Xem Nhiều 2/2023 #️ Giáo Án Ngữ Văn 11: Đọc Văn Tác Giả: Nguyễn Đình Chiểu # Top 9 Trend | Maiphuongus.net

Xem Nhiều 2/2023 # Giáo Án Ngữ Văn 11: Đọc Văn Tác Giả: Nguyễn Đình Chiểu # Top 9 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Giáo Án Ngữ Văn 11: Đọc Văn Tác Giả: Nguyễn Đình Chiểu mới nhất trên website Maiphuongus.net. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

NS: 28/9/08 Tác giả: NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU NG: 29/9/08 Mục tiêu cần đạt: Giúp hoc sinh. Nắm đươc thân thế sự nghiệp và giá trị nội dung nghệ thuật của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu ( NĐC ). NĐC là một tấm gương sáng ngời về nghị lực, đạo đức, đặc biệt là thái độ suốt đời gắn bó và chiến đấu không mệt mỏi cho lẽ phải cho quyền lợi của nhân dân, đất nước. Về văn chương: sáng tác của NĐC là bông hoa nghệ thuật tiêu biểu cho dòng văn chương đạo đức chữ tình, là lá cờ đầu của văn chương chống thực dân pháp B. Chuẩn bị. Thầy: soạn giáo án Trò: soạn bài Tiến trình tổ chức các hoạt động Hoạt động 1: kiểm tra bài cũ Đọc thuộc lòng văn bản “Lẽ ghét thương”( Trích Lục Vân Tiên ) và cho biết ông Quán thương ai, vì sao mà ông thương, cơ sở tình thương là gì? Hoạt đông 2: Giáo trìng bài mới. Hoạt động 3: Bài mới. Hoạt động của thầy. HĐ của trò Nội dung cần đạt Em hãy nêu những nét cơ bản về hoàn cảnh xuất thân của NĐC Cuộc đời NĐC có thể chia mấy giai đoạn trình bầy những nét chính của từng giai đoạn Giáo viên: khi ông đỗ tú tài có gia đình đã hứa gả con gái cho, xong sau đó thấy ông bị mù nên gia đình đó bội ước. Một học trò “Lê Tăng Quỳnh” cảm nghĩa thấy gả em gái là Lê Thi Điền cho. Đó là một người vợ đẹp cả người lẫn nết. + Từ cuộc đời của NĐC em thấy ông tóa lên những phong cách đáng quý nào? – Ý chí nghị lực sống – Giàu lòng yêu nước thương dân – Tư tưởng bất khuất trước kẻ thù + Kể tên những tác phẩm chính của NĐC + Nội dung thơ văn NĐC chia thành mấy giai đoạn – Trước khi thưc dân pháp xâm lược – Sau khi thực dân pháp xâm lược + Qua tác phẩm truyện “LVT” tác giả muốn đề cập đến vấn dề gì? Lấy ví dụ minh họa. “Khoan khoan ngồi đó chớ ra nàng là phận gái ta là phận trai” -“Gặp đây đương lúc giữa đàng, Của tiền chẳng có, bạc vàng cũng không Gẩm cầu báo đức thủ công, Lấy chi cho phỉ tấm lòng cùng ngươi Vân Tiên nghe nói liền cười Làm ơn há dễ cho người chả ơn” – “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà” + Qua những câu thơ trên, NĐC muốn nói gì – Tưởng đạo đức của NĐC mang đậm lễ giáo nhà nho: Nam nữ thụ thụ bất thân – Tư tưởng hiệp nghĩa: sẵ sàng xả thân cứu người vì nghĩa hiệp ( chữ không cần báo ơn) Em có nhận xét gì về nhân vật trong chuyện LVT? Nhân vật chia thành 2 tuyến rõ rệt: – Nhân vật phản diện: Trịnh Hâm, Bùi Kiệm, gia đình võ thể công … – Nhân vật chính diện: LVT, Tử Trực, hớn minh, ông quán,ông ngư, ông tiều, lão bà dệt vải là những con người không màng danh lợi không tham phú quý “xin tròn nhân nghĩa còn hơn bạc vàmg” + Đoạn trích “lẽ ghét thương, NĐC muốn liên tưởng điều gì? – So sánh tư tưởng nhân nghĩa trong thời kì phong kiến với tư tưởng nhân xã trong giai đoạn của NĐC có gì khác biệt. + Tư tương nhân nghĩa thòi kì phong kiến là trung quân nhưng tương nhân nghĩa của NĐC là xuất phát từ dân, quyền lợi của nhân dân khi thực dân pháp xâm lược, thơ văn của NĐC có sự thay đổi như thế nào? VD1: Bài thơ chạy giặc “NĐC” muốn thể hiện điều gì? VD2: Tắc đát sau ơn chúa tác bối cho nước ta; Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi