Xem Nhiều 6/2023 #️ Câu Chuyện Thật Sự Về Vụ Đắm Tàu Titanic Năm Đó Còn Bi Thương Hơn Nhiều So Với Trên Màn Ảnh Nhỏ # Top 12 Trend | Maiphuongus.net

Xem Nhiều 6/2023 # Câu Chuyện Thật Sự Về Vụ Đắm Tàu Titanic Năm Đó Còn Bi Thương Hơn Nhiều So Với Trên Màn Ảnh Nhỏ # Top 12 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Câu Chuyện Thật Sự Về Vụ Đắm Tàu Titanic Năm Đó Còn Bi Thương Hơn Nhiều So Với Trên Màn Ảnh Nhỏ mới nhất trên website Maiphuongus.net. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Giai thoại về con tàu Titanic đã khiến cả thế giới chấn động năm đó với 1.514 người thiệt mạng. Trong bao năm qua, không ít các tác phẩm văn học và điện ảnh đã tái hiện lại khung cảnh khủng khiếp năm đó, nhưng chắc chắn ít ai biết rằng, câu chuyện thực sự phía sau con tàu còn bi thương và cảm động hơn nhiều so với các thước phim trên màn ảnh nhỏ.

1.514 người đã thiệt mạng trong vụ đắm tàu kinh hoàng năm ấy. Nỗi đau đã khép lại hơn 100 năm, ngày nay, những gì người ta lưu lại về từ khóa “Titanic” có thể là: Vụ đắm tàu, thảm họa hàng hải nghiêm trọng nhất mọi thời đại hay mối tình lãng mạn của Jack và Rose, cũng có thể là tình ca bất hủ My heart will go on qua chất giọng cao vút của Celine Dion…

Những vị khách xấu số trên đó đã trở thành cảm hứng của không ít tác phẩm văn học và điện ảnh thời bấy giờ. Vậy nhưng, những tác phẩm nghệ thuật ấy mới chỉ được xây dựng thông qua cảm quan cá nhân của tác giả.

Ít ai biết rằng, những câu chuyện thực sự phía sau con tàu mang tên Titanic còn bi thương và cảm động hơn nhiều so với các thước phim trên màn ảnh nhỏ, hầu như tất cả đều không nhận ra, đằng sau bức màn đen tối của những nỗi đau và mất mát ấy là một kiệt tác vĩ đại của Lòng vị tha .

Charles Lightoller, khi ấy 38 tuổi, Thuyền phó thứ 2 trên con tàu Titanic, ông là người cuối cùng được kéo lên trên thuyền cứu hộ, cũng là người còn sống sót có chức vị cao nhất trên thuyền lúc đó.

Trở về từ cõi chết, sau rất nhiều năm giấu kín và im lặng, cuối cùng Charles quyết định viết 17 trang hồi ức, kể lại chi tiết vụ tai nạn kinh hoàng mà ông chứng kiến. Từng câu từng chữ của ông chưa bao giờ sống động và dồn dập đến vậy. “Chỉ cần tôi còn sống, tôi sẽ không bao giờ quên được cảnh tượng đêm đó!”

“Phụ nữ và trẻ em lên trước!”

Khi mệnh lệnh vừa vang lên, nhiều người rời thuyền cứu hộ, họ lặng lẽ bước ra phía sau châm điếu thuốc và hút. Charles không thấy bất kỳ một phụ nữ hay trẻ em có ý định bỏ lại những người đàn ông thân yêu của họ. Tất cả mọi người dường như rất bình tĩnh… trước cái chết… dù đó là một thương nhân nổi tiếng hay người hầu vô danh.

Khi chiếc thuyền cứu hộ đầu tiên được đưa xuống mặt nước, Charles đã hỏi một người phụ nữ họ Straw khi ấy đang ở trên boong tàu rằng: “Bà có muốn tôi đưa bà lên thuyền cứu hộ không?”

Người phụ nữ lắc đầu: “Không, tôi nghĩ vẫn là ở lại trên tàu thì tốt hơn”. Người chồng của bà hỏi: “Tại sao em lại không muốn đi lên thuyền cứu hộ?” Người phụ nữ mỉm cười trả lời: “Không, em vẫn muốn ở bên cạnh anh”. Cũng kể từ đây, Charles không bao giờ còn gặp lại đôi vợ chồng này lần nữa…

Astor đệ tứ (John Jacob Astor IV), một nhà kinh doanh, nhà phát minh, nhà văn nổi tiếng và là một trong những người giàu nhất thế giới lúc bấy giờ. Sau khi đưa người vợ mang thai 5 tháng tuổi lên thuyền cứu hộ, một tay dắt chó, tay còn lại châm điếu xì gà rồi hét to về phía chiếc thuyền cứu hộ đang trôi dần về nơi xa: “Anh yêu hai mẹ con”.

Thuyền phó I đã ra mệnh lệnh cho Astor đệ tứ lên thuyền, nhưng ông kiên quyết trả lời rằng: “Tôi thích cách nói cơ bản nhất (bảo vệ phái yếu)!”, Sau đó, ông nhường chỗ của mình cho một người phụ nữ ở khoang hạng 3.

