Xem Nhiều 2/2023 #️ Giáo Án Ngữ Văn 11 Tiết 13 Đọc Thêm: Vịnh Khoa Thi Hương (Trần Tế Xương ) # Top 9 Trend | Maiphuongus.net

Xem Nhiều 2/2023 # Giáo Án Ngữ Văn 11 Tiết 13 Đọc Thêm: Vịnh Khoa Thi Hương (Trần Tế Xương ) # Top 9 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Giáo Án Ngữ Văn 11 Tiết 13 Đọc Thêm: Vịnh Khoa Thi Hương (Trần Tế Xương ) mới nhất trên website Maiphuongus.net. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

( Trần Tế Xương ) Mục tiêu bài học Giúp Hs: Thấy được bức tranh sinh động và chân thực nhất về tình hình xã hội thi cử của nước ta buổi giao thời trong chế độ thực dân và phong kiến. Thái độ mỉa mai, châm biếm đối với một kì thi lố lăng, trơ trẻn của nhà thơ; đồng thời bộc lộ nỗi nhục mất nước và niềm đau xót của một kẻ sĩ đương thời. Chuẩn bị. Giáo viên: Sgk, Stk, soạn giảng Học sinh: Tìm đọc tư liệu tham khảo về bài thơ, soạn bài. C. Tiến trình bài dạy 1. Ổn định lớp 2. Kiểm tra bài cũ Đọc thuộc lòng bài thơ “Khóc Dương Khuê” và cho biết tình cảm của NK dành cho người bạn của mình. Bài mới Hoạt động của Gv – Hs Nội dung cần đạt Gọi Hs đọc tiểu dẫn ở sgk, tìm hiểu đề tài bài thơ. Pv. Em thấy có điều gì khác thường trong hai câu thơ đầu? Giảng. – Cứ ba năm nhà nước mở một khoa thi như thế, đó là quy định bình thường của lệ thi cử. Điều bất thường: “Trường Nam thi lẫn với trường Hà”. Đời nhà Nguyễn toàn cõi Bắc Kì có 2 điểm thi Hương: Nam Định và Hà Nội. Năm Đinh Dậu 1897, vì sợ các cuộc khởi nghĩa của nhân dân, Td Pháp không cho tổ chức thi ở Hà Nội nữa, nên chính quyền nhà Nguyễn cho dồn tất cả xuống Nam Định “ Lẫn”: diễn tả cái hỗn tạp, láo nháo, không còn thể thống gì Pv. Em có nhận xét gì về hình ảnh sĩ tử và quan trường? Phân tích một số từ ngữ, hình ảnh và biện pháp nghệ thuật trong hai câu thực. Từ đó em có cảm nhận như thế nào về cảnh thi cử lúc bấy giờ? Giảng. Nhân vật trọng tâm của trường thi: sĩ tử và quan trường được khắc hoạ rất sắc nét, bộc lộ tính cách kì thi và tính chất xã hội. NT: đảo ngữ ¦ hình ảnh thí sinh lôi thôi với những chai lọ trên vai thật là xốc xếch. “ Vai đeo lọ” ¦ cái vẻ xiêu vẹo, gảy đổ, lếch thếch, chẳng ra gì của những ông cử tương lai. Sĩ tử thì “ lôi thôi”; lũ quan trường thì “ậm oẹ”. Ậm oẹ là một từ rất sáng tạo của Tú Xương. Lũ quan trường dùng cái loa để chỉ dẫn, điều khiển, nhắc nhở, gọi tên thí sinh. Vì vùng đất đặt trường thi rất rộng, thí sinh đông nên quan trường phải thét vào loa “ậm oẹ” là một âm thanh ú ớ, nói không thành tiếng rõ, nhưng đó là cái giọng điệu lên gân la lối, vênh váo của những kẻ dựa hơi chứ không có thực quyền. Cho nên nếu thí sinh mất đi cái vẻ nho nhã trí thức của thuở nào thì “giám khảo” cũng không còn cái dáng nghiêm trang đáng tôn kính. Pv. Phân tích hình ảnh quan sứ, bà đầm và sức mạnh châm biếm, đả kích của biện pháp nghệ thuật đối ở hai câu luận. Giảng. Hình ảnh “ông Tây mụ đầm” ở đây phản ánh đúng bản chất xã hội lúc bấy giờ: xã hội nô lệ mà người nắm thực qyền là thực dân. Hình ảnh “lọng cắm rợp trời” cho thấy cảnh tiếp đón dành cho Tây thật là long trọng, kính cẩn. Hình ảnh quan Tây mụ đầm ngồi trên cao cho thấy