cha ông nó “Văn tế xẽ sĩ cần giuộc”. VD3: “Viên đạn nghịch thần treo trước mắt lưỡi gươm địch khái nằm trong tay” “Thơ điếu Phan Tòng” VD4: “Văn tế xã sĩ cần giuộc” “ văn tế xã sĩ trận vong lục tỉnh” VD5: “Chừng nào thánh đế ân soi thấu một trân mua nhuần rưa núi rừng” (xúc cảnh) VD6: “Sự đời thà khuất đôi trong thịt lòng đạo xin tròn một tâm gương” (ngư tiều y thuật vấn đáp) > trái lại từ những ví dụ trên em hãy khái quát lại nhân dân yêu nước trong thơ văn NĐC + Em hãy cho biết những giá trị nghệ thuật trong thơ văn NĐC. – Giáo viên: Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói “thơ văn của ông như những vì sao có ánh sáng khác thường mắt chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy và càng nhìn thì càng thấy sáng” > Vẻ đep thơ văn NĐC là tiềm ẩn + Em hãy khái quát lại cuộc đời và sự nghiệp văn chương của NĐC. HSTL HSTL HSTL HSTL HSTL HSTL HS nhớ lại đoan trích “LVT cứu KNN” HSTL HSTL HSTL HSTL HSTL HSTL Đọc ghi nhớ Cuộc đời. * Hoàn cảnh xuất thân – NĐC ( 1822-1888 ) tự là Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối Trai ( Căn nhà tối ) – Quê: Làng Tân Thời, huyện Bình Dương tỉnh Gia Định – Cha: Nguyễn Đình Huy làm thư lại tại dinh tổng trấn Lê Văn Duyệt ở Gia Định – Mẹ: Trương Thị Thiết: vợ hai * Cuộc đời. Chia làm hai giai đoạn. Trước khi pháp xâm lược 1843 ông đỗ tú tài + 1846 ông ra Huế học chuẩn bị thi tiếp thì nhận được tin mẹ mất phải bỏ thi về Nam chịu tang ( 1949 ). Dọc đường về NĐC bị đau mắt nặng rồi bị mù cả hai mắt. + ông về quê dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân. – Sau khi thực dân pháp xâm lược (1858) – 1859 NĐCcùng các vị lãnh tụ nghĩa quân bàn mưu tính kế đánh giặc và sánh tác những vần thơ cháy bỏng căm hơn sôi sục ý chí chiến đấu. – Nam Kì mất ông ở lại Ba Tri (Bến Tre) thực dân pháp tìm mọi cách dụ dỗ mua chuộc nhưng ông khẳng khái khước từ tất cả giữ trọn tấm lòng thủy chung son sắc với nước với dân đến hơi thở cuối cùng. II. Sự nghiệp văn chương. 1.Những tác phẩm chính. ( SGK/T57 ) 2.Nội dung thơ văn a,Trước khi thực dân pháp xâm lược. Truyện “LVT” nêu cao lý tưởng đạo đức nhân nghĩa, là những bài học đạo lý làm người. – Đặc biệt ông đề cao chữ nghĩa: Biểu dương những lý tưởng đạo đức tốt đẹp giữa con người với con người quan tâm sâu sác đến quyên lợi và nguyện vọng của nhân dân. b. Sau khi thực dân pháp xâm lược Thơ văn yêu nước chống thực dân pháp + NĐC khóc than cho tổ quốc gặp buổi thương đau + là tiếng nói căm phẫn quất thẳng vào mặt kẻ thù. + Ô hết lời ca ngợi các vị lãnh tụ khởi nghĩa vì nước vì dân + Xây dựng bức tượng đai sừng sững về người xã sĩ người dân, xả thân vì nước. + Giữ niềm tin vào ngày mai tươi sáng của đất nước + Giữ thái độ bất hợp tác với thực dân pháp, với tư tưởng bất khuất. – Thơ văn yêu nước của NĐC có tác dụng cổ vũ cuộc chiến đấu chống pháp của nhân dân ta – NĐC xứng đáng là lá cờ đầu của văn học yêu nước, chống thực dân pháp, sử dụng ngòi bút làm vũ khí sắc bén để chiến đấu chống lại kẻ thù. 3. Nghệ thuật thơ văn NĐC – Văn chương NĐC không cầu kì mà chân thật giản dị. – Hình tương nhân vật mang đậm sắc thai mìên Nam. – Phong cách nổi bật: Chất chữ tình đạo đức kết hợp với chữ tình yêu nước và hình thức nóng hổi III. Tổng kết. Ghi nhớ SGK/59 IV. Luyện tập. Cảm nhân của em về cuộc đời và sự nghiệp thơ văn của NĐC. Hoạt động 4: Hướng dẫn học bài Nắm được những nét chính về cuộc đời và sự nghiệp thơ văn của NĐC Soạn văn tế nghĩa sĩ cần giuộc

