Xem Nhiều 12/2022 #️ Dị Ứng Bia Rượu: Cách Nhận Biết, Xử Lý Và Cảnh Báo Nguy Hiểm / 2023 # Top 19 Trend | Maiphuongus.net

Xem Nhiều 12/2022 # Dị Ứng Bia Rượu: Cách Nhận Biết, Xử Lý Và Cảnh Báo Nguy Hiểm / 2023 # Top 19 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Dị Ứng Bia Rượu: Cách Nhận Biết, Xử Lý Và Cảnh Báo Nguy Hiểm / 2023 mới nhất trên website Maiphuongus.net. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Dị ứng bia rượu rất hiếm khi xảy ra. Tuy nhiên các phản ứng có thể trở nên nghiêm trọng bao gồm tổn thương gan, tim và làm tăng khả năng ung thư. Một số đối tượng nhất định, rượu làm cho các phản ứng dị ứng trở nên tồi tệ hơn.

Dấu hiệu nhận biết dị ứng bia rượu

Dị ứng rượu là tình trạng người dùng cảm thấy khó chịu sau khi uống rượu hoặc bất cứ loại đồ uống có cồn nào khác. Các triệu chứng dị ứng rượu bia thường gặp bao gồm:

Ngứa miệng, mắt hoặc mũi

Nổi mề đay mẩn ngứa, chàm hoặc bị ngứa trên da.

Đỏ mặt hoặc đỏ bừng ở một số vị trí khác trên cơ thể.

Sưng mặt, cổ họng hoặc các bộ phận cơ thể khác.

Nghẹt mũi, chảy nước mũi, thở khò khè hoặc khó thở.

Hạ huyết áp.

Chóng mặt, choáng váng đầu óc thậm chí là mất ý thức.

Đau bụng, buồn nôn, nôn hoặc tiêu chảy.

Mắc dù đa số các trường hợp dị ứng rượu thường không nghiêm trọng nhưng đôi lúc phản ứng có thể trở nên tồi tệ và ảnh hưởng đến tính mạng của người bệnh. Trong một số ít các trường hợp, dị ứng rượu bia có thể dẫn đến tử vong. Do đó nếu phát hiện các dấu hiệu dị ứng bia rượu, hãy đến bệnh viện để trao đổi với bác sĩ chuyên môn.

Trong rượu, bia hoặc các loại thực phẩm có cồn có chứa một số hoạt chất có khả năng gây dị ứng. Nếu bạn bị dị ứng rượu, hệ thống tiêu hóa sẽ xử lý rượu, bia, chất cồn không đúng cách và tạo ra các phản ứng dị ứng. Trong một số trường hợp, các triệu chứng dị ứng rượu có thể là dấu hiệu của bệnh ung thư hạch Hodgkin, tuy nhiên điều này rất hiếm.

Dị ứng rượu thường rất hiếm khi xảy ra. Hầu hết các trường hợp phản ứng với rượu là do cơ thể không thể dung nạp được rượu, bia. Không dung nạp rượu bia là tình trạng cơ thể bị thiếu hụt Aldehyd Dehydrogenase, một loại enzym được sử dụng để tiêu hóa rượu. Dấu hiệu không dung nạp rượu phổ biến là đỏ mặt và cơ thể nóng lên sau khi uống rượu, bia. Ngoài ra, bạn cũng có thể gặp một số dấu hiệu như: Đau đầu, buồn nôn, nôn, rối loạn nhịp đập của tim,…

Một số đối tượng dễ bị dị ứng rượu:

Người gốc châu Á

Bị hen suyễn hoặc có bệnh dị ứng

Dị ứng với ngũ cốc hoặc một số loại thực phẩm khác

Bị bệnh ung thư hạch Hodgkin

Đang sử dụng một loại thuốc điều trị bệnh khác.

Khi nào cần gặp bác sĩ?

Không dung nạp rượu, bia, đồ uống có cồn nhẹ có thể không cần đến gặp bác sĩ. Tất cả những gì người bệnh cần làm là tránh xa rượu, bia, hạn chế sử dụng càng ít càng tốt.

Cách chữa dị ứng sau khi uống rượu

Hiện tại không có cách điều trị dứt điểm dị ứng rượu bia. Nếu bạn dị ứng rượu bia thì cách xử lý tốt nhất là tránh xa rượu và thức uống có cồn. Khi đi ăn uống bên ngoài cần cẩn thận lựa chọn đồ uống, kiểm tra thành phần của các loại thức uống. Đôi khi một lượng rượu rất nhỏ cũng có thể gây ra các phản ứng nghiêm trọng hoặc gây nguy hiểm đến tính mạng của người dùng.

Ngoài ra, trong một số trường hợp bạn có thể sử dụng một số loại thuốc để kiểm soát các triệu chứng dị ứng bia rượu. Các loại thuốc phổ biến thường được dùng để điều trị dị ứng bia rượu bao gồm:

Đối với tình trạng nhẹ, bác sĩ có thể kê các loại thuốc kháng Histamine để khắc phục các triệu chứng. Thuốc có sẵn ở dạng kê đơn và không kê đơn có tác dụng cắt giảm các phản ứng gây ra dị ứng rượu, bia.

Thuốc kháng Histamine cũng có thể làm giảm các triệu chứng mề đay mẩn ngứa, ngứa da và đỏ mặt khi dị ứng rượu.

Epinephrine được sử dụng cho các trường hợp dị ứng bia rượu từ trung bình đến nặng. Thuốc được đưa vào cơ thể bằng cách tiêm trực tiếp vào động mạch để phân phối khắp cơ thể.

Thông thường thuốc sẽ được tiêm thông qua động mạch đùi. Đây là một loại thuốc mà người bệnh có thể mang theo bên người để phòng lúc cần phải sử dụng bia rượu.

Trong một số trường hợp, bệnh nhân hen suyễn khi dị ứng rượu có thể bị khó thở. Vì vậy, bệnh nhân hen suyễn thường được khuyên mang thuốc theo bên người để phòng ngừa và khắc phục các triệu chứng kịp lúc.

Dị ứng rượu và những cảnh báo nguy hiểm

Dị ứng rượu bia là một tình trạng hiếm gặp. Đôi khi các triệu chứng dị ứng rượu có thể là dấu hiệu cho một số tình trạng khác trong cơ thể bao gồm:

1. Không dung nạp Histamine

Histamine là một hóa chất mà cơ thể tiết ra và được tìm thấy trong một số loại đồ uống và thực phẩm, đặc biệt là thực phẩm lên men. Các triệu chứng không dung nạp Histamine tương tự như phản ứng dị ứng rượu. Các triệu chứng tiềm ẩn khác bao gồm đỏ và ngứa da, nghẹt mũi, khó thở, đau bụng, tiêu chảy.

Một số thực phẩm dễ gây ra tình trạng không dung nạp Histamine bao gồm:

Phô mai lâu năm

Thịt hun khói

Dưa cải muối

Rượu vang đặc biệt là rượu vang đỏ

Bia

2. Không dung nạp Sulfites

Sulfites là chất phụ gia được cho phép sử dụng trong thực phẩm và một số các nhân có thể dị ứng hoặc nhạy cảm với chất này. Hợp chất này thường được cho vào bia rượu, đặc biệt là rượu vang để hạn chế sự phát triển của nấm men và có tác dụng bảo quản chất lượng của sản phẩm.