cảnh mất nước của chúng ta. Nhưng cái thú vị nhất ở đây là Tú Xương đã lợi dụng nghệ thuật thơ Đường để bày tỏ thái độ của mình đối với cái mà mình không thích. Lợi dụng nghệ thuật đối, Tú Xương đã đặt cái “váy” của bà đầm ngang với cái “lọng” của ông Tây. Ghép hai hình ảnh đó với nhau, cho nó đối nhau, Tú Xương đã chơi một vố rất đau, rất thẳng tay đối với lũ quan Tây. Tương tự như thế, “quan sứ” đối với “mụ đầm”, quan sứ là chữ trang trọng để gọi ông Tây, nhưng “mụ đầm” là chữ “chơi xỏ”, là để chửi, mụ là tiếng gọi hạng đàn bà không ra gì, gọi ông quan Tây thì trang trọng, nhưng gọi vợ ông quan là con mụ chẳng ra gì, đó là cách chửi của Tú Xương Pv. Phân tích tâm trạng, thái độ của tác giả trước cảnh tượng trường thi. Lời nhắn gọi của Tú Xương ở hai câu cuối có ý nghĩa gì? Giảng. Đất Bắc chỉ vùng Hà Nội, kinh đô của ngàn năm văn vật, nơi tụ hội của nhân tài đất nước. Câu thơ là một tiếng kêu than của chính mình, đồng thời còn là tiếng kêu gọi đối với những ai còn nghĩ tới cái nhục mất nước, còn tự hào về truyền thống của dân tộc. Âm điệu câu thơ có cái gì xót xa cho thấy tâm trạng xốn xang của tác giả Tìm hiểu chung Đề tài: thi cử – một đề tài khá đậm nét trong sáng tác của Tú Xương Chủ đề: Bài thơ thể hiện thái độ mỉa mai, phẫn uất của nhà thơ đối với chế độ thi cử đương thời và đối với con đường khoa cử của riêng ông. Qua đó, tác giả vẽ nên một phần hiện thực nhốn nháo ô hợp của xã hội thực dân nửa phong kiến buổi đầu. Phân tích. Hai câu đề. Hai câu đề có tính chất tự sự, nhằm kể lại cuộc thi. Kì thi mở đúng theo thông lệ, “ba năm mở một khoa”. Nhưng sự bất thường ở chỗ: “Trường Nam thi lẫn với trường Hà” Từ “lẫn” thể hiện rõ sự ô hợp, nhộn nhạo trong thgi cử. Hai câu thực. Sĩ tử: Nghệ thuật đảo ngữ ¦ nhấn mạnh sự luộm thuộm, xốc xếch, không gọn gàng. Đó là hình ảnh “nho phong sĩ khí” do sự ô hợp, nhốn nháo của xã hội đưa lại. Quan trường: “ậm oẹ miếng thét loa”¦ cái oai nhưng là cái oai cố tạo ra. Nt đảo ngữ giúp người đọc thấy được tính chất lộn xộn của kì thi. ª Tạp nhạp, lôi thôi của thi cử và cái nhố nhăng của xã hội VN trong buổi đầu giao thời. Hai câu luận Đối lập với hình ảnh sĩ tử và quan trường là hình ảnh quan sứ và bà đầm. Hai nhân vật này được đón tiếp rất linh đình “lọng cắm rợp trời”. Nghệ thuật đảo ngữ kết hợp nghệ thuật đối tạo nên sức mạnh đả kích, châm biếm dữ dội, sâu cay. Hai câu kết Hai câu kết chuyển đổi giọng từ mỉa mai châm biếm sang trữ tình. Đó là lời kêu gọi, đánh thức lương tri. Câu hỏi phiếm chỉ không chỉ hướng đến các sĩ tử thi năm đó mà còn là những người được xem là nhân tài đất Bắc hãy “ngoảnh cổ mànước nhà”. Từ một khoa thi nhưng bức tranh về hiện thực xã hội năm Đinh Dậu đã được hiện lên. Bên cạnh đó còn là nỗi nhục mất nước, sự tác động đến tâm lnh người đọc. Tổng kết Qua bài thơ “Vịnh khoa thi Hương” Tú Xương đã vẽ lại cái cảnh trường thi nhỏ thôi mà bộc lộ được bản chất của cả xã hội Việt Nam. 4. Củng cố. – Phân tích cảch trường thi năm Đinh Dậu, qua đó nêu rõ thái độ, tâm trạng của Trần Tế Xương trong bài. 5. Dặn dò. – Học bài, soạn bài “Tìm hiểu thêm về Nguyễn Khuyến” Rút kinh nghiệm:

