 2CO 3 và NaHCO 3. Hãy xác định số gam mỗi muối trong hỗn hợp.

Hướng dẫn giải

nCO 2 = 4,84 : 44 = 0,11 (mol)

Gọi x, y lần lượt là số mol của NaHCO 3 và Na 2CO 3

84x + 106y = 11,44 (*)

PTHH: NaOH + CO 2 ® NaHCO 3 (1)

mol: x ¬ x

mol: y ¬ y

Theo (1), (2) ta có: nCO 2 = x + y = 0,11 (**)

Giải (*), (**) ta được: x = 0,01 ; y = 0,1

mNaHCO 3 = 0,01.84 = 0,84 (g)

Để giúp học sinh lớp 9 có được kỹ năng giải được 1 số dạng toán định lượng như trên thì cả giáo viên và học sinh phải không ngừng nỗ lực thực hiện các giải pháp sau mới đạt hiệu quả.

Đối với Giáo viên

Phải rèn luyện kỹ năng phân tích đề cho học sinh để giúp học sinh nhận dạng được bài toán. Giúp các em tìm ra đường đi cho bài toán đó. .

Nhiệt tình, chịu khó, kiên nhẫn trong quá trình nghiên cứu và thực hiện.

Tìm hiểu rõ những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế của vấn đề.

Nghiên cứu tìm những phương pháp phù hợp với từng đối tượng học sinh.

Chỉnh sửa kịp thời những học sinh làm sai bài toán và đưa ra nguyên nhân mà học sinh đã làm sai để rút kinh nghiệm.

Phải cần chú ý và quan tâm đến những học sinh trung bình, yếu.

Phải hệ thống hóa kiến thức trọng tâm cho học sinh một cách khoa học.

Nắm vững các phương pháp giải bài tập và xây dựng hệ thống bài tập phải thật sự đa dạng, nhưng vẫn đảm bảo trọng tâm của chương trình phù hợp với đối tượng học sinh.

Tận dụng mọi thời gian để có thể hướng dẫn giải được lượng bài tập là nhiều nhất, có hiệu quả nhất cho học và học sinh dễ hiểu nhất.

Luôn quan tâm và có biện pháp giúp đỡ các em học sinh có học lực trung bình, yếu. Không ngừng tạo tình huống có vấn đề đối với các em học sinh khá giỏi …

Đối với Học sinh*Về kiến thức

Là phương tiện để ôn tập củng cố, hệ thống hoá kiến thức một cách tốt nhất.

Rèn khả năng vận dụng kiến thức đã học, kiến thức tiếp thu được qua bài giảng thành kiến thức của mình, kiến thức được nhớ lâu khi được vận dụng thường xuyên.

Đào sâu, mở rộng kiến thức đã học một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn.

* Về kỹ năng

Phải tích cực rèn kỹ năng hệ thống hóa kiến thức sau mỗi bài, mỗi chương. Phân loại bài tập hóa học và lập hướng giải cho từng dạng toán.

Bài tập hoá học là một trong những cách hình thành kiến thức kỹ năng mới cho học sinh.

Rèn kỹ năng hoá học, khả năng tính toán một cách khoa học.

Phát triển năng lực nhận thức rèn trí thông minh.

* Về thái độ

Có lòng yêu thích, đam mê học môn Hóa học khi đã hiểu rõ vấn đề.

Phát hiện và giải quyết vấn đề một cách khách quan, trung thực trên cơ sở phân tích khoa học.

CHÚC CÁC THẦY CÔ VÀ CÁC EM HỌC SINH GIẠY TỐT HỌC TỐT

Người trình bày

GV : Phạm Thị Hòa

Rèn Luyện Kỹ Năng Giải Một Số Dạng Toán Định Lượng Hóa Học 9 : Trường Thcs Quảng Tiến

Rèn luyện kỹ năng giải một số dạng toán định lượng Hóa học 9

1.Phần mở đầu.