Ở bệnh nhân hen suyễn, không dung nạp Sulfites có trong bia rượu có thể gây nên các cơn hen suyễn nghiêm trọng, bao gồm cả ảnh hưởng đến hệ thống hô hấp. Do đó, xem kỹ nhãn sản phẩm hoặc hạn chế sử dụng các sản phẩm chứa cồn để ngăn chặn tình trạng dị ứng và bệnh hen suyễn.

3. Ung thư hạch Hodgkin

Một số dị ứng rượu có thể là dấu hiệu mắc bệnh ung thư hạch Hodgkin. Dấu hiệu phổ biến là bị đau các hạch bạch huyết sau khi uống rượu.

Ung thư hạch Hodgkin làm ảnh hưởng đến hệ thống hạch bạch huyết, làm hạch bạch huyết mở rộng, sưng to. Thông thường, các bệnh bạch huyết thường không gây đau hoặc xuất hiện bất cứ dấu hiệu nào cả. Tuy nhiên, khi người bệnh uống rượu, các phản ứng có thể xảy ra và gây đau đớn.

Ung thư hạch Hodgkin là tình trạng u Lympho ác tính và có thể ảnh hưởng đến các hạch khác gây hại đến lá lách, gan và tủy xương.

4. Biến chứng nguy hiểm khác

Tùy thuộc vào nguyên nhân gây dị ứng hoặc các phản ứng nghiêm trọng với các đồ uống chứa cồn mà biến chứng có thể bao gồm:

Lão hóa: Uống rượu mỗi ngày trong một thời gian dài có thể thúc đẩy quá trình phản ứng dị ứng ở một số người có cơ địa nhạy cảm và làm tăng tốc độ lão hóa.

Gây ra chứng đau nửa đầu: Uống rượu có thể làm một số người bệnh bị đau nửa đầu. Đây là có thể là phản ứng của cơ thể để chống lại các tác nhân gây hại.

Làm tình trạng hen suyễn trở nên nghiêm trọng: Có 33% bệnh nhân hen suyễn, trong vòng 1 giờ sau khi tiêu thụ rượu, các triệu chứng bệnh có thể tái phát, tăng khả năng dị ứng và gây ra các cơn hen.

Phản ứng dị ứng nghiêm trọng: Đôi khi các phản ứng dị ứng rượu có thể gây ảnh hưởng đến tính mạng của người bệnh. Mặc dù điều này rất hiếm khi xảy ra, tuy nhiên hãy gọi cho cấp cứu ngay khi người bệnh có dấu hiệu sốc phản vệ.

Nếu bạn bị dị ứng rượu bia, bác sĩ có thể khuyên bạn ngừng tiêu thụ các loại đồ uống này. Tham khảo thành phần có trên nhãn sản phẩm trước khi sử dụng để tránh các triệu chứng. Trao đổi với bác sĩ để biết thông tin chi tiết.

Dị Ứng Cá Ngừ: Cách Nhận Biết Và Xử Lý / 2023

Cá ngừ là một loại thực phẩm chứa rất nhiều chất dinh dưỡng tốt cho sức khỏe như: đạm, vitamin, chất béo và các khoáng chất tốt cho cơ thể. Omega 3 có bên trong cá ngừ rất cần thiết cho sự phát triển của con người, đặc biệt là trẻ em.

Với nguồn dinh dưỡng cao nhưng giá thành lại rẻ, cá ngừ thường được mọi người mua về chế biến thành các món ăn được sử dụng hàng ngày. Tuy nhiên, cá ngừ cũng là loại thực phẩm rất dễ gây ra các phản ứng dị ứng với tác nhân chính là các histamine.

Protein parvalbumin có trong cá biển là một trong những loại protein mà hệ miễn dịch không thể nhận diện. Khi được hấp thu vào, cơ thể tạo ra kháng thể immunoglobulin E để kháng lại, gây ra biệu hiện dị ứng.

Khi mua phải cá ngừ ươn để ăn, các enzym bên trong ruột cá ngừ dưới tác động của men decarboxylase sẽ hoạt động phân hủy các sắc tố đỏ có trong thịt cá ngừ, tạo nên histamin gây dị ứng.

Một số loại ký sinh trùng sống trong cá như amisakis cũng có thể là nguyên nhân gây ra triệu chứng dị ứng cá ngừ.

Các histamine gây dị ứng phân bố trong cá ngừ không đều. Thịt đỏ sẽ chứa nhiều tác nhân gây dị ứng hơn thịt trắng, đặc biệt ở các loại cá đông lạnh, cá xông khói, cá đóng hộp,…

Dấu hiệu nhận biết dị ứng cá ngừ

Các chất histamine trong cá ngừ khi được nạp vào cơ thể sẽ phân hủy và sinh ra những enzym có hại, khó phân hủy gây ức chế, dị ứng cơ thể. Tùy theo lượng cá được hấp thu vào cơ thể nhiều hay ít và thể trạng mỗi người, mà dị ứng cá ngừ sẽ có những triệu chứng khác nhau.

Sưng, đỏ, ngứa: Khi bị dị ứng cá ngừ, da sẽ bị nổi mề đay, mẩn ngứa đỏ thành những mảng lớn. Ngứa có thể xảy ra chỉ sau vài phút ăn hoặc va chạm vào thịt cá. Có người có thể bị sưng lưỡi, sưng cuống họng trong vài giờ, cản đường không khí gây nghẹt thở. Nặng hơn sẽ gây sưng mắt, lưỡi,..

Rối loạn tiêu hóa, da dày bị có thắt: Khi bị dị ứng cá ngừ, cơ thể sẽ xuất hiện triệu chứng nôn mửa, kèm theo đau bụng nghiêm trọng, tiêu chảy. Đây là cách cơ thể phản ứng để tống các histamine ra ngoài.

Hen suyễn: Những người bị dị ứng cá ngừ nặng sẽ có các triệu chứng giống hen suyển như ho dữ dội, khó thở, tức ngực,…Các triệu chứng này thường sẽ xuất hiện vài phút sau khi ăn, có thể kéo dài đến vài giờ. Việc hít phải hơi khi nấu cá ngừ hoặc là chạm vào cá sẽ khiến cho hen suyễn nghiêm trọng hơn.

Sốc phản vệ: Khi phản ứng dị ứng tác động đến toàn bộ cơ thể, sẽ gây sốc phản vệ rất nguy hiểm, có thể đe dọa đế tính mạng của bệnh nhân nếu không được cấp cứu kịp thời.

Cách xử lý khi bị dị ứng cá ngừ

Ngay khi thấy cơ thể bắt đầu có những dấu hiệu dị ứng cá ngừ. Bạn nên tiến hành xử lý nhanh chóng và đến cơ sở y tế để điều trị kịp thời.