Giới Thiệu Về Tác Giả Nguyễn Đình Chiểu Ngữ Văn 11

Giới thiệu về tác giả Nguyễn Đình Chiểu ngữ văn 11

Doi net ve Nguyen Dinh Chieu – Nguyễn Đinh Chiểu, người đã “căng số phận mình trên sợi dây đàn độc nhất”

Trong số các nhà thơ Việt Nam, Nguyên Đình Chiểu là người chịu nhiều đau khổ, bất hạnh nhất. Ông có tình cảm sâu nặng với mẹ, bà Trương Thi Thiệt, người Gia Định. Năm 1833, Lê Văn Khôi khởi nghĩa chống lại triều đình. Thân sinh, ông Nguyền Đình Huy, đang làm thơ lại trong thành Gia Định, bỏ chạy về kinh đô Huế, đem Nguyễn Đình Chiểu theo. Nhà thơ tương lai phải mất 8 năm biền biệt xa mẹ, đến năm 1840 mới trở về Gia Định.

Năm sau, ông đỗ Tú tài và đến năm 1846 lại lặn lội ra kinh đô chờ thi Hương. Với một chàng trai mới lớn, biết mình có tài, hy vọng ở đường hoạn lộ thật thênh thang. Lúc thanh bình, thời phong kiến, đấy là con đường duy nhất để đấng nam nhi tiến thân, cống hiến cho đời. Nhưng oái ăm thay! Đúng năm thi Hương (1849), Nguyễn Đình Chiểu nghe tin mẹ mất từ cuối năm trước. Người con trai vốn dạt dào tình thương mẹ tức tốc về Nam, bỏ cả việc thi cử. Đường về xa xôi, cám cảnh mẹ mất, khóc thương đến độ mù lòa. Vậy, chưa đầy hai năm, chàng trai trẻ liên tiếp chịu nhiều bất hạnh lớn. Chưa hết! Năm đỗ Tú tài, có nhà giàu họ Võ hứa gã con với tham vọng chàng rể sớm muộn gì cũng chiếm bảng vàng, nay lỡ làng mọi thứ, lại còn mang thương tật suốt đời, bèn quay quắt từ hôn. Mất mẹ, mù lòa, nhà thơ mất chỗ dựa tinh thần bền vững nhất. Bỏ thi, mất luôn cơ hội đua tranh trên đường hoạn lộ. Những mất mát ấy chẳng có gì bù đắp được, lại lấp đầy bằng nỗi đắng cay của thói đời đen bạc. Chừng đó nỗi đau đủ khiến cho một người có tâm hồn thi sĩ vụt trở thành thi nhân. Song, điều kì lạ là ở tác phẩm đầu tay viết trong “căn nhà tối” (tên hiệu Nguyễn Đình Chiểu là Hối Trai, nghĩa là căn nhà tối) – truyện thơ dài Truyện Lục Vân Tiên, người đời không tìm thấy nỗi chán chường, cay tức. Trái lại, rất ngọt ngào tình nghĩa mến thương, đùm bọc, thủy chung trọn vẹn như lời hẹn hò trong ca dao:

Tay bưng đĩa muối chấm gừng

Gừng cay muối mặn ta đừng quên nhau!