1.1 Lí do chọn đề tài.

Hoá học là bộ môn khoa học thực nghiệm, có tầm quan trọng trong trường phổ thông và trong thực tiễn đời sống con người.. Tuy nhiên đây lại là một môn học mà học sinh được tiếp cận muộn  so với các môn  khoa học tự nhiên khác như: Toán, Lí … Vì vậy kinh nghiệm bộ môn, kỹ năng giải các dạng bài tập đối với học sinh lớp 9 nói riêng và với học sinh THCS nói chung còn lúng túng, khó giải được các dạng bài tập ở lớp 9 từ đó khó hơn khi học lên THPT.

Với bộ môn Hóa học có hai dạng bài tập cơ bản là bài tập định tính như nhận biết các hóa chất dạng dung dịch, rắn, khí hay là lập phương trình, viết chuổi phản ứng hóa học… Dạng thứ hai là làm các bài tập định lượng như tính khối lượng, thể tích chất tham gia, chất tạo thành, lập công thức hóa học…

Đối với dạng bài tập định lượng này ngoài phải nắm được tính chất hóa học của chất thì phải nắm được các công thức, kỹ năng tính toán đặc biệt là kỹ năng, phướng pháp giải các dạng toán định lượng Hóa học.

Với đặc thù như vậy thì Hóa học là một môn học mà đa số học sinh ở  cấp trung học cơ sở nói chung và học sinh lớp 9 nói riêng đều cho là môn học khó, nhàm chán thậm chí là cảm giác sợ học của một số học sinh nhất là đối với học sinh yếu.

Trong chương trình Hóa học lớp 9, tiết luyện tập chỉ có sau mỗi chương hoặc là sau khi nghiên cứu về tính chất của một chất. Trong tiết dạy chỉ có 45 phút, thời gian để rèn luyện cho các em kỹ năng giải các bài tập toán định lượng Hóa học không được nhiều nên nhìn chung  học sinh đa số yếu và thậm chí không tự tin trong học tập bộ môn này.

Trường THCS là một trường thuộc vùng miền đặc biệt khó khăn, dân cư làm nghề thủ công Mây – Đan nên hầu như toàn bộ thời gian ở nhà các em dùng để đan Mây, đan Nón và ít có thời gian học nên kỹ năng bộ môn càng yếu.

Rèn luyện kỹ năng  giải 1 số  dạng  bài tập định lượng Hóa học  9 là một biện pháp rất quan trọng để cũng cố và nắm vững các định luật, các khái niệm và tính chất hóa học của các chất. Nhưng thực tế ở các trường, thời gian giải bài tập trên lớp của các em rất ít, bản thân học sinh chưa nắm vững cách giải và hệ thống hóa được các dạng bài tập, vì thế các em không thể tự học ở nhà nhất là các học sinh lớp 9. Kết quả là học sinh ít làm bài tập, chỉ học những lí thuyết suông, không đáp ứng được yêu cầu do môn Hóa học đề ra, từ từ các em cảm thấy sợ học môn Hóa. Là giáo viên dạy Hóa 8-9, tôi luôn băn khoăn, trăn trở nhiều về vấn đề này.

Từ những thực trạng nêu trên, tôi thiết nghĩ cần phải có một bộ tài liệu hệ thống hóa kỹ năng giải một số dạng bài tập định lượng, cơ bản ở bậc THCS nói chung và lớp 9 nói riêng nhằm giúp các em có thể tự học, tự giải bài tập ở nhà, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng học tập môn Hóa của học sinh.

Trong đề tài của mình tôi sẻ nghiên cứu “Rèn luyện kỹ năng  giải một số dạng toán định lượng Hóa học 9” cho học sinh lớp 9 trường THCS  nhằm có cái nhìn rõ nét về thực tế của vấn đề này, giúp tìm ra nguyên nhân của những khó khăn mà học sinh gặp phải trong quá trình học tâp. Đồng thời, đề tài  đưa ra một số giải pháp để  góp phần nâng cao kỹ năng giải một số dạng toán  định lượng Hóa học cho học sinh lớp 9.

Trong phạm vi đề tài này đồng nghiệp chưa có ai nhiên cứu, mặt khác trong quá trình giảng dạy tại trường, thực tế  kỹ năng  giải một số dạng  toán  định lượng hóa học cúa học sinh lớp 9 nói riêng và của toàn học sinh nói chung còn yếu nên tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài này để nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn của mình tại trường sở tại.