Xử lý ban đầu khi dị ứng cá ngừ

Tìm cách nôn các thực phẩm và cá ngừ đã ăn trước xuất hiện tình trạng dị ứng. Cách này giúp loại bỏ phần cá ngừ chưa được tiêu hóa ra khỏi cơ thể, tránh cho tình trạng dị ứng trầm trọng hơn.

Uống nhiều nước giúp đào thải các cá histamine ra khỏi cơ thể thông qua đường bài tiết.

Khi bắt đầu có hiện tường nổi mề đay, bạn nên tránh gãi gây trầy xước hoặc nhiễm trùng da.

Điều trị dị ứng cá ngừ

Điều trị dị ứng bằng thuốc Tây

Khi bị dị ứng cá ngừ cấp tính, bạn nên nhanh chóng đến gặp bác sĩ. Trước khi tiến hành điều trị bằng thuốc, bác sĩ sẽ tiến hành một số kiểm tra để xét nghiệm, kiểm tra phản ứng dị ứng bằng cách: chích một lượng chất gây dị ứng dưới da, thử máu ARAST để phát hiện các kháng thể IgE trong máu.

Thông thường bác sĩ sẽ chỉ định sử dụng các loại thuốc có tác dụng kháng Histamine, giảm nhanh các triệu chứng dị ứng, hạn chế gây hại đến sức khỏe bản thân.

Nếu có xuất hiện triệu chứng hen suyễn, bác sĩ sẽ tiến hành kê thêm một số loại thuốc xịt và kem thoa.

Lưu ý: Người bệnh không nên tự ý mua thuốc về sử dụng khi chưa có chỉ định của bác sĩ, tránh gây ra những nguy hiểm đến sức khỏe.

Điều trị dị ứng bằng các nguyên liệu thiên nhiên

Các triệu chứng dị ứng cá ngừ cũng có thể được cải thiện thông qua một số nguyên liệu thiên nhiên sau:

Mật ong: Mật ong là một loại kháng sinh tự nhiên, chứa rất nhiều vitamin, có thể làm giảm tình trạng ngứa ngáy do dị ứng. Khi bị dị ứng cá ngừ, bạn hãy pha loãng một muỗng canh mật ong với nước ấm để uống

Chanh: Đây là một mẹo nhỏ giúp chữa dị ứng cá ngừ, giảm các triệu chứng phát ban, ngứa ngáy. Bạn có thể pha nước ấm với nước cốt chanh tươi rồi uống.

Gừng: Gừng có tác dụng làm giảm ngứa ngáy, đỏ da, ấm bụng và cải thiện tiêu hóa. Bạn hãy uống một ly trà gừng ấm khi bị dị ứng cá ngừ.

Nước ép rau quả: Uống nước ép hoa rau quả có công dụng giảm sưng lưỡi, tăng cường hệ miễn dịch.

Thông thường dị ứng cá ngừ sẽ không gây nguy hiểm đến tính mạng. Nhưng khi có những dấu hiệu bất thường thì tốt nhất bạn nên đến gặp bác sĩ để được kiểm tra và điều trị nhanh chóng.

Cách phòng ngừa dị ứng cá ngừ

Bên cạnh việc tiến hành điều trị thích hợp, bạn cũng nên có các biện pháp phòng ngừa hiệu quả, tránh nguy cơ bị dị ứng cá ngừ.

Nên chọn cá ngừ tươi giúp hạn chế tối đa lượng histamin bị hấp thu vào cơ thể. Chọn những con cá chắc, mắt tròn, mang đỏ và cắt ra máu còn tươi.

Không ăn cá ngừ ươn, đã chết từ lâu và không được bảo quản tốt. Nên mua cá ngừ ở nơi có chất lượng và điều kiện bảo quản tốt như: siêu thị, cửa hàng thực phẩm tươi sống,…

Nấu chín cá trước khi sử dụng để giảm bớt nguy cơ dị ứng.

Nếu đã từng bị dị ứng cá ngừ, bạn tuyệt đối không nên tiếp tục ăn cá ngừ nữa. Vì phản ứng dị ứng ở lần tiếp theo sẽ nghiêm trọng hơn lần đầu.

Đối với trẻ nhỏ 7 – 8 tháng tuổi, mẹ nên cho trẻ ăn thử cá với lượng nhỏ rồi theo dõi phản ứng. Nếu sau ba lần ăn có dấu hiệu dị ứng thì không nên cho trẻ sử dụng.

Cá ngừ là loại thực phẩm có hàm lượng dinh dưỡng cao, rất tốt cho sự phát triển của con người. Tuy nhiên, nó có khả năng gây dị ứng rất cao, bạn nên cẩn thận khi sử dụng. Ở những người từng bị dị ứng trước đó thì nên tránh sử dụng vì có thể gây dị ứng nặng hơn.

Tìm hiểu thêm: Dị ứng hải sản – Nguyên nhân và cách xử lý nhanh

Dị Ứng Tôm – Dấu Hiệu Nhận Biết Và Cách Xử Lý Đúng Nhất / 2023

Tôm hay hải sản nói chung là món ăn yêu thích của nhiều người nhờ giá trị dinh dưỡng cao và sự tươi ngon mà chúng mang lại. Tuy nhiên, nếu bị dị ứng tôm, việc tiêu thụ nó có thể dẫn đến các phản ứng như nổi mề đay, mẩn đỏ ngứa hoặc đau bụng, tiêu chảy, nguy hiểm nhất là sốc phản vệ. Vậy nhận biết dị ứng tôm bằng cách nào và bạn cần làm gì khi gặp phải tình huống này?

Dấu hiệu dị ứng tôm

Hiện tượng dị ứng tôm, cua hoặc các loại hải sản khác đều do phản ứng quá mẫn của hệ miễn dịch gây ra. Khi ăn tôm, hệ miễn dịch nhầm lẫn protein có trong nó là có hại và kích hoạt sản xuất các kháng thể, đồng thời giải phóng histamin cùng một số chất trung gian hóa học khác để chống lại sự xâm nhập đó. Histamin tập trung nhiều ở da, niêm mạc, dạ dày, tương ứng với từng biểu hiện cụ thể.

Nhìn chung, những biểu hiện dị ứng tôm thường gặp là:

Hệ hô hấp: Hắt hơi, ho, chảy nước mắt, sổ mũi, ngứa rát cổ họng, sưng môi, khó thở…

Ở da:

Nổi mề đay

, phát ban, mẩn đỏ ngứa, viêm da dị ứng…

Đường tiêu hóa: Buồn nôn, đau bụng, tiêu chảy… 

Sốc phản vệ: Huyết áp giảm, tim đập nhanh, nổi mề đay khắp người, da tái lạnh nhợt nhạt, chóng mặt, mất ý thức…

Làm gì khi bị dị ứng tôm?

Khi bị dị ứng với một thực phẩm bất kỳ, nguyên tắc đầu tiên người bệnh cần nhớ là ngừng dung nạp chúng. Tiếp theo, tùy vào các triệu chứng nặng hay nhẹ mà áp dụng cách xử lý phù hợp. Nếu dị ứng tôm thể hiện ở đường tiêu hóa như đau bụng, tiêu chảy… cần cho người bệnh uống dung dịch oresol để bù nước và điện giải cho cơ thể. Tránh sử dụng thuốc cầm tiêu chảy ngay vì lúc này cơ thể đang cần loại bỏ nốt phần chất độc còn sót lại trong dạ dày ra ngoài.