Giáo Án Ngữ Văn 11: Đọc Văn Vịnh Khoa Thi Hương (Trần Tế Xương)

NS: 13/9/08 Đọc văn NG: 16/9/08 VỊNH KHOA THI HƯƠNG ( TRẦN TẾ XƯƠNG) A, Mục tiêu cần đạt: Giúp HS Cảm nhận được bút pháp trào phúng thể hiện thái độ mỉa mai phẫn uất của nhà thơ đối với chế độ thi cử đương thời và đối với con đường khoa cử của riêng ông. Bức tranh hiện thực nhốn nháo ô hợp của XH thực dân nửa PKbuổi đầu và tâm sự của nhà thơ trước tình cảnh đất nước. B, Chuẩn bị Thầy: Soạn giáo án Trò: soạn bài C, Tiến trình tổ chức các hoạt động. HĐ 1: Kiểm tra bài cũ: Đọc thuộc lòng một số câu thơ trong bài thơ “ Khóc Dương Khuê”, và ptích giá trị nội dung giá trị NT của những câu thơ đó. HĐ 2: Giới thiệu bài mới. HĐ 3: Bài mới. Hoạt động của thầy HĐ của trò Nội dung cần đạt Đọc tiểu dẫn và cho biết văn bản còn có tên gọi nào khác? Em hãy cho biết hoàn cảnh sáng tác của bài thơ? 1894 Nhà thơ đi thi đỗ tú tài nên khoa thi năm đinh dậu 1897 ông đã hăm hở và rất hi vọng đỗ đạt, nhưng cuối cùng lại thất bại nên ông sáng tác bài thơ này. ? Bài thơ được sáng tác theo thể thơ gì? Sáng tác theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Gv hướng dẫn cách đọc: đọc rõ ràng, chính xác, giộng hài hước châm biếm sâu cay. ?Hai câu đề nóivề sự kiện gì? Câu thơ thứ hai cho thấy điều gì khác thường( đặc biệt là từ lẫn: có ý nghĩa như thế nào?) GV: Việc thi cử ngày xưa của vua& triều đình PK mục đích là để kén chọn nhân tài ra giúp Vua, giúp nước.Nhung bấy giờ nước ta bị thực dan pháp xâm lượcnên việc thi cử bằng chữ Hán vẫn theo lệ cũ nhưng kẻ chủ xướng ra khoa thi ấy là nhà nước bảo hộ( TD nửa PK) ? Kq NT & ND của hai câu đề? Tác giả đã chú ý tới đối tượng nào? T/g đã sử dụng NT gì? T/d NT ntn? Ngoài hai nhân vật trung tâm của trường thi là sĩ tử và quan trường, t/g còn chú ý làm hiện lên hai h/ả khác nào? T/g g sử dụng NT gì? t/d nthuật ntn? Trường thi là nơi tôn nghiêm trang trọng cấm đàn bà con gái đến, nhưng trong hai câu thơ này sự xuất hiện của quan sứ và bà đầm thể hiện ý nghĩa gì? Sự đón tiếp long trọng lại dành cho hai kẻ đến cướp nước ta nên đó là nỗi đau xót( Vì mất nước). Những sĩ tử( người tài) phải cúi lạy hai kẻ này. Từ giọng mỉa mai châm biếm sâu cay ở trên, đến hai câu cuối có sự thay đổi ntn? T/g đã kêu gọi ai và kêu gọi cái gì? Kêu gọi người tài: chỉ những sĩ tử đi thi trong kì thi đó nhưng còn gọi những người tài của đất bắc những con người có tấm lòng yêu nước thiết tha. Kq lại giá trị NT, ND của hai câu cuối? Bài thơ đã sử dụng thành công những biện pháp NT gì? Bài thơ thể hiện nội dung gì? HSTL HSTL HSTL HSđọc HSTL HSTL HSTL HSTL HSTL HSTL HSTL HSTL HSTL HSTL HSTL HSTL I, Đọc-tiếp xúc văn bản 1, Văn bản Văn bản “ Vịnh khoa thi hương” còn có tên gọi khác “ Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu”, được sáng tác 1897. 2, Đọc và giải thích từ khó 3, Kết cấu. 4 phần: đề, thực, luận, kết. II, Đọc-hiểu văn bản 1, Hai câu đề. Sự kiện: Theo lệ thường thời phong kiến cứ ba năm có một khoa thi Hương. – Từ lẫn: thể hiện sự ô hợp hỗn tạp của kì thi này. Đấy chính là điều bất thường của kì thi. Hai câu đề với kiểu câu tự sự có t/chất kể lại kì thi với tất cả sự ô hợp hỗn tạp thiếu nghiêm túc trong buổi giao thời. 2, Hai câu thực. Sĩ tử: lôi thôi . -Quan trường: ậm ọe thét loa. NT: đảo ngữ. Quan trường nạt nộ hăm dọa thể hiện cái oai vờ. -. Với NT đảo ngữ, đối rất chỉnh TX đã làm hiện lên hai h/ả trung tâm của trường thi: sĩ tử thì lôi thôi nhếch nhác, quan trường cũng mất vẻ trang nghiêm trịnh trọng vốn có. Đây là bức tranh biếm họa gợi cảnh hoàng hôn của chế độ PK ở nước ta. 3, Hai câu luận. -H/ả: Quan sứ, mụ đầm Tú Xương đêm lọng che đầu quan đối với đồ dơ dáy của đàn bà là váy bà đầm tạo nên sức mạnh đả kích châm biếm dữ dội sâu cay gợi ra tiếng cười nhưng cũng không ít nỗi chua xót. Nỗi đau, nỗi nhục mất nước được cực tả một cách cay đắng. 4, Hai câu kết. Giọng trữ tình tha thiết: như một lời than lời kêu gọi. Kêu gọi: – nhân tài -ngoảnh cổ m à trông cảnh nước nhà. Ngoảnh cổ: – hành động. thái độ không cam sống nhục. Gợi cảnh mất nước, sống nô lệ nhục nhã. Hai câu thơ cuối như một lời than lời kêu gọi những người tài giỏi cần có thái độ và hành động thiết thực ra cứu nước, rửa nỗi nhục mất nước, nhưng cũng hàm chứa bao nỗi xót xa. III- Tổng kết. Nghệ thuật – Nthuật đối, đảo ngữ, ngôn ngữ có tính chất khẩu ngữ, trong sáng giản dị nhưng giàu sức biểu cảm. Nội dung. – Bài thơ ghi lại cảnh “ nhập trường” vừa ghi lại cảnh lễ xướng danh qua đó nói lên tâm trạng đau đớn chua xót của nhà thơ trước hiện thực mất nước, giao thời nhốn nháo nhố nhăng. HĐ 4: Hướng dẫn học bài ở nhà Học thuộc lòng bài thơ. Ptích được những giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ. Làm bài tập TV: từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân.