1.2. Phạm vi áp dụng cho đề tài.

          Đề tài này áp dụng cho học sinh lớp 9 nói chung và học sinh THCS nói riêng và được áp dụng cụ thể tại cấp THCS và cũng  có thể  là tài liệu tham khảo cho đồng nghiệp dạy và học sinh học bộ môn Hóa học tại địa phương.

Phần nội dung.

2.1.Thực trạng của nội dung cần nghiên cứu.

Học sinh của trường THCS đa số là học sinh con em  nhà nông, làm rẫy, làm nghề mây tre đan, nón lá… kinh tế gia đình khó khăn do đó ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình học tập của học sinh. Thực tế học sinh chất lượng đại trà  thấp, kỹ năng giải toán bộ môn kém. Đặc biệt ở khối 9 các em muốn học nhưng không biết bắt đầu từ đâu vì một số em đã bị mất gốc, thiếu phương pháp học tập, thiếu kỹ  năng giải các dạng toán bộ môn. Nhiều em không có hứng thú học tập, thấy sợ khi đến tiết học Hóa học nhất là khi tiếp xúc với công thức, phương trình, các bài tập giải .Vì vậy  nhiều em trên lớp không tham gia vào hoạt động học vì không hiểu. Các em chỉ đơn thuần ngồi chờ kết quả từ các bạn giỏi hơn hoặc từ phía thầy cô…Dù đã được học Hóa học từ năm lớp 8 và đầu năm lớp 9  nhưng kỷ năng giải toán định lượng  hóa học của học sinh còn yếu, mỗi khi lên lớp tôi luôn gặp những ánh mắt lo âu.  Giờ học rất trầm…Trong một lớp chỉ có vài học sinh hoạt động tích cực trong các tiết học còn lại thì ngồi  im, làm cho không khí lớp học  rất buồn tẻ, thiếu sinh khí , quá chênh lệch. Đây là một vấn đề làm tôi  suy nghĩ,trăn trở  tìm giải pháp để khắc phục.

Như chúng ta đã biết, Hóa học là một môn khoa học thực nghiệm, mới mẻ  và  tương đối khó đối với học sinh. Đặc biệt  là đối với học sinh nông thôn, học sinh thuộc vùng khó khăn. Vì vậy vấn đề  “Rèn luyện kỹ năng  giải một số dạng  toán  định lượng hóa học 9” cho học sinh luôn là câu hỏi thường xuyên mà tôi trăn trở  muốn tìm ra câu trả lời để khắc phục được thực trạng trên.

Là giáo viên trực tiếp giảng dạy, tôi phải quyết tâm tìm ra giải pháp là làm sao cho các em thấy những điều lý thú trong học Hóa học, khơi dậy sự ham hiểu biết ở học sinh có thể giúp tất cả các đối tượng học đều có kỹ giải toán Hóa học… Qua nhiều năm học hỏi, tham khảo tài liệu và những kinh nghiệm được rút ra  thông qua các giờ dạy thực tế ở trên lớp, bản thân  tôi đã tìm ra được phương pháp dạy phù hợp, thu hút được phần lớn học sinh tham gia  bài học một cách chủ động, sáng tạo nhất là trong các tiết dạy luyện tập, ôn tập có sử dụng kỹ năng giải  các dạng bài tập toán Hóa học.

  Tình hình khảo sát  chất lượng đầu năm năm học 2017 – 2018  khi chưa áp dụng  các giải pháp này ở  lớp 9 trường THCS  như sau:

 

* Nguyên nhân:

Qua quá trình giảng  dạy và tìm hiểu học sinh khối 9 tôi đã tìm ra một số nguyên nhân dẫn đến kỹ năng giải các dạng bài tập định lượng Hóa học  ở học sinh còn thấp đó là:

  Về học sinh :

Hóa học là một môn khoa học thực nghiệm đòi hỏi học sinh vừa phải nắm được lý thuyết, vừa phải có kỷ năng thực hành, mặt khác các dạng bài tập lại rất rộng và khó.