Năm 1858, giặc Pháp đánh Đà Nẵng. Sang năm 1859, chúng hạ thành Gia Định khởi đầu cho thời kì hoạn nạn, đau khổ triền miên của cả dân tộc. Đồ Chiểu không trông thấy nhưng sống trong cảnh ấy. Nhà thơ cùng gia đình dắt díu nhau chạy giặc hết nơi này đến nơi khác. Không trông thấy gì nhưng lòng nhà thổn thức, đau xót và uất ức nữa. Trước kia, ông sống với anh em, cha mẹ, bè bạn trọn nghĩa, vẹn tình bao nhiêu thì nay, với đất nước, non sông, xóm giềng, làng mạc thêm dạt dào bấy nhiêu. Những nỗi đau riêng đã hòa đẫm vào một nỗi đau chung: mất nước! Tiếng thơ Đồ Chiểu trở thành tiếng khóc, lời than, niềm réo gọi của nhân dân trước cảnh nước mất nhà tan. Ông đã trở thành nhà thơ nhân dân bằng chính tấm lòng và thân phận mình. Trước nỗi mất mát hy sinh của nhân dân, thơ Đồ Chiểu là tiếng khóc của non sông, là nỗi đau của cả dân tộc:

…Đoái sông Cần Giuộc cỏ cây mấy dậm sầu giăng; nhìn chợ Trường Bình già trẻ hai hàng lụy nhỏ…

Đau đớn bấy mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuy leo lét trong lều não nùng thay vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.

(Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc)

Thơ ca Việt Nam, cho đến trước Đồ Chiểu, chưa bao giờ có một hình tượng nhân dân trọn vẹn như thế! Từ sau năm 1858, trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, nếu có một “số phận” thì đó là “nhân dân”. Nhân dân cả tâm hồn, cốt cách, trí tuệ, hành động. Nhân dân cả niềm vui và nỗi buồn, đau thương và căm giận, đứng lên và ngã xuống, thất vọng và hy vọng…Với những nhà thơ Việt Nam ngày trước, một con người bình thường được đưa vào thơ văn là cả một sự dũng cảm, dám làm khác thời đại. Đồ Chiểu không có sự băn khoăn ấy. Những nông dân bước vào thơ Nguyễn Đình Chiểu nguyên vẹn hình hài lấm láp nhưng hết sức tự nhiên. Sau này, Thanh Thảo viết: Họ lấm láp sình lầy bước vào thơ Đồ Chiểu… không áo mão cân đai phẩm hàm văn võ nhưng đã để lại những vệt bùn làm vinh dự cho thơ. Ngày ấy, nhà thơ mù không nghĩ như thế. Ông chỉ yêu thương, gắn bó thân phận mình với những người “ngoài cật có một manh áo vải”, song đã dám “đâm ngang, chém ngược” kẻ thù cướp nước. Vì vậy, chỗ đứng cao sang nhất trong thơ ca là của họ. Điều đó giải thích vi sao nhà thơ mù, đất nước ly tán, mọi người cùng chạy giặc trong cảnh hỗn loạn, nhưng thơ văn của ông được lưu truyền sâu rộng trong lòng nhân dân!

Nhiều nhà thơ Việt Nam, mỗi khi đọc lại, chúng ta thích thú, cảm phục với những tư tưởng thanh cao, từ ngữ lộng lẫy, sang trọng. Còn Đồ Chiểu, mỗi lần đọc lại vẫn không dứt một tình cảm yêu thương:

Khóc là khóc nước nhà còn bấn loạn, hôm mai vắng chúa, thua buồn nhiều nỗi khúc nỗi: than là than bờ than cõi lúc qua phân, ngày tháng trông vua, ngơ ngẩn một phương tớ dại…

Ôi trời Bến Nghé, mây mưa sùi sụt, thương đấng anh hùng gặp bước gian truân: đất Gò Công cây cỏ ủ ê, cám niềm thần tử hết lòng chung ái.

(Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc)

Man mác trăm chiều tâm sự, sống những lo trả nợ cho đời phôi pha một mảnh hình hài, thác rồi bồ làm phân cho đất!

(Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh)

Tiếng thơ ấy đã bật ra từ trái tim của một người sống cùng nhân dân, dám căng số phận mình trên sợi dây đàn dân tộc nhất để hát về nhăng ngọn sóng bình minh (Thanh Thảo – Những nghĩa sĩ Cần Giuộc). Những nghĩa sĩ dám đưa tấm thân mình cho lẽ sống cồn của đất nước, thì với nhà thơ mù Đồ Chiểu, người nghệ sĩ-nhân dân, cây đàn thơ chẳng vì lí do gì mà không hát khúc ca về thân phận dân tộc của mình!

Theo chúng tôi

Soạn Bài Tác Giả Nguyễn Đình Chiểu Trang 56 Sgk Văn 11

Soạn bài tác giả Nguyễn Đình Chiểu trang 56 SGK Văn 11

Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gương giàu nghị lực, giàu lòng yêu nước và tinh thần bất khuất kiên cường trước kẻ thù xâm lược.

GỢI Ý LÀM BÀI 1. Những nét chính về cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu:

Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888), người làng Tân Thới, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ong xuất thân trong một gia đinh nhà nho, cha người gốc Thừa Thiên – Huế. Năm 1843, Nguyễn Đình Chiểu đỗ tú tài tại trường thi Gia Định. Năm 1846, ông ra Huế học, chuẩn bị thi tiê’p thì nhận được tin mẹ mất, ông phải bỏ thi về chịu tang mẹ. Dọc đường về, Nguyễn Đình Chiểu đau mắt nặng rồi bị mù. Về quê, không khuất phục trước số phận oan nghiệt, nhà thơ mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân rồi cùng các lãnh tụ nghĩa quân bàn mưu tính kế đánh giặc và sáng tác những vần thơ đánh giặc cháy bỏng căm hờn, sôi sục ý chí chiến đấu.

Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gương giàu nghị lực, giàu lòng yêu nước và tinh thần bất khuất kiên cường trước kẻ thù xâm lược. Dù bị tàn tật, ông vẫn là một thầy giáo tận tâm, là một thầy thuốc giàu y đức và là một nhà thơ xuất sắc. Ớ cương vị nào ông cũng làm việc và cống hiến hết mình.

2. Câu 2 trang 59 SGK Văn 11

a) Nguvễn Đình Chiếu là mộl nhà nho, bởi thế mà tư tưứng đạo đức, nhân nghĩa của ông mang tinh thần của Nho giáo. Mặc dù vậy, Nguyễn Đình Chiểu còn là một trí thức nhân dân, suốt đời sống nơi thôn xóm, giữa những người “dân ấp, dân lân” tâm hồn thuần hậu, chất phác nên tư tướng đạo đức của ông có những nét mang phong cách rất dân dã của những người nông dân thuần phác. Nguyễn Đình Chiểu thấm nhuần tư tướng nhân nghĩa là tình thương yêu con người, sẵn sàng cưu mang con người trong cơn hoạn nạn; nghĩa là những quan hệ tốt đẹp giữa con ngưừi với con người trong xã hội, tình cha con, nghĩa chồng vợ, tình bạn bè, xóm giềng, tinh thần hiệp nghĩa sẵn sàng cứu khốn phò nguy,…

Những nhân vật lí tưởng trong Truyện Lục Vân Tiên hầu hết là đều là những người dân thường, sinh trướng trong những nưi thôn ấp nghèo khó (những nho sinh như Vân Tiền, Tử Trực, Hớn Minh; những ông Ngư, ông Quán, ông Tiều, bà lão dệt vải,…). Tâm hồn của họ ngay thắng, không màng danh lợi, không tham phú quý, sẵn sàng ra tay cứu giúp người hoạn nạn. Trước Nguyễn Đinh Chiểu, nhân nghĩa vẫn được xcm là phạm trù đạo đức lí tưởng, chỉ có ớ bậc thánh nhân, những người quân tử thuộc tầng lớp trên. Đến Nguyễn Trãi, nhân nghĩa cũng đã hướng đến người dân. Ông kêu gọi nhà cầm quyền nhân nghĩa với dân, thời chiến thì lấy nhân nghĩa để thắng quân bạo ngược, thời bình thì đưa nhân nghĩa vào chính sự, khoan sức cho dân. Tuy nhiên, phải đến Nguyền Đình Chiểu thì phạm trù nhân nghĩa mới thực sự mớ rộng đến nhàn dân. Điều đó giải thích tại sao nhân dân, đặc biệt là cư dân vùng dất mứi Nam Kì, vốn rất xcm trọng mối liên hệ gắn kết giữa con người với con người trên cơ sở chữ nghĩa Irưyền thống, tiếp nhận tác phẩm của Nguyễn Đình Chiếu nồng nhiệt đến thế.