Chăm sóc ban đầu

Để kiểm soát cơn ngứa và các triệu chứng dị ứng khác, bạn có thể áp dụng một số biện pháp sau:

Đắp khăn mát hoặc gạc lạnh lên vùng da bị ngứa, lưu ý chỉ để yên trong 5-10 phút rồi ngưng, sau đó chườm tiếp. Hơi lạnh sẽ làm dịu da, ức chế thương tổn mới xuất hiện và khiến bạn cảm thấy dễ chịu hơn.

Uống nước chanh và mật ong: Với đặc tính kháng khuẩn, khử trùng và dồi dào các vitamin, khoáng chất, mật ong sẽ giúp giảm bớt ngứa ngáy. Khi kết hợp với chanh, loại nước uống này vừa thanh nhiệt, vừa hỗ trợ ngăn chặn dị ứng tiếp tục xuất hiện.

Thay đổi chế độ ăn uống: Tăng hàm lượng rau củ, hoa quả tươi để làm mát cơ thể, tăng cường hệ miễn dịch.

Sử dụng thảo dược: Tắm lá, xông hơi, đắp lá, chườm nóng… từ các loại thảo dược có tính mát như: Sài đất, lá khế, trầu không… cũng có hiệu quả khi bị dị ứng với tôm.

Dùng thuốc tây điều trị

Bình thường, các biểu hiện ngoài da do dị ứng tôm chỉ kéo dài trong vài giờ cho đến vài ngày. Tuy nhiên, ở một số người, tình trạng này không thuyên giảm mà thậm chí ngày càng nặng nề và khó chịu hơn. Lúc này, chúng ta thường có xu hướng sử dụng các loại thuốc tây để điều trị và cắt nhanh cơn ngứa.

Những thuốc được dùng để điều trị triệu chứng dị ứng tôm gồm:

Thuốc kháng histamin: Đây là một loại thuốc phổ biến, được dùng nhiều trong các bệnh dị ứng như nổi mề đay, mẩn ngứa. Bạn có thể tìm mua thuốc này tại các nhà thuốc dưới dạng không kê đơn như: Cetirizine, loratadin, clorpheniramin…

Thuốc chống viêm corticosteroid: Thuốc được dùng dưới dạng kem hoặc mỡ bôi lên vùng da bị dị ứng. Những chế phẩm người bệnh có thể sử dụng như: Prednisolone, betamethasone…

Thuốc tiêm epinephrine: Đây là thuốc chỉ định đầu tiên cho các trường hợp sốc phản vệ với những nguyên nhân khác nhau. Thuốc được dùng bằng cách tiêm trực tiếp vào tĩnh mạch người bệnh để cải thiện tim, ổn định huyết áp, giảm sưng môi, giúp bệnh nhân dễ thở hơn.

Đẩy lùi nổi mề đay dị ứng tôm với giải pháp từ thiên nhiên

Dị ứng tôm có thể xảy ra ngay lần đầu, nhưng cũng không ít trường hợp tiếp xúc vài lần sau đó mới xuất hiện. Nhìn chung, các thuốc chống dị ứng hiện nay có thể kiểm soát tốt những triệu chứng dị ứng tôm cấp tính. Tuy nhiên, chúng chỉ có tác dụng tạm thời, không chữa nguyên nhân gây bệnh và đôi khi còn khiến tình trạng dị ứng trở nên trầm trọng hơn.

Do đó, bên cạnh việc dùng thuốc, nhiều người có xu hướng tìm đến các giải pháp hỗ trợ có nguồn gốc từ thiên nhiên để cải thiện bệnh mề đay, dị ứng. Trong đó, có lẽ không thể không nhắc đến thực phẩm bảo vệ sức khỏe Phụ Bì Khang.

Sản phẩm đem đến tác dụng giảm ngứa và các triệu chứng dị ứng, mề đay, phòng tránh tái phát theo nguyên lý:

Cải thiện triệu chứng viêm, ngứa, mẩn đỏ (cao nhàu): Theo các tài liệu, nhàu có tác dụng kháng viêm, chống dị ứng, giảm đau nên giúp giảm ngứa và kiểm soát triệu chứng dị ứng tôm rất tốt. Điều này đã đáp ứng được mục tiêu trước mắt trong điều trị dị ứng, giảm bớt sự khó chịu ban đầu cho người bệnh.

Tăng cường chức năng giải độc (cao gan), thải độc (cao nhàu): Cao gan giúp tăng cường chức năng gan, tăng khả năng giải độc, bổ máu. Đồng thời, cao nhàu giúp tăng cường chức năng thận, tăng khả năng thải độc, hỗ trợ quá trình chuyển hóa nhằm đào thải các chất dư thừa ra khỏi cơ thể.

Tăng cường năng lượng tế bào (L-carnitine fumarate): Đây là một acid amin giúp cung cấp năng lượng cho tế bào, bảo vệ tế bào, từ đó nâng cao hệ miễn dịch và sức đề kháng.

Chính nhờ sự phối hợp độc đáo đó, Phụ Bì Khang là một giải pháp hoàn hảo cho những người bị dị ứng, nổi mề đay. Sản phẩm giúp giảm ngứa từ trong ra ngoài, ức chế thương tổn mới và ngăn chặn mề đay tái phát một cách hiệu quả.

Kinh nghiệm cải thiện dị ứng mề đay của nhiều người

Từ khi ra mắt, Phụ Bì Khang đã nhận được rất nhiều phản hồi tích cực từ người dùng cả nước. Điển hình là trường hợp của chị Trần Thị Minh Mỹ Ẩn (18/9 đường Bạch Mã, phường 15, quận 10, TP. HCM) bị mề đay tái phát liên tục trong 4 năm vì dị ứng hải sản. Ngứa ngáy khiến chị Mỹ Ẩn không thể tập trung học tập, xấu hổ không dám gặp bạn bè. Mặc dù đã đi khám nhiều nơi, uống không biết bao nhiêu loại thuốc nhưng bệnh tình không thuyên giảm khiến chị rất mệt mỏi, chán nản. Tuy nhiên, nhờ tìm thấy Phụ Bì Khang trong một lần đọc báo, chị Mỹ Ẩn đã tìm thấy giải pháp cho căn bệnh của mình. Chỉ sau 3 tháng sử dụng sản phẩm, tình trạng mề đay dị ứng của chị đã biến mất, không bị tái phát nữa.

Cùng xem câu chuyện của chị Mỹ Ẩn TẠI ĐÂY.

Đánh giá của chuyên gia

Nếu bạn còn thắc mắc về bệnh mề đay dị ứng và muốn mua sản phẩm Phụ Bì Khang, xin vui lòng liên hệ đến tổng đài miễn cước: 18006302, Hotline Zalo/Viber 0916751651 / 0916767653 để được hỗ trợ một cách nhanh nhất.