Muốn giải được các dạng bài tập định lượng trong chương trình hóa học lớp 9 thành công thì đòi hỏi học sinh phải nắm chắc tính chất hóa học của các chất,có lòng hăng say, yêu thích bộ môn và phải có phương pháp giải các dạng toán…Với môn học như vậy nhưng các em chỉ mới được tiếp cận bắt đầu từ năm lớp 8, bên cạnh đó cách học thụ động, đọc thuộc lý thuyết, thiếu tính thực hành, thiếu rèn luyện, kỹ năng giải các bài tập cụ thể… do đó hạn chế không nhỏ đến chất lượng học tập bộ môn của các em . Là  một bộ môn đòi hỏi học sinh phải chăm chỉ, thường xuyên học bài, thường xuyên luyện tập nhưng các em chưa dành nhiều thời gian cho học tập do điều kiện gia đình khó khăn. Một số học sinh còn lười học hoặc ỷ lại còn khá lớn.Tinh thần tự học chưa cao, thiếu phương pháp học tập. Có học sinh không học bài cũng như không soạn bài mới trước khi đến lớp  thậm chí có em không biết bài học này nói về vấn đề gì? Một số khác thì ham chơi, các em không tha thiết với việc học của mình.

Học sinh nông thôn còn nhút nhát, tự ti thấy bài tập khó thì nhụt chí không chịu học hỏi bạn, thầy để giải quyết nên dần dần kỹ năng giảỉ toán nhất là các dạng toán định lượng hóa học bị mai một, dần mất gốc.

Về giáo viên : 

 Về  nhà trường

Việc đẩy mạnh phương pháp dạy học mới nhằm tạo ra thế hệ học sinh vừa giỏi về lý thuyết, vừa giỏi về thực hành của bộ môn Hóa học ở trường sở tại còn gặp nhiều khó khăn do cơ sở vật chất. Tại trường THCS, bộ môn Hóa học vẫn chưa được đưa vào dạy bổ trợ kiến thức trái buổi như đối với các bộ môn Toán, văn nên thời gian rèn luyện kỹ năng giải các dạng  toán định lượng hóa học cho học sinh vẫn chưa được thích đáng.

2.2. Các giải pháp.

Từ thực tế  kết quả khảo sát và vốn kĩ năng giải các dạng bài tập định lượng của học sinh lớp 9 trường tôi đang trực tiếp giảng dạy rất thấp nên  tôi đã suy nghĩ, trăn trở  và tìm  nhiều  giải pháp để nâng cao chất lượng bộ môn cũng như rèn luyện cho các em có được kĩ năng giải các bài tập định lượng trong chương trình THCS đáp ứng chuẩn kiến thức, kĩ năng . Trong nhiều giải pháp đó tôi tâm đắc nhất và quyết định sử dụng đó là hệ thống và hướng dẫn giãi các dạng  bài tập định lượng cơ bản nhất trong chương trình  THCS  để giúp học sinh lớp 9 có kĩ năng giãi các dạng bài tập định lượng đáp ứng nhu cầu bộ môn và tôi mạnh dạn trình bày kinh nghiệm thực tế của mình trước các đồng nghiệp để được trao đổi, học tập, góp ý nhằm không ngừng nâng cao tay nghề với  mục đích cuối cùng là  làm sao cho học sinh dể hiểu, say mê  hơn nữa đối với bộ môn Hóa học nhằm từng bước nâng cao chất lượng dạy và học.

Dạng 1: Toán tính theo phương trình hóa học tìm chất tham gia hoặc  chất tạo thành.

Dạng 2: Toán tính theo phương trình hóa học khi biết 2 chất phản ứng.

Dạng 3: Toán xác định công thức của hợp chất vô cơ.

Dạng 4: Toán xác định thành phần hỗn hợp.

Dạng 5: Toán về CO2 tác dụng với dung dịch kiềm.