b) Nguyễn Đình Chiểu sáng tác thơ văn yêu nước ở thời kì đầu chống Pháp xâm lược đé bảo vệ Tổ quốc. Đây là thời kì khổ nhục nhưng vĩ dại (Phạm Văn Đồng) của dân tộc. Đất nước mất dần vào tay giặc trước mắt nhà thơ. Các phong trào chống Pháp cũng lần lượt thất bại, người yêu nước thế hệ này nối tiếp thế hệ khác đã ngã xuống chiến trường. Nhưng “Súng giặc đất rền, lòng dân trời tỏ”. Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu đã làm sáng tỏ chân lí đó. Ông khóc than cho Tổ quốc buổi đầu gặp thương đau:

Khốc là khóc nước nhà cơn bẩn loạn, hỏm mai vắng chúa; thua buồn nhiều nỗi khúc nhôi; Than là than bờ cõi lúc qua phân, ngày tháng trông vua, ngơ ngẩn một phường trẻ dại. (Văn tê Trương Định)

Ông cãm uất chửi mắng vào mặt kẻ thù:

Tấc dất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta; Bát cơm manh áo ở dời, mắc mớ chi ông cha nó. (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc)

Ông hết lòng ngợi ca những sĩ phu như Trương Định đã một lòng vì nước, vì dân:

Bởi lòng chúng chẳng nghe thiên tử chiếu, đón ngăn mấy dặm mã tiền; Theo bụng dân phái chịu tướng quân thù, gánh vác một vai khổ ngoại. (Văn tế Trương Định)

Ông dựng bức tượng đài bất tử về những người dân ấp, dân lân: “Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh” (Văn tế nghĩa sĩ cán Giuộc). Ngay cả lúc bờ cõi đã “chia đất khác”, Nguyễn Đình Chiểu vẫn nuôi giữ một niềm tin vào ngày mai: “Một trận mưa nhuần rửa núi sông” (Xúc cảnh), vẫn kiên trì một thái độ bất khuất trước kẻ thù: “Sự đời thà khuất đôi tròng thịt – Lòng đạo xin tròn một tấm gương” {Ngư Tiều y thuật vấn dáp). Với những nội dung trên, có thể nói thơ văn yêu nước Nguyễn Đình Chiểu đã đáp ứng xuất sắc những yêu cầu của cuộc sống và chiến đấu đương thời. Nó có tác dụng động viên, khích lê không nhỏ tinh thần và ý chí cứu nước của nhân dân ta.

c) Sắc thái Nam Bộ độc đáo trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu thể hiện rõ ở từng nhân vật trong tác phẩm của ông. Mỗi người dân Nam Bộ có thể bắt gặp mình ỡ các nhân vật của ông từ lời ăn tiếng nói, ở sự mộc mạc, chất phác đến tấm lòng nặng tình, nặng nghĩa, yêu thương rất mực và căm ghét đến điều. Họ sống vô tư, phóng khoáng, ít bị ràng buộc bởi những phép tắc, lễ nghi và sẵn sàng xả thân vì nghĩa. Họ nóng nảy, bộc trực nhưng lại rất đằm thắm, ân tình. Đó là những nét rất riêng trong vẻ đẹp chung của con người Việt Nam.

3. Câu 3 trang 59 SGK Văn 11

Như đã nói ở trên, Nguyễn Đình Chiểu và Nguyễn Trãi có những điểu gần gũi về tư tướng nhân nghĩa. Nguyễn Trãi cũng lấy cái nén tảng của sự nhân nghĩa là quyển lợi của nhân dân nhưng đến Nguyễn Đình Chiéu thì phạm trù nhân nghĩa mới thực sự mở rộng đến nhân dân, gần gũi thực sự với nhân dân. Đó thực sự là một bước tiến dài của tư tưởng.