Soạn Văn Bài: Vịnh Khoa Thi Hương (Trần Tế Xương)

Đánh giá bài viết Soạn văn bài: Vịnh khoa thi Hương (Trần Tế Xương) Câu 1: Khoa thì năm Đinh Dậu được nhà thơ giới thiệu một cách giới thiệu rất tự nhiên. Kì thi Hương được tổ chức theo đúng thời gian quy định, ba năm một lần. Nhưng có điểm không bình thường: Trường Nam thi lẫn với trường Hà. Tác giả không dùng thi chung hoặc một cách diễn …

Câu 1:

Khoa thì năm Đinh Dậu được nhà thơ giới thiệu một cách giới thiệu rất tự nhiên. Kì thi Hương được tổ chức theo đúng thời gian quy định, ba năm một lần. Nhưng có điểm không bình thường: Trường Nam thi lẫn với trường Hà. Tác giả không dùng thi chung hoặc một cách diễn đạt khác trang trọng hơn mà dùng từ ” thi lẫn“. Cách nói ấy đã dự báo tính chất không nghiêm túc của kì thi. Tác giả đặc biệt nhấn mạnh sự nhốn nháo, lộn xộn trường thi

Câu 2:

Hai câu thực miêu tả thật hài hước cảnh trường thi:

Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ Ậm ọe quan trường miệng thét loa.