Để làm được các dạng bài tập trên thì học sinh  phải hệ thống lại và bắt buộc nắm vững các nội dung lí thuyết sau để phục vụ việc giải toán:

* Nắm vững tính chất của các chất trong chương trình hóa học 8, 9 và viết được phương trình phản ứng.

* Nắm được hệ thống công thức, định luật sau trong chương trình hóa học 8,9 như:

– Tìm số mol chất.

+ Dựa và khối lượng chất.

Trong đó:  · m: khối lượng chất (g)· M: khối lượng mol (g)

           +  Dựa vào thể tích chất khí đo ở điều kiện tiêu chuẩn (đktc)

Trong đó: · V: thể tích chất khí đo ở đktc (lít)

          +  Dựa vào nồng độ mol dung dịch.

n = CM.V Trong đó: · CM: nồng độ mol dung dịch (mol/lít)· V: thể tích dung dịch (lít)

 – Công thức tính nồng độ phần trăm (C%).

mct: khối lượng chất tan (g)

mdd: khối lượng dung dịch (g)

mdd = mct + mdm

-Khi cho khối lượng riêng dung dịch D(g/ml)

mdd = D.V

-Khi trộn nhiều chất lại với nhau

mdd =  mtổng các chất phản ứng – mchất không tan – mchất khí

–  Tỉ khối của chất khí.

Trong đó: · MA: khối lượng mol của khí A.· MB: khối lượng mol của khí B.

*Chú ý: Nếu B là không khí thì MB = 29

–  Định luật bảo toàn khối lượng.

Định luật: Trong một phản ứng hóa học tồng khối lượng các chất phản ứng bằng tổng khối lượng các chất sản phẩm.

Phản ứng hóa học:              A + B ® C + D

Ta có:  mA + mB = mC + mD

– Ngoài ra việc giải bài toán hóa học đòi hỏi học sinh phải biết cách giải phương trình bậc nhất một ẩn số, giải hệ phương trình bậc nhất hai ẩn số, …

Dạng 1: Dạng toán tính theo phương trình hóa học để  tìm chất tham gia hoặc  chất tạo thành.

* Phương pháp:

– Chuyển đổi  các đại lượng bài toán cho như khối lượng (m), thể tích chất khí (V) về số mol(n)

– Viết phương trình hóa học cho phản ứng và cân bằng phương trình.

– Đặt tỉ lệ số mol chất tham gia và chất tạo thành theo phương trình

– Từ phương trình suy ra số mol chất cần tìm từ số mol chất đã cho.

– Tính khối lượng hoặc thể tích chất khí đề bài yêu cầu theo công thức:

m = n*M (gam) hoặc V(đktc) = n* 22,4(lít).

Ví dụ: Cho 5,6 gam sắt tác dụng với vừa đủ với khí oxi ở nhiệt độ cao tạo thành oxit sắt từ.

a/ Tính khối lượng  oxit sắt từ tạo thành?

b/ Tính thể tích khí oxi ở điều kiện tiêu chuẩn đã tham gia phản ứng.?

Hướng dẫn giải

Số mol Fe  = 5,6/ 56 = 0,1 (mol)

Phương trình:   3Fe      +   2 O2       t0       Fe3O4

0,1 mol        0,07mol           0,03 mol

a/ Từ phương trình ta có số mol  Fe3O4  = 0,03 ( mol)

Khối lượng  Fe3O4  = 0,03*  232=  6,96  ( gam)

b/ Thể tích khí oxi( đktc) = 0,07 * 22,4 = 1,57 ( lít)

Dạng 2: Tính theo phương trình hóa học khi biết 2 chất phản ứng( dạng toán dư).

* Phương pháp:

– Chuyển đổi các lượng chất đã cho ra số mol.

– Viết phương trình hóa học:    A  +  B  ® C  +  D

– Lập tỉ số: Số mol chất A (theo đề bài) Và Số mol chất B (theo đề bài)

Hệ số chất A (theo phương trình) Hệ số chất B(theo phương trình)

So sánh hai tỉ số này, số nào lớn hơn thì chất đó dư, chất kia phản ứng hết. Tính toán (theo yêu cầu của đề bài) theo chất phản ứng hết.