Thu Hương

*Thực phẩm này không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh

Về tác giả

Thu Hương

Công việc hiện tại: Bản thân đã tốt nghiệp chuyên ngành dược, từng là cộng tác viên cho nhiều trang tin về sức khỏe. Đến nay tôi tự tin với những nội dung mình viết ra sẽ giúp người bệnh mề đay có được thông tin hữu ích nhất trong quá trình điều trị bệnh của mình.

See author’s posts

Mối Nguy Hiểm Của Dị Ứng Thuốc &Amp; Cách Phòng Tránh / 2023

18-01-2011

Khi dùng thuốc điều trị bệnh, bao gồm tất cả các loại thuốc tây, thuốc nam, thuốc y học dân tộc, thuốc đông y… tức là ta đưa những “chất lạ” vào cơ thể. Cơ thể ta có thể chấp nhận những “chất lạ” đó với phản ứng bình thường, không ảnh hưởng đến các quá trình sinh học khác của hoạt động sống.

Nhưng đôi khi, những hóa chất trong các thuốc điều trị lại gây ra các phản ứng quá mẫn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động khác của cơ thể. Đó là tình trạng dị ứng thuốc, có khi chỉ là các triệu chứng nhẹ như ngứa ngáy, nổi mày đay…, nhưng cũng có thể nghiêm trọng như sốc phản vệ, dẫn đến tử vong.

Dị ứng thuốc được định nghĩa là phản ứng khác thường của cơ thể khi tiếp xúc lần thứ hai hay những lần sau với một loại thuốc mà thành phần của thuốc có tính chất gọi là “gây dị ứng” (dị nguyên). I. Dị ứng thuốc có những đặc điểm gì?

Nên lưu ý một số đặc điểm của dị ứng thuốc như sau:

– Dị ứng thuốc không phụ thuộc vào liều lượng nên sẽ xảy ra dị ứng dù thuốc được dùng đúng liều hoặc thậm chí dùng rất ít. Đây là những phản ứng không đoán trước được của hệ miễn dịch. Trường hợp bị dị ứng thuốc thì hệ thống miễn dịch sẽ tạo ra mức độ nhạy thuốc cực lớn, nhất là khi dùng thuốc lần đầu nhưng cũng có trường hợp dùng thuốc lần đầu không bị dị ứng nhưng những lần tiếp theo lại có thể bị dị ứng.

– Phản ứng dị ứng chỉ xảy ra ở một số ít bệnh nhân được gọi là người dễ dị ứng hoặc người có “cơ địa dị ứng”. Cho nên, có thuốc nhiều người dùng chẳng việc gì nhưng ở người khác thì bị dị ứng, thậm chí dị ứng rất nặng.

– Trong thuốc, ngoài dược chất còn có tá dược, chất bảo quản, kể cả tạp chất và người dùng thuốc có thể bị dị ứng với bất cứ thành phần nào trong đó.

– Phản ứng dị ứng sẽ biến mất khi ngưng dùng thuốc.

– Dị ứng thuốc không phải là tác dụng phụ của thuốc. Tất cả các loại thuốc chữa bệnh đều có thể có những tác dụng phụ không mong muốn và những tác dụng phụ đó đều được ghi cụ thể bên ngoài nhãn mác, trong khi đó dị ứng thuốc lại ít xảy ra hơn, chiếm 5-10% các trường hợp điều trị.

– Dị ứng thuốc cũng không phải là trường hợp tích lũy thuốc do dùng môt số thuốc lâu dài như: thuốc có chứa thủy ngân, vàng, arsen, belladone (cà độc dược), strychnine (mã tiền).

II. Thuốc nào gây dị ứng?

– Tất cả các thuốc đều có khả năng gây ra phản ứng có hại. Trong số các loại thuốc gây dị ứng, kháng sinh là nhóm thuốc xếp “đầu bảng” chiếm tới hơn 50%. Các thuốc kháng sinh thường gây dị ứng là Penilicilin, Ampicillin, Streptomicine, Sulfonamide. Kế đến là các thuốc điều trị động kinh, thuốc giảm đau, kháng viêm, giảm sốt, vitamin, các thuốc có nguồn gốc từ chất đạm (protein, peptid) như các hormon… Một số thuốc ảnh hưởng trên hệ tim mạch như thuốc tê novocain, lidocain, vitamin C chích, vitamin B1 chích… có thể gây choáng phản vệ. Ngay cả aspirin uống cũng có thể gây choáng phản vệ. Có thuốc dùng nhiều lần trước đó không việc gì nhưng sau lại bị phản ứng.

– Đặc biệt lưu ý có hiện tượng gói là phản ứng chéo giữa thuốc gây dị ứng với thuốc khác cùng nhóm. Thí dụ, người đã bị dị ứng với kháng sinh amoxicillin thì có thể bị dị ứng với các thuốc khác nằm cùng nhóm beta-lactam (gọi là nhóm penicillin, nhóm cephalosporin). Người đã dị ứng với aspirin cũng có thể bị dị ứng với các thuốc khác nằm trong nhóm thuốc kháng viêm không steroid (NSAID).

– Dị ứng thuốc do đường uống nhiều nhất (hơn 70%), thường gây ra các hội chứng loại hình dị ứng muộn, tiếp đó là đường tiêm chích (gần 20%). Các loại thuốc nhỏ mắt, nhỏ mũi, bôi ngoài da, tẩy-nhuộm lông,tóc… cũng đều có khả năng gây ra các dị ứng tại chỗ và toàn thân như dùng đường uống, đường tiêm chích.

– Trong các trường hợp dị ứng với kháng sinh thường xảy ra, đáng lo ngại nhất là Penicillin và nhóm beta-lactam. Đây là kháng sinh đầu được tìm ra và áp dụng vào điều trị và cũng chính Penicillin gây sốc phản vệ do dùng kháng sinh.

– Sốc phản vệ là tai họa khủng khiếp, là trường hợp nặng nhất của dị ứng thuốc, có thể dẫn đến khó thở, hạ huyết áp, trụy mạch và tử vong có thể xảy ra trong vài phút nếu không cấp cứu đúng và kịp thời. Vì thế có kiến thức về tình trạng dị ứng thuốc và sốc thuốc là điều rất cần thiết cho tất cả mọi người.

– Thuốc đông y đứng thứ ba trong số các nhóm thuốc gây dị ứng. Đây thực sự là điều rất đáng báo động vì người dân vẫn thường quan niệm không những các thuốc đó lành tính, không độc mà còn mát, bổ và hợp với tạng người Việt. Vì vậy, mọi người cứ “thoải mái” sử dụng mà không cần phải đề phòng”.