Cách đảo trật tự cú pháp: ” Lôi thôi sĩ tử“, ” ậm ọe quan trường” kết hợp với các từ giàu hình ảnh: lôi thôi, đeo lọ cùng với những từ chỉ âm thanh: ậm ọe, thét loa làm cho quang cảnh thi trở nên nhốn nháo, ô hợp, mất đi vẻ trang nghiệm của một kì thi do quốc gia tổ chức. Hơn thế, sĩ tử thì lôi thôi lếch thếch mất hết vẻ nho nhã, thư sinh. Quan trường không còn quyền uy, mực thước, trang trọng như trước mà như nhân vật tuồng hề ” ậm ọe, thét loa“. Cảnh trường thi phản ánh sự suy vong của một nền học vấn, sự lỗi thời của đạo Nho.

Câu 3:

Sự có mặt của vợ chồng quan sứ có thể làm cho quang cảnh trường thi có vẻ trang nghiêm. Song trái lại, sự hiện diện của chính quyền thực dân lúc này càng tăng thêm sự chua chát. Quyết định số phận của trường thi (số phận của các sĩ tử) là một kẻ ngoại bang không biết gì về Nho học. Nơi cửa Khổng sân Trình là nơi mặc sức, tự nhiên lê váy của mụ đầm. ” Váy lê quét đất” đối với ” Lọng cắm rợp trời” (còn làm nhục quốc thể) chao ôi thật chua chát.

Bốn câu thơ vạch trần sự nhếch nhác, tùy tiện của khoa cử lúc bấy giờ. Đồng thời ngầm thể hiện nỗi xót xa chua chát của nhà thơ và người đọc.

Câu 4:

Câu kết là tâm sự đau xót, chua chát của nhà thơ trước hiện thực đất nước. Câu thơ vừa là lời tự vấn mình, vừa hướng đến những người đồng môn. Bài thơ thể hiện nỗi đau đớn xót xa của nhà thơ trước vận mệnh dân tộc. Nỗi đau đớn xót xa ấy thể hiện tác giả là người trọng danh dự, danh dự của các trí thức nho học và là người có tấm lòng với dân với nước. Là con người biết trọng danh dự, với tấm lòng lo nước thương đời, ông Tú muốn đánh thức ý thức dân tộc trong con người Việt nam, nhất là những người tài, những người có trách nhiệm và có khả năng cứu nước, cứu đời. Giọng điệu chính của bài thơ là giọng điệu trào phúng, nhưng ở hai câu kết, tác giả đã dùng giọng điệu trữ tình.

Soạn Bài: Vịnh Khoa Thi Hương (Trần Tế Xương)

Vịnh khoa thi Hương là bài thơ thuộc đề tài thi cử – một đề tài khá đậm nét trong sáng tác của Tú Xương. Qua việc tái hiện hình ảnh thảm hại của kì thi năm Đinh Dậu (1897) tại trường Hà Nam, nhà thơ bày tỏ sự xót xa, đau đớn của con người trước tình cảnh thảm hại của các nhà Nho vào thời kì mạt vận của Nho học.

Khoa thi Hương 1897 ấy được miêu tả với cảm hứng trào phúng. Bài thơ đã thể hiện thái độ mỉa mai, phẫn uất của nhà thơ đối với chế độ thi cử đương thời và đối với con đường khoa cử của riêng ông. Qua bài thơ này, tác giả vẽ nên một phần hiện thực nhốn nháo, ô hợp của xã hội thực dân nửa phong kiến buổi đầu, đồng thời nói lên tâm sự của mình trước tình cảnh đất nước.

III. Hướng dẫn soạn chi tiết bài Vịnh khoa thi Hương (Trần Tế Xương)

Giải câu 1 (Trang 34 SGK ngữ văn 11 tập 1)

Hai câu đầu cho thấy kì thi có gì khác thường? (Chú ý phân tích kĩ từ lẫn.)