Ví  dụ : Hoà tan 2,4 g CuO trong 200 gam dung dịch HNO3 15,75%. Tính nồng độ phần trăm các chất có trong dung dịch sau khi phản ứng kết thúc.

Hướng dẫn giải

nCuO = 2,4 : 80 = 0,03 (mol)

mHNO3 =  = 31,5 (g)

Þ nHNO3 = 31,5 : 63 = 0,5 (mol)

PTHH:           CuO         +       2HNO3   Cu(NO3)2­          + H2O

mol ban đầu:   0,03                  0,5

mol phản ứng  0,03        ®         0,06        ®       0,03

Lập tỉ số: Þ  <  Þ HNO3 dư, CuO­ hết ta tính theo CuO.

Các chất sau khi phản ứng kết thúc gồm: Cu(NO3)2 và HNO3 còn dư

mCu(NO3­)2 = 0,03 . 188 = 5,64(g)    mHNO3dư = (0,5- 0,06).63 = 27,72(g)

mdd sau phản ứng = mCuO  + mdd HNO3 = 2,4 + 200 = 202,4(g)

C% ddCu(NO3)2 =  = 2,78%

C% ddHNO3 dư =  = 13,7%

Dạng 3: Xác định công thức của hợp chất vô cơ.

    Đối với dạng toán này khi giải học sinh gặp nhiều trừng hợp khác nhau, chúng ta sẽ xét các trường hợp cụ thể sau:

     *Lập CTHH của oxit sắt.

   Phương pháp:

– Đặt công thức của oxit sắt là FexOy

– Dựa vào dữ kiện của đề bài ta đưa về tỉ số  . Thí dụ :  =  Þ Fe2O3, …

– Khi giải toán ta cần phải chú ý sắt chỉ có 3 oxit sau: FeO, Fe2O3, Fe3O4.

Thí dụ 1: Một oxit sắt có thành phần phần trăm về khối lượng sắt trong oxit là 70%. Tìm công thức của oxit sắt.

            Hướng dẫn giải

Đặt công thức của oxit sắt là FexOy

%Fe = =  = 0,7

Û 16,8x = 11,2y Þ   = =  Þ x = 2, y = 3

Công thức của oxit sắt là Fe2O3.

Thí dụ 2: Xác định công thức của hai oxit sắt A. Biết rằng 23,2 gam A tan tan vừa đủ trong 0,8 lít HCl 1M.

Hướng dẫn giải

nHCl = 1.0,8 = 0,8 (mol)

Đặt công thức của oxit sắt là FexOy

PTHH:                  FexOy + 2yHCl  ®  xFeCl2y/x  +  yH2O

mol:     ¬   0,8

MFexOy = 56x + 16y =   = 58y

Û 56x = 42y Þ   = =  Þ x = 3, y = 4

Công thức của oxit sắt là Fe2O3.

* Lập CTHH dựa vào phương trình hóa học (PTHH).

                Phương pháp:

– Phân tích đề chính xác và khoa học.

– Quy đổi các dữ kiện ra số mol (nếu được)

– Viết phương trình hóa học

– Dựa vào lượng của các chất đã cho tính theo PTHH. Tìm M nguyên tố.

Thí dụ : Cho 2,4 gam kim loại R hoá trị II tác dụng với dung dịch H2SO4 loãng dư thấy giải phóng 2,24lít H2 (đktc). Hãy xác định kim loại M.

                       Hướng dẫn giải

nH2  = 2,24 : 22,4 = 0,1mol

PTHH:        R  +   H2SO4  ®  RSO4   +  H2

mol:   0,1              ¬                  0,1

MR =  =  = 24 g. Vậy R là kim loại Magie (Mg).

Dạng 4: Bài toán xác định thành phần hỗn hợp.

                           *Phương pháp

– Qui đổi các dữ kiện về số mol.

– Phân tích đề bài một cách khoa học xem trong hỗn hợp chất nào phản ứng, chất nào không phản ứng hay cả hỗn hợp đều tham gia phản ứng.

– Đặt ẩn số cho các chất phản ứng (thường là số mol) và viết các PTHH.