– Theo các chuyên gia y tế, việc lạm dụng, chữa bệnh theo kiểu mách bảo, xem nhẹ tác dụng phụ của thuốc đông y là vấn đề hết sức nguy hiểm. Thực ra, thuốc đông y không đơn giản là lành, mát, bổ như nhiều người lầm tưởng. Thuốc tây, thuốc đông y, thuốc nam, y học dân tộc về bản chất đều như nhau, chỉ khác chăng là phương thức trích ly hoạt chất để sử dụng. Cách sử dụng thuốc đông y là đun để chiết suất ra thuốc với hàm lượng thấp, còn thuốc tây là được “hoá liệu” để tổng hợp tinh chất và hàm lượng cao hơn. Ngoài ra, việc sử dụng thuốc đông y cũng phức tạp hơn thuốc tây vì không những có dược chất chính mà còn rất nhiều chất khác nữa. Thông thường, trong mỗi thang thuốc có hàng chục vị, mà mỗi vị lại có nhiều chất khác nhau mà cho đến giờ, kể cả người bốc thuốc cũng chưa hiểu được hết tác dụng của các vị thuốc. Bên cạnh đó, người sử dụng thuốc đông y cũng có nguy cơ nhiễm độc với các loại hoá chất bảo quản như: lưu huỳnh, phosphor, thuốc chống ẩm, mốc…Tình trạng dị ứng thuốc đông y thường chậm, nhiều bệnh nhân khi đến cơ sở y tế cũng không biết mình bị dị ứng thuốc đông y.

III. Nguyên nhân dẫn đến dị ứng thuốc.

1. Tùy theo cơ địa mà người dùng thuốc có thể bị dị ứng với bất cứ thuốc nào kể cả những thuốc bổ, thuốc nam. Ở những người có cơ địa dị ứng, việc dùng thuốc gặp rất nhiều khó khăn. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy có mối liên hệ di truyền giữa cha mẹ và con cái. Nếu cha mẹ bị dị ứng thì xác suất sinh con có 50% bị dị ứng và có liên hệ với cùng một nguyên nhân dị ứng. Trường hợp cha mẹ không bị dị ứng thì tỉ lệ con mắc bệnh dị ứng chỉ là 10%. Ngoài ra, ở một số trường hợp là nhân viên y-dược bệnh viện, qua nghiên cứu người ta cũng thấy họ có nguy cơ bị dị ứng thuốc cao gấp 2,5 lần người khác.

– Có người xuất hiện các triệu chứng dị ứng thuốc ngay sau khi uống một vài giờ, nhưng cũng có khi sau một vài ngày, thậm chí hằng tuần. Đáng lưu ý là trong rất nhiều trường hợp thấy bị sốt, ngứa, nổi mày đay, bệnh nhân lại nghĩ rằng mình bị một bệnh khác và dùng thêm vài loại thuốc nữa, càng làm cho tình trạng dị ứng thuốc trầm trọng hơn.

2. Thuốc đã quá thời gian sử dụng: khi đó, chúng không chỉ hết tác dụng mà có thể biến thành chất khác, gây ngộ độc cho người sử dụng.

3. Tình trạng tự điều trị và sử dụng thuốc bừa bãi. Không ít trường hợp tự kê đơn cho mình hoặc nhờ người bán thuốc kê đơn.

– Những người bệnh trước khi uống thuốc cần phải làm thử phản ứng cơ thể với loại thuốc đó như đặt vào lưỡi, hốc mũi (thuốc uống), hoặc thử ngoài da đối với các loại thuốc tiêm, bôi thử một lượng nhỏ thuốc vào da vùng sau tai…

– Ngoài ra, có quá nhiều loại thuốc được đưa vào thị trường nhưng lại thiếu thông tin hướng dẫn sử dụng an toàn hợp lý và chúng ta chưa quản lý được các nguồn thuốc sản xuất trong nước cũng như nhập khẩu này.

IV. Vì sao cơ thể bị dị ứng thuốc?

Histamine là một chất có sẵn trong cơ thể như máu và các mô dưới dạng liên kết tĩnh điện histamine-héparine không có hoạt tính. Khi có chất lạ vào cơ thể người dễ bị dị ứng thì nối tĩnh điện này bị cắt đứt, phóng thích histamine tạo nên tác dụng dược lực tác động lên hệ tuần hoàn làm giãn mạch gây tụt huyết áp, lên tim làm tim đập nhanh, lên não gây nhức đầu do bị tăng áp lực nội sọ, lên hô hấp làm co thắt khí phế quản gây nghẹt thở, lên hệ tiêu hóa làm co thắt cơ trơn… Vì thế các thuốc chống dị ứng thường được gọi chung là nhóm kháng histamine.

Khi Histamin được phóng thích tự do trong cơ thể, hiện tượng dị ứng xảy ra được biểu hiện dưới các hình thức:

1. Dị ứng thuốc nhẹ: xuất hiện sớm ngay sau khi dùng thuốc hay trễ hơn sau đó. – Mẩn ngứa, phát ban, nổi mề đay tại chỗ hay toàn thân, mắt ngứa, đỏ, tụt huyết áp do mao mạch bị giãn nở. – Khó thở, hen suyễn do khí phế quản bị co thắt. – Kích thích cơ trơn đường tiêu hóa gây co thắt, đau bụng, nôn mửa, tiêu chảy.

2. Dị ứng thuốc trầm trọng: xảy ra sau vái giờ hay vài ngày dùng thuốc: Hội chứng Lyell, hội chứng Stevens- Johnson.3. Dị ứng thuốc nặng: “sốc” thuốc còn gọi là choáng phản vệ – Xảy ra rất nhanh sau khi tiêm hoặc uống thuốc, bệnh nhân khó thở, tím tái, trụy tim mạch. Đây là trường hợp dễ dẫn đến tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời.

– Có nhiều triệu chứng dị ứng thuốc không có biểu hiện rõ ràng mà người bệnh không thể nào biết như sau khi uống thuốc bị rối loạn tiền đình, suy thận,mất tế bào máu…

V. Các nhóm bệnh lý dị ứng thuốc

Dị ứng thuốc thuộc nhóm bệnh lý quá mẫn, được chia thành 4 nhóm:

2. Type II: Phản ứng quá mẫn độc tế bào, xảy ra do cơ thể bị kích thích sinh quá nhiều kháng thể (IgM và IgG) dị ứng chống tế bào của chính mình, kết hợp với kháng nguyên (thuốc) tạo ra phức hợp miễn dịch kháng nguyên – kháng thể. Các bệnh phổ biến thuộc nhóm này là tan máu tự nhiên, giảm tiểu cầu tự miễn sau truyền máu, hạ bạch cầu hoặc do thuốc (hội chứng Stevens-Johnson, hội chứng Lyell).

3. Type III: Nhóm quá mẫn do phức hợp miễn dịch kháng nguyên – kháng thể lắng đọng ở thành mạch máu nhỏ gây viêm mao mạch, kết dính tiểu cầu gây tắc nghẽn, thiếu máu, hoại tử các mô. Kháng thể là IgG, IgM. Bệnh thường xảy ra 5-7 ngày sau khi dùng thuốc, gặp trong bệnh huyết thanh, viêm mao mạch do thuốc với các biểu hiện viêm mao mạch, mề đay, viêm khớp, viêm thận, thiếu máu tán huyết, mất bạch cầu hạt, viêm cơ tim, viêm đa dây thần kinh.

4. Type IV: Nhóm quá mẫn chậm qua trung gian tế bào do phản ứng quá mức của tế bào Lympho T đối với đáp ứng miễn dịch. Thường gặp trong viêm da tiếp xúc dị ứng, hồng ban cố định nhiễm sắc và bệnh chàm do thuốc.