Soạn Bài Tác Giả Nguyễn Đình Chiểu

Soạn bài tác giả Nguyễn Đình Chiểu – Ngữ văn 11. Câu 2. Tìm hiểu giá trị thơ văn Nguyễn Đình Chiểu

Lời giải chi tiết GỢI Ý LÀM BÀI 1. Những nét chính về cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu. Anh (chị) cảm nhận sâu sắc điều gì qua cuộc đời nhà thơ. Trả lời:

– Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888), người làng Tân Thới, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông xuất thân trong một gia đinh nhà nho, cha người gốc Thừa Thiên – Huế.

– Năm 1843, Nguyễn Đình Chiểu đỗ tú tài tại trường thi Gia Định. Năm 1846, ông ra Huế học, chuẩn bị thi tiếp thì nhận được tin mẹ mất, ông phải bỏ thi về chịu tang mẹ. Dọc đường về, Nguyễn Đình Chiểu đau mắt nặng rồi bị mù.

– Về quê, không khuất phục trước số phận oan nghiệt, nhà thơ mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân rồi cùng các lãnh tụ nghĩa quân bàn mưu tính kế đánh giặc và sáng tác những vần thơ đánh giặc cháy bỏng căm hờn, sôi sục ý chí chiến đấu.

2. Tìm hiểu giá trị thơ văn Nguyễn Đình Chiểu: a. Dựa vào những đoạn trích đã học về Truyện Lục Vân Tiên, hãy cho biết lí tưởng đạo đức của Nguyễn Đình Chiểu được xây dựng chủ yếu trên cơ sở tình cảm nào? b. Nội dung trữ tình yêu nước trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu? Tác động tích cực của những sáng tác thơ văn ấy đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đương thời? c. Theo anh (chị) sắc thái Nam BỘ độc đáo của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu biểu hiện ở những điểm nào? Trả lời:

a) Nguvễn Đình Chiếu là một nhà nho, bởi thế mà tư tưởng đạo đức, nhân nghĩa của ông mang tinh thần của Nho giáo. Mặc dù vậy, Nguyễn Đình Chiểu còn là một trí thức nhân dân, suốt đời sống nơi thôn xóm, giữa những người “dân ấp, dân lân” tâm hồn thuần hậu, chất phác nên tư tướng đạo đức của ông có những nét mang phong cách rất dân dã của những người nông dân thuần phác. Nguyễn Đình Chiểu thấm nhuần tư tưởng nhân nghĩa là tình thương yêu con người, sẵn sàng cưu mang con người trong cơn hoạn nạn; nghĩa là những quan hệ tốt đẹp giữa con ngưừi với con người trong xã hội, tình cha con, nghĩa chồng vợ, tình bạn bè, xóm giềng, tinh thần hiệp nghĩa sẵn sàng cứu khốn phò nguy,…

Những nhân vật lí tưởng trong Truyện Lục Vân Tiên hầu hết là đều là những người dân thường, sinh trướng trong những nơi thôn ấp nghèo khó (những nho sinh như Vân Tiên, Tử Trực, Hớn Minh; những ông Ngư, ông Quán, ông Tiều, bà lão dệt vải,…). Tâm hồn của họ ngay thắng, không màng danh lợi, không tham phú quý, sẵn sàng ra tay cứu giúp người hoạn nạn. Trước Nguyễn Đinh Chiểu, nhân nghĩa vẫn được xem là phạm trù đạo đức lí tưởng, chỉ có ớ bậc thánh nhân, những người quân tử thuộc tầng lớp trên. Đến Nguyễn Trãi, nhân nghĩa cũng đã hướng đến người dân. Ông kêu gọi nhà cầm quyền nhân nghĩa với dân, thời chiến thì lấy nhân nghĩa để thắng quân bạo ngược, thời bình thì đưa nhân nghĩa vào chính sự, khoan sức cho dân. Tuy nhiên, phải đến Nguyễn Đình Chiểu thì phạm trù nhân nghĩa mới thực sự mớ rộng đến nhân dân. Điều đó giải thích tại sao nhân dân, đặc biệt là cư dân vùng dất mới Nam Kì, vốn rất xem trọng mối liên hệ gắn kết giữa con người với con người trên cơ sở chữ nghĩa truyền thống, tiếp nhận tác phẩm của Nguyễn Đình Chiếu nồng nhiệt đến thế.