Hai câu đầu:

– Giọng thơ mang tính tự sự, kể lại cuộc thi năm Đinh Dậu theo thông lệ do nhà nước mở: ba năm một lần.

– Điểm đặc biệt: Trường Nam thi lẫn với trường Hà. Từ “lẫn”: lẫn lộn, báo hiệu điều gì thiếu nghiêm túc, ô hợp, láo nháo trong thi cử.

Giải câu 2 (Trang 34 SGK ngữ văn 11 tập 1)

Anh (chị) có nhận xét gì về hình ảnh sĩ tử và quan trường? (Chú ý các từ lôi thôi, ậm oẹ với biện pháp nghệ thuật đảo ngữ; các hình ảnh vai đeo là của sĩ tử, miệng thét loa của quan trường.) Từ hai câu thơ 3 và 4, anh (chị) có cảm nhận như thế nào về cảnh thi cử lúc bấy giờ?

– Hình ảnh:

+ Sĩ tử: lôi thôi, vai đeo lọ → dáng vẻ luộm thuộm, nhếch nhác.

+ Quan trường: ậm ọe, miệng thét loa → ra oai, nạt nộ nhưng đó là cái oai cố tạo, giả vờ.

– Nghệ thuật:

+ Sử dụng từ láy tượng thanh và tượng hình: ậm ọe, lôi thôi.

+ Đảo ngữ: Đảo trật tự cú pháp “lôi thôi sĩ tử”, “ậm ọe quan trường”.

→ Sự láo nháo, lộn xộn của cảnh thi cử lúc bấy giờ.

Giải câu 3 (Trang 34 SGK ngữ văn 11 tập 1)

Phân tích hình ảnh quan sứ, bà đầm và sức mạnh châm biếm, đả kích của biện pháp nghệ thuật đối ở hai câu 5, 6.

– Hình ảnh:

+ Quan sứ: công sứ Nam Định, được tiếp đón trọng thể.

+ Mụ đầm: vợ quan sứ, ăn mặc diêm dúa, điệu đà.

→ Sự phô trương, hình thức, không đúng nghi lễ của một kì thi.

Giải câu 4 (Trang 34 SGK ngữ văn 11 tập 1)

Phân tích tâm trạng, thái độ của tác giả trước cảnh tượng trường thi. Lời nhắn gọi của Tú Xương ở hai câu thơ cuối có ý nghĩa tư tưởng gì?

Hai câu cuối là sự thức tỉnh các sĩ tử và thái độ của nhà thơ trước cảnh nước mất:

– Câu hỏi tu từ mang ý nghĩa thức tỉnh các sĩ tử về nỗi nhục mất nước. Nhà thơ hỏi người nhưng cũng chính là hỏi mình.

– Giọng thơ mang đậm chất trữ tình có tác dụng lay tỉnh lương tâm, lương tri của các sĩ tử.

Câu 1. Hai câu đầu cho thấy kì thi có gì khác thường? (Chú ý phân tích kĩ từ lẫn.)

Hai câu thơ mở đầu có tính tự sự, nhằm kể lại kì thi. Khoa thi năm Đinh Dậu được nhà thơ giới thiệu một cách giới thiệu rất tự nhiên. Kì thi Hương được tổ chức theo đúng thời gian quy định, ba năm một lần.

Nhà nước ba năm mở một khoa thi Trường Nam thi lẫn với trường Hà.

Nhưng sự bất bình thường đã thể hiện trong câu thơ thứ hai, đó là cách thức tổ chức kì thức: trường Nam thi lẫn với trường Hà. Từ lẫn đã thể hiện sự ô hợp, nhốn nháo trong thi cử. Tác giả không dùng thi chung hoặc một cách diễn đạt khác trang trọng hơn mà dùng từ “thi lẫn”. Cách nói ấy đã dự báo tính chất không nghiêm túc của kì thi. Tác giả đặc biệt nhấn mạnh sự nhốn nháo, lộn xộn trường thi.

Câu 2. Anh (chị) có nhận xét gì về hình ảnh sĩ tử và quan trường? (Chú ý các từ lôi thôi, ậm oẹ với biện pháp nghệ thuật đảo ngữ; các hình ảnh vai đeo là của sĩ tử, miệng thét loa của quan trường.) Từ hai câu thơ 3 và 4, anh (chị) có cảm nhận như thế nào về cảnh thi cử lúc bấy giờ? Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ Ậm ọe quan trường miệng thét loa.