VI. Làm thế nào để phòng ngừa dị ứng thuốc?

– Chỉ nên dùng thuốc điều trị bệnh theo đúng toa chỉ định của bác sĩ, không tự ý mua thuốc để tự điều trị cũng như giới thiệu thuốc điều trị cho người khác vì đơn giản nghĩ rằng họ có bệnh lý giống mình. Việc sử dụng thuốc đúng hướng dẫn của bác sỹ điều trị và được theo dõi, chăm sóc là điều cần thiết nhằm giảm thiểu các phản ứng có hại của thuốc.

Dùng thuốc theo đúng chỉ định của bác sĩ & ngưng sử dụng thuốc, gặp bác sĩ ngay khi có phản ứng bất thường xảy ra – Khi đã bị dị ứng loại thuốc nào thì tuyệt đối không được dùng loại thuốc đó nữa.

– Dị ứng thuốc là tình trạng xảy ra ngoài ý muốn của bác sĩ điều trị cũng như của bệnh nhân. Khi đang dùng thuốc, nếu xảy ra các phản ứng bất thường như ngứa, nổi mề đay, khó thở, hoặc cảm thấy khó chịu thì lập tức ngưng sử dụng thuốc đó, đến khám ngay ở cơ sở y tế gần nhất để có thể được cấp cứu hay được hướng dẫn xử trí thích hợp. Sau đó, ta nên đến tái khám ở bác sĩ đã chỉ định thuốc để bác sĩ có thể thay đổi thuốc điều trị nếu cần. Các biện pháp dân gian như uống nước đậu xanh để giã thuốc, uống nước chanh, lòng trắng trứng… đều chưa có cơ sở khoa học để chứng minh.

Việc dùng thuốc chống dị ứng chỉ mang tính chất tạm thời để giải trừ tác động của Histamin trong cơ thể chứ không giải quyết được căn nguyên dị ứng.

Nên nhớ rằng tình trạng dị ứng đối với một loại thuốc xảy ra ở những lần sau đều trầm trọng hơn lần trước!

– Khi đi khám bệnh ở bác sĩ hoặc đến nhà thuốc mua thuốc thì phải thông báo cho bác sĩ hoặc dược sĩ biết những loại thuốc mà mình đã bị dị ứng trước đây và những loại thuốc hiện đang dùng để được hướng dẫn sử dụng thuốc hợp lý, an toàn.

VII. Các dạng biểu hiện bệnh lý hay gặp trong dị ứng thuốc:

1. Ban đỏ (Exanthems):là dạng ban sẩn hoặc ban dạng sởi, nhỏ như đầu đinh ghim ở thân mình và có thể liên kết lại với nhau tạo thành mảng, người bệnh thường ngứa, thời gian xuất hiện sau dùng thuốc thường khoảng 1 tuần và tồn tại đến một vài tuần. Những thuốc hay gây dị ứng dạng này là: ampicillin, amoxycillin, cotrimoxazole, carbamazepine, cefaclor, những thuốc bôi ngoài da, những thuốc có khả năng khuếch tán trong môi trường (các mỡ kháng sinh, chống viêm, bảo vệ da, tiếp xúc trực tiếp với thuốc trong công nghệ sản xuất thuốc, khí dung kháng sinh…).

2. Viêm da bong vảy (Exfoliative dermatitis): là dạng ít gặp với biểu hiện đỏ da bong vảy và ngứa toàn thân. Bệnh có thể tiến triển nặng nề và có thể đe doạ đến tính mạng người bệnh. Dạng này thường xuất hiện sau dùng thuốc khoảng 1 tuần và tồn tại trong 3 – 4 tuần. Các thuốc hay gây dị ứng dạng này là: allopurinol, thuốc chống sốt rét, giảm đau, hạ nhiệt, carbamazepine, penicillin, streptomycin, chloramphenicol, tetracyclin và sulfonamide.

3. Mày đay (Urticaria):Thường là biểu hiện lâm sàng nhẹ và ban đầu của phần lớn các trường hợp dị ứng thuốc. Các loại thuốc đều có thể gây mày đay, hay gặp hơn là kháng sinh, văcxin, huyết thanh, thuốc chống viêm giảm đau, hạ sốt… Sau khi dùng thuốc (nhanh từ 5-10 phút, chậm có thể vài ngày), người bệnh cảm thấy nóng bừng, ngứa, trên da nổi ban cùng sẩn phù, có thể kết hợp với phù mạch, phù nề mi mắt, môi. Trường hợp nặng có thể có khó thở, đau bụng, đau khớp, chóng mặt, buồn nôn, đau đầu, mệt mỏi, sốt cao…

Mày đay cấp thường biểu hiện tăng sẩn phù, mất đi nhanh và xuất hiện lại cũng nhanh, diễn biến trong thời gian dưới 3 tuần. Mày đay diễn biến hằng ngày, kéo dài hơn 3 tuần là đã chuyển thành mạn tính.

Những thuốc hay gây dị ứng dạng này là: kháng sinh, đặc biệt là penicillin, thuốc khác: captopril và các thuốc ức chế men chuyển khác, thuốc chống viêm giảm đau không – steroid (NSAIDs) bao gồm cả aspirin, và các thuốc quinine.

4. Phù Quincke (Quincke’s oedema): Là tình trạng phù cục bộ, có thể do kháng sinh, văcxin, huyết thanh, các thuốc chống viêm không steroid… Phù thường xuất hiện nhanh sau khi dùng thuốc ở những vùng da mỏng, môi, cổ, quanh mắt, bụng, các chi, bộ phận sinh dục… Kích thước phù Quincke thường to, có khi bằng bàn tay, nếu ở gần mắt làm cho mắt híp lại, ở môi làm môi sưng to, biến dạng. Màu da vùng phù bình thường hoặc hơi hồng nhạt, đôi khi phối hợp với mày đay. Trường hợp phù Quincke ở họng, thanh quản, người bệnh có thể bị nghẹt thở; ở ruột, dạ dày gây đau bụng; ở não gây đau đầu…

5. Da nhạy cảm ánh sáng (Photosensitivity): bình thường da không nhạy cảm với ánh sáng. Khi dùng một số loại thuốc thường là các loại như: ức chế men chuyển, NSAIDs, quinolone, nalidixic acid, phenothiazine, tetracycline, griseofulvin, amiodarone, sulfonamide và thiazide thì da trở nên tăng nhạy cảm với ánh sáng và bị tổn thương như: đỏ da giống bị phỏng, sạm da, đen da hoặc mất sắc tố da vv… Vị trí ở các vùng da hở như: mặt, cổ, mu bàn tay, mu bàn chân. Mức độ tổn thương phụ thuộc vào liều thuốc sử dụng và thời gian tiếp xúc với ánh nắng.