– Dựa vào PTHH và dữ kiện đề bài để lập hệ phương trình (nếu cần thiết).

– Tính thành phần của hỗn hợp theo công thức:

%Atrong hỗn hợp = .100%

Thí dụ 1: Cho 10,5g hỗn hợp 2 kim loại Cu, Zn vào dung dịch H2SO4 loãng dư, người ta thu được 2,24 lít khí (đktc). Tính thành phần % về lượng các chất trong hỗn hợp kim loại.

Hướng dẫn giải

nH2 = 2,24 : 22,4 = 0,1 (mol)

Cu không tác dụng với dung dịch H2SO4 loãng

PTHH:                  Zn + H2SO4  ®  ZnSO4 + H2­

mol:    0,1          ¬                         0,1

mZn = 0,1.65 = 6,5 (g)                       mCu = 10,5 – 6,5 = 4 (g)

%Zn = % = 61,9%              %Cu = 100% – 61,9% = 38,1%

Thí dụ 2: Cho 3,15 gam hai kim loại vụn nguyên chất gỗm Al và Mg tác dụng hết với H2SO4 loãng thì thu được 3,36 lít một chất khí (đktc). Xác định thành phần % mỗi kim loại trong hỗn hợp.

                       Hướng dẫn giải

nH2 = 3,36 : 22,4 = 0,15 (mol)

Gọi x, y lần lượt là số mol của Mg và Al

24x + 27y = 3,15 (*)

PTHH:        Mg  +   2HCl    ®    MgCl2  +   H2­          (1)

mol:   x                  ®                         x

2Al   +  6HCl       ®   2AlCl3   +  3H2­                (2)

                   mol:   y                  ®                           1,5y

Theo (1), (2):   nH2 = x + 1,5y = 0,15 (**)

Giải (*), (**) ta được:          x = 0,075 ; y = 0,05

mMg = 0,075.24 = 1,8 (g)                      mZn = 0,05.27 = 1,35 (g)

%Mg = % = 57,14 %               %Al = 100% – 57,14% = 42,86 %

Dạng 5:  Dạng toán về CO2 tác dụng với kiềm.

    * CO2 (hoặc SO2) tác dụng với dung dịch NaOH (hoặc KOH)

      Phương pháp:

Các phương trình hóa học:

NaOH + CO2 ® NaHCO3                    (1)

2NaOH + CO2 ® Na2CO3 + H2O                   (2)

– Dựa vào dữ kiện đề bài tìm số mol của CO2 và số mol của NaOH.

– Lập tỉ số:   

– Từ tỉ số trên ta có một số trường hợp sau:

Nếu T £ 1 thì chỉ tạo NaHCO3, khí CO2 còn dư và ta tính toán dựa vào số mol NaOH chỉ theo phương trình (1), dấu “=” xảy ra khi phản ứng vừa đủ.

Nếu T ³ 2 thì chỉ tạo Na2CO3, NaOH còn dư và ta tính toán dựa vào số mol CO2 chỉ theo phương trình (2), dấu “=” xảy ra khi phản ứng vừa đủ.

Nếu 1 < T < 2 thì tạo NaHCO3 và Na2CO3 phản ứng xảy ra theo hai phương trình (1), (2). Với x, y lần lượt là số mol của 2 muối NaHCO3 và Na2CO3. Ta lập hệ Þ x, y.

Thí dụ 1: Cho 2,24 lít khí SO2 (đktc) tác dụng với 150 ml dung dịch NaOH 1,5 M. Tính khối lượng các chất sau phản ứng.

Hướng dẫn giải

nSO2 = 2,24 : 22,4 = 0,1 (mol)                   nNaOH = 0,15.1,5 = 0,225 (mol)

PTTH:        2NaOH + CO2 ® Na2CO3 + H2O

mol ban đầu:    0,225      0,1

mol phản ứng:   0,2  ¬   0,1  ®   0,1

mNa2CO3 = 0,1.106 = 10,6 (g)          ;         mNaOH dư = (0,225 – 0,2).40 = 1 (g)

Thí dụ 2: Cho 4, 84 gam CO2 đi qua dung dịch NaOH sinh ra 11,44 gam hỗn hợp 2 muối Na2CO3 và NaHCO3. Hãy xác định số gam mỗi muối trong hỗn hợp.