Hai câu thực đã thể hiện rõ sự ô hợp của kì thi.

Cách đảo trật tự cú pháp: “Lôi thôi sĩ tử”, “ậm ọe quan trường”.

Các từ giàu hình ảnh: lôi thôi, đeo lọ cùng với những từ chỉ âm thanh: ậm ọe, thét loa.

→ Đó là hình ảnh khái quát sự sa sút về nho phong sĩ khí do sự ô hợp, nhốn nháo của xã hội đưa lại. Hình ảnh sĩ tử thì lôi thôi lếch thếch mất hết vẻ nho nhã, thư sinh. Quan trường không còn quyền uy, mực thước, trang trọng như trước, miệng ậm ọe miệng thét loa gợi lên cái oan nhưng là cái oai cố tạo ra. Từ “ậm ọe” biểu đạt âm thanh của tiếng nói nhưng bị cản lại trong cổ họng đã khẳng định cái oai hờ của quan trường. Biện pháp đảo ngữ cũng giúp người đọc hình dung được tính chất lộn xộn của trường thi.

Câu 3. Phân tích hình ảnh quan sứ, bà đầm và sức mạnh châm biếm, đả kích của biện pháp nghệ thuật đối ở hai câu 5, 6.

Đối lập với hình ảnh sĩ tử và quan trường là hình ảnh quan sứ và bà đầm. Sự có mặt của vợ chồng quan sứ có thể làm cho quang cảnh trường thi có vẻ trang nghiêm. Hai nhân vật này được đón tiếp linh đình: cờ cắm rợp trời.

Biện pháp đảo ngữ kết hợp với nghệ thuật đối đã được vận dụng một cách triệt để, tạo nên sức mạnh đả kich, châm biếm dữ dội, sâu cay. Nơi cửa Khổng sân Trình là nơi mặc sức, tự nhiên lê váy của mụ đầm. “Váy lê quét đất” đối với “Lọng cắm rợp trời” (còn làm nhục quốc thể). Tú Xương đã đem cờ che đầu quan sứ đối lập với váy bà đầm, điều này tạo nên một tiếng cười nhưng ẩn trong đó không ít nỗi xót xa.

→ Bốn câu thơ vạch trần sự nhếch nhác, tùy tiện của khoa cử lúc bấy giờ. Đồng thời ngầm thể hiện nỗi xót xa chua chát của nhà thơ và người đọc.

Câu 4. Phân tích tâm trạng, thái độ của tác giả trước cảnh tượng trường thi. Lời nhắn gọi của Tú Xương ở hai câu thơ cuối có ý nghĩa tư tưởng gì?

Hai câu kết chuyển đổi giọng điều từ mỉa mai, châm biếm sang trữ tình. Là tâm sự đau xót, chua chát của nhà thơ trước hiện thực đất nước. Câu thơ vừa là lời tự vấn mình, vừa hướng đến những người đồng môn. Đó là lời kêu gọi, đánh thức lương tri. Câu hỏi phiếm chỉ:

Nhân tài đất Bắc nào ai đó Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà.

Không chỉ hướng đến các sĩ tử năm đó mà còn đến những người được xem là nhân tài đất Bắc. Từ một khoa thi bình thường, tác giả đã làm nổi bật bức tranh hiện thực xã hội đương thời, bên cạnh đó còn thể hiện nỗi đau, nỗi nhục mất nước của tác giả. Là con người biết trọng danh dự, với tấm lòng lo nước thương đời, ông Tú muốn đánh thức ý thức dân tộc trong con người Việt nam, nhất là những người tài, những người có trách nhiệm và có khả năng cứu nước, cứu đời. Giọng điệu chính của bài thơ là giọng điệu trào phúng, nhưng ở hai câu kết, tác giả đã dùng giọng điệu trữ tình.

(BAIVIET.COM)

Bạn đang xem bài viết Giáo Án Ngữ Văn 11 Tiết 13 Đọc Thêm: Vịnh Khoa Thi Hương (Trần Tế Xương ) trên website Maiphuongus.net. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!