b) Nguyễn Đình Chiểu sáng tác thơ văn yêu nước ở thời kì đầu chống Pháp xâm lược để bảo vệ Tổ quốc. Đây là thời kì khổ nhục nhưng vĩ dại (Phạm Văn Đồng) của dân tộc. Đất nước mất dần vào tay giặc trước mắt nhà thơ. Các phong trào chống Pháp cũng lần lượt thất bại, người yêu nước thế hệ này nối tiếp thế hệ khác đã ngã xuống chiến trường. Nhưng “Súng giặc đất rền, lòng dân trời tỏ”. Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu đã làm sáng tỏ chân lí đó. Ông khóc than cho Tổ quốc buổi đầu gặp thương đau:

Khốc là khóc nước nhà cơn bẩn loạn, hỏm mai vắng chúa; thua buồn nhiều nỗi khúc nhôi; Than là than bờ cõi lúc qua phân, ngày tháng trông vua, ngơ ngẩn một phường trẻ dại. (Văn tế Trương Định)

Ông căm uất chửi mắng vào mặt kẻ thù:

Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta; Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó. (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc)

Ông hết lòng ngợi ca những sĩ phu như Trương Định đã một lòng vì nước, vì dân:

Bởi lòng chúng chẳng nghe thiên tử chiếu, đón ngăn mấy dặm mã tiền; Theo bụng dân phái chịu tướng quân thù, gánh vác một vai khổ ngoại. (Văn tế Trương Định)

Ông dựng bức tượng đài bất tử về những người dân ấp, dân lân: “Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh” (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc). Ngay cả lúc bờ cõi đã “chia đất khác”, Nguyễn Đình Chiểu vẫn nuôi giữ một niềm tin vào ngày mai: “Một trận mưa nhuần rửa núi sông” (Xúc cảnh), vẫn kiên trì một thái độ bất khuất trước kẻ thù: “Sự đời thà khuất đôi tròng thịt – Lòng đạo xin tròn một tấm gương” (Ngư Tiều y thuật vấn dáp). Với những nội dung trên, có thể nói thơ văn yêu nước Nguyễn Đình Chiểu đã đáp ứng xuất sắc những yêu cầu của cuộc sống và chiến đấu đương thời. Nó có tác dụng động viên, khích lê không nhỏ tinh thần và ý chí cứu nước của nhân dân ta.

c. Sắc thái Nam Bộ độc đáo trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu thể hiện rõ ở từng nhân vật trong tác phẩm của ông. Mỗi người dân Nam Bộ có thể bắt gặp mình ở các nhân vật của ông từ lời ăn tiếng nói, ở sự mộc mạc, chất phác đến tấm lòng nặng tình, nặng nghĩa, yêu thương rất mực và căm ghét đến điều. Họ sống vô tư, phóng khoáng, ít bị ràng buộc bởi những phép tắc, lễ nghi và sẵn sàng xả thân vì nghĩa. Họ nóng nảy, bộc trực nhưng lại rất đằm thắm, ân tình. Đó là những nét rất riêng trong vẻ đẹp chung của con người Việt Nam.

3. Với những kiến thức đã học về Nguyễn Trãi và Nguyễn Đình Chiểu, anh (chị) cảm nhận được điều gì gần gũi về tư tưởng nhân nghĩa giữa hai nhà thơ này? Hãy trình bày ý kiến của mình. Trả lời:

Như đã nói ở trên, Nguyễn Đình Chiểu và Nguyễn Trãi có những điểu gần gũi về tư tướng nhân nghĩa. Nguyễn Trãi cũng lấy cái nền tảng của nhân nghĩa là quyền lợi của nhân dân nhưng đến Nguyễn Đình Chiểu thì phạm trù nhân nghĩa mới thực sự mở rộng đến nhân dân, gần gũi thực sự với nhân dân. Đó thực sự là một bước tiến dài của tư tưởng.

chúng tôi

Bạn đang xem bài viết Giáo Án Ngữ Văn 11: Đọc Văn Tác Giả: Nguyễn Đình Chiểu trên website Maiphuongus.net. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!