6. Hồng ban đa dạng (Erythema multiforme): Bệnh bắt đầu sau một vài ngày dùng thuốc với những biểu hiện: sốt nhẹ, mệt mỏi, đau khớp, sưng hạch, có cảm giác nóng bỏng toàn thân. Tổn thương là các hồng ban hình bia bắn điển hình có ba vòng tròn đồng tâm: ngoài cùng là vòng ban đỏ, tiếp trong là sẩn đỏ phù nề , ở giữa là mụn nước nhỏ hoặc vỡ, trợt, hoại tử. Bệnh có thể kèm theo tổn thương niêm mạc các hốc tự nhiên, tổn thương nội tạng (tim, gan, thận…), tái phát nhiều đợt; trường hợp nặng có thể gây tử vong.

Nguyên nhân do thuốc gây hồng ban đa dạng chỉ chiếm khoảng 10%, các thuốc thường gây hồng ban đa dạng là: ức chế men chuyển, allopurinol, carbamazepine, phenytoin, NSAIDs, penicillins, sulfonamide và tetracyclin

7. Viêm mao mạch (Cutaneous vasculitis necrolysis): là tình trạng viêm hoại tử các mao mạch ngoài da do các thuốc như: Ức chế men chuyển, NSAIDs, allopurinol, penicillins, sulfonamides và thiazides lợi tiểu. Biểu hiện ngoài da là các ban xuất huyết sờ thấy được trên mặt da. Ngoài ra thuốc còn có thể gây viêm mạch nội tạng và gây nguy hiểm hơn cho người bệnh.

8. Ban dạng lichen (Lichenoid eruptions): gọi tên này bởi vì tổn thương ngoài da giống lichen phẳng: là các sẩn màu hơi tím, phẳng, trên đó có các rãnh, khía…tổn thương có thể liên kết thành mảng lớn. Các thuốc hay gây dị ứng dạng này là: thuốc chẹn beta, thuốc ức chế men chuyển, thuốc chống sốt rét, furosemide, thiazides, chlorpropamide, methyldopa, phenothiazine và quinidine.

9. Hồng ban cố định nhiễm sắc (Fixed drug eruptions): là dạng dị ứng thuốc biểu hiện ở vị trí cố định trên da, thường là các vị trí liên kết da – niêm mạc. Tổn thương là các dát sẫm màu ranh giới rất rõ với da lành, số lượng thường chỉ 1 hoặc vài tổn thương. Xuất hiện lại tại đúng vị trí lần trước, sau khi uống thuốc khoảng 30 phút đến 8 giờ kèm theo cảm giác nóng rát hoặc châm chích tại vị trí tổn thương. Các thuốc thường gây dị ứng loại này là: tetracycline, sulfonamide, NSAIDs, paracetamol, phenolphthalein và barbiturat.

10. Chứng mất bạch cầu hạt (Agranulocytosis): Có thể xuất hiện sau khi người bệnh dùng các thuốc như: sulfamid, penicillin liều cao, streptomycin, pyramidon, chloramphenicol, analgin… Bệnh cảnh lâm sàng điển hình: sốt cao đột ngột, mệt mỏi, sức khỏe giảm sút nhanh, nổi ban dạng sởi, dạng xuất huyết, loét hoại tử niêm mạc miệng, mũi họng, cơ quan sinh dục, viêm phổi, viêm tắc tĩnh mạch, nhiễm xuất huyết, dễ dẫn tới tử vong.

11. Bệnh huyết thanh (Serum sickness): Là một tai biến dị ứng thuốc hay gặp, chủ yếu là do kháng sinh như penicillin, ampicillin, streptomycin… và một số thuốc khác. Bệnh thường xuất hiện vào ngày thứ hai đến ngày thứ 14 sau khi dùng thuốc với biểu hiện mệt mỏi, chán ăn, mất ngủ, buồn nôn, đau khớp, sưng nhiều hạch, sốt cao 38-39 độ C, gan to, nổi ban mày đay khắp người. Nếu phát hiện kịp thời và ngừng ngay việc dùng thuốc, các triệu chứng trên sẽ dần hết.

12. Sốc phản vệ (Anaphylactic shock): Là tai biến dị ứng nghiêm trọng, dễ gây tử vong. Khá nhiều loại thuốc có thể gây sốc phản vệ như kháng sinh (thường gặp khi tiêm chích Penicillin, Streptomycin), văcxin, huyết thanh, các thuốc chống viêm không steroid, tinh chất gan, một số loại viamin, thuốc gây tê, thuốc cản quang có iode…

– Bệnh cảnh lâm sàng sốc phản vệ khá đa dạng, thông thường có thể xảy ra ngay sau khi dùng thuốc vài giây cho đến 20-30 phút, khởi đầu bằng cảm giác lạ thường (tê môi, lưỡi, bồn chồn, sợ hãi…). Tiếp đó là sự xuất hiện nhanh các triệu chứng như khó thở, mạch nhanh nhỏ, huyết áp tụt (có khi không đo được), ngứa ran khắp người, đau quặn bụng, tiểu tiện, đại tiện không tự chủ. Trong thể cấp tính người bệnh có thể hôn mê, nghẹt thở, rối loạn nhịp tim, ngừng tim và tử vong sau ít phút.

13. Hội chứng Stevens-Johnson (Stevens-Johnson syndrome): Thường do các thuốc kháng sinh penicillin, ampicillin, streptomycin, tetracylin, allopurinol, zyloric, các sulfamid chậm, an thần, chống viêm không steroid. Sau khi dùng thuốc từ vài giờ đến 10-15 ngày, người bệnh mệt mỏi, ngứa khắp người, có cảm giác nóng ran, sốt cao, nổi ban đỏ, nổi bọng nước trên da, viêm loét hoại tử niêm mạc các hốc tự nhiên (miệng, mắt, mũi, tai, hậu môn, sinh dục, tiết niệu) và có thể kèm theo tổn thương gan thận, nếu nặng có thể gây tử vong.

BS. LÊ ĐỨC THỌ Trưởng khoa Da Liễu – BV Hoàn Mỹ Sài Gòn

14. Hội chứng Lyell (Toxic epidermal necrolysis): Là tình trạng nhiễm độc hoại tử thượng bì nghiêm trọng nhất do dị ứng các thuốc như sulfamid chậm, allopurinol, zyloric, carbamazepin, phenytoin, nevirapine, barbiturate, penicillin, ampicillin, streptomycin, tetracylin, cephalosporin, analgin, phenacetin… Bệnh diễn biến từ vài giờ đến vài tuần sau khi dùng thuốc. Người bệnh mệt mỏi, choáng váng, mất ngủ, sốt cao, ngứa khắp người, trên da xuất hiện các mảng đỏ, đôi khi có những chấm xuất huyết; vài ngày sau, có khi sớm hơn, lớp thượng bì tách khỏi tổ chức da, khẽ động đến là tuột từng mảng, tương tự hội chứng bỏng toàn thân. Bệnh nhân có thể bị viêm loét các hốc tự nhiên, viêm phổi, màng phổi, viêm gan, thận, rối loạn nước điện giải, rối loạn chuyển hóa, nhiễm độc, nhiễm trùng. Tình trạng người bệnh thường rất nặng, nhanh dẫn đến tử vong.

Bạn đang xem bài viết Dị Ứng Bia Rượu: Cách Nhận Biết, Xử Lý Và Cảnh Báo Nguy Hiểm / 2023 trên website Maiphuongus.net. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!