Hướng dẫn giải

nCO2 = 4,84 : 44 = 0,11 (mol)

Gọi x, y lần lượt là số mol của NaHCO3 và Na2CO3

84x + 106y = 11,44 (*)

PTHH:        NaOH + CO2 ® NaHCO3                           (1)

mol:                     x       ¬  x

2NaOH + CO2 ® Na2CO3 + H2O               (2)

mol:                     y       ¬  y

Theo (1), (2) ta có:                   nCO2 = x + y = 0,11 (**)

Giải (*), (**) ta được:      x = 0,01 ; y = 0,1

mNaHCO3 = 0,01.84 = 0,84 (g)

mNa2CO3 = 0,1.106 = 10,6 (g)

Để giúp học sinh lớp 9 có được kỹ năng giải được 1 số dạng toán định lượng như trên thì cả giáo viên và học sinh phải không ngừng nỗ lực thực hiện các giải pháp sau  mới đạt hiệu quả.

  Đối với Giáo viên

Phải rèn luyện kỹ năng phân tích đề cho học sinh để giúp  học sinh nhận dạng được bài toán. Giúp các em tìm ra đường đi cho bài toán đó. .

Nhiệt tình, chịu khó, kiên nhẫn trong quá trình nghiên cứu và thực hiện.

Tìm hiểu rõ những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế của vấn đề.

Nghiên cứu tìm những phương pháp phù hợp với từng đối tượng học sinh.

Chỉnh sửa kịp thời những học sinh làm sai bài toán và đưa ra nguyên nhân mà học sinh đã làm sai để rút kinh nghiệm.

Phải cần chú ý và quan tâm đến những học sinh trung bình, yếu.

          Phải hệ thống hóa kiến thức trọng tâm cho học sinh một cách khoa học.

Nắm vững các phương pháp giải bài tập và xây dựng hệ thống bài tập phải thật sự đa dạng, nhưng vẫn đảm bảo trọng tâm của chương trình phù hợp với đối tượng học sinh.

Tận dụng mọi thời gian để có thể hướng dẫn giải được lượng bài tập là nhiều nhất, có hiệu quả nhất cho học và học sinh dễ hiểu nhất.

Luôn quan tâm và có biện pháp giúp đỡ các em học sinh có học lực trung bình, yếu. Không ngừng tạo tình huống có vấn đề đối với các em học sinh khá giỏi …

Đối với Học sinh

*Về kiến thức

Là phương tiện để ôn tập củng cố, hệ thống hoá kiến thức một cách tốt nhất.

Rèn khả năng vận dụng kiến thức đã học, kiến thức tiếp thu được qua bài giảng thành kiến thức của mình, kiến thức được nhớ lâu khi được vận dụng thường xuyên.

Đào sâu, mở rộng kiến thức đã học một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn.

* Về kỹ năng

Phải tích cực rèn kỹ năng hệ thống hóa kiến thức sau mỗi bài, mỗi chương. Phân loại bài tập hóa học và lập hướng giải cho từng dạng toán.

Bài tập hoá học là một trong những cách hình thành kiến thức kỹ năng mới cho học sinh.

Rèn kỹ năng hoá học, khả năng tính toán một cách khoa học.

Phát triển năng lực nhận thức rèn trí thông minh.

 * Về thái độ

Có lòng  yêu thích, đam mê học môn Hóa học khi đã hiểu rõ vấn đề.

Phát hiện và giải quyết vấn đề một cách khách quan, trung thực trên cơ sở phân tích khoa học.

CHÚC CÁC THẦY CÔ VÀ CÁC EM HỌC SINH GIẠY TỐT HỌC TỐT

Người trình bày

GV : Phạm Thị Hòa

Bạn đang xem bài viết “Một Số Phương Pháp Rèn Luyện Kỹ Năng Biểu Đồ Địa Lý Lớp 9” trên website Maiphuongus.net. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!