Vài ngày sau, khi bình minh vươn lên trên mặt biển Đại Tây Dương, đội cứu hộ tìm thấy thi thể ông trong tình trạng đầu bị chấn thương nghiêm trọng do đập vào ống khói. Khối tài sản của ông đủ để chế tạo 10 con tàu Titanic, nhưng Astor đệ tứ đã từ chối tất cả. Ông chọn cái chết để bảo vệ người thân yêu của mình, bảo vệ “phụ nữ và trẻ em” và bảo vệ nhân cách của mình.

Ben Guggenheim, một nhà tỷ phú, một nhân vật nổi tiếng trong ngành ngân hàng. Trong giờ phút nguy nan nhất, khi tất cả mọi người đang hối hả và vội vã, ông thản nhiên thay một bộ vest dạ hội sang trọng và tuyên bố: “Tôi phải chết thật trịnh trọng, như một quý ông”.

Trong lời nhắn ông gửi cho vợ viết: “Trên con tàu này, không có bất kỳ một phụ nữ nào vì anh cướp chỗ trên thuyền cứu hộ mà bị bỏ lại trên boong tàu. Anh sẽ không chết giống như một tên khốn, anh sẽ giống như một người đàn ông chân chính”.

Một thủy thủ đề nghị với Strauss, nhà sáng lập công ty bách hóa Macy của Mỹ, cũng là người giàu thứ hai thế giới rằng: “Tôi bảo đảm sẽ không ai phản đối một người già như ngài bước lên thuyền cứu hộ đâu”. Strauss nói: “Tôi sẽ không đi khi những người đàn ông khác còn đang ở lại”. Khi ông cố gắng khuyên giải bà Rosalie vợ của mình lên thuyền cứu hộ thì bà vẫn một mực từ chối. Bà nói: “Bao nhiêu năm qua, anh đi đâu là em theo đến đó, em sẽ cùng anh đi đến bất cứ nơi nào mà anh muốn đi”.

Sau đó, ông choàng lấy cánh tay của bà Rosalie, thong thả bước đến chiếc ghế trên boong tàu, ngồi xuống và chờ đợi giây phút cuối cùng của cuộc đời. Ngày nay, tại Bronx thành phố New York, người ta xây một tượng đài để tưởng niệm vợ chồng ông Strauss, trên đó khắc hàng chữ: “Tình yêu không thể nào nhấn chìm dù có nhiều nước biển hơn nữa”.

Một doanh nhân người Pháp tên Nahuatl đưa hai cậu con trai của mình lên thuyền cứu hộ, nhờ một vài người phụ nữ chăm sóc cho chúng, và mình thì từ chối lên thuyền. Sau khi hai đứa con trai được cứu sống, báo chí khắp nơi trên thế giới đều rầm rộ đăng hình ảnh của hai đứa trẻ này, cho đến khi mẹ của chúng từ hình ảnh nhận ra được chúng.

Trong giờ phút nguy kịch, Lydepas ôm chặt lấy người chồng mới cưới, không muốn thoát chết một mình. Vì bất đắc dĩ, chồng Lydepas phải đấm cô ngất xỉu, khi cô tỉnh lại thì đã thấy mình trên một chiếc thuyền cứu hộ đang trôi lênh đênh ngoài biển. Về sau, Lydepas cả đời không tái giá, sống độc thân để hoài niệm người chồng đã mất của mình.

Trong buổi họp mặt những người may mắn sống sót tại Lausanne nước Thụy Sĩ, bà Smith kể lại: “Lúc đó hai đứa con của tôi được bế lên thuyền cứu hộ. Vì quá tải nên tôi không thể lên thuyền nữa, một người phụ nữ ngồi trên thuyền cứu hộ khi ấy đã đứng dậy rời khỏi chỗ ngồi, rồi đẩy tôi lên và hét lớn với tôi một câu: ‘Ngồi đi, những đứa trẻ không thể thiếu mẹ!’.” Bà hối tiếc vì lúc đó đã không hỏi tên người phụ nữ đó.

Những người thiệt mạng trong vụ tai nạn này còn có tỷ phú Acid, nhà báo nổi tiếng Stead, Thiếu tá pháo binh Bart, kỹ sư Robble nổi tiếng v.v.. Họ nhường chỗ của mình trên thuyền cứu hộ, cho những phụ nữ nông dân không một đồng trên người.

Hơn 50 nhân viên cấp cao trên tàu Titanic, ngoài thuyền phó thứ hai Charles Lightollerchỉ huy cứu hộ may mắn sống sót, toàn bộ đều hết mình cứu người đến chết trong cương vị của mình.

Khoảng 2h sáng nhân viên điện báo số 1 John Philip nhận được mệnh lệnh bỏ tàu của thuyền trưởng, mọi người tự mình cứu mình, nhưng ông vẫn ngồi trong phòng thông báo, vẫn giữ tư thế phát tín hiệu SOS liên tục cho đến phút cuối cùng.

Khi đuôi tàu bắt đầu chìm xuống nước, Charles nghe thấy vào khoảnh khắc cuối cùng, khoảnh khắc của sinh ly tử biệt, những lời yêu thương vang lên: ” I love you! I love you!”

Trong bức màn đêm đen tối nhuốm đẫm đau khổ và chia ly, tinh thần quý tộc nổi lên như ngọn đuốc rực sáng, khắc họa nên một tuyệt tác vĩ đại về nhân cách và đạo đức con người. Giáo dục lối sống không chỉ là lý thuyết; mà trong những hoàn cảnh thực tế, những bài học đạo đức ăn sâu vào tâm thức trở thành kim chỉ nam cho hành động của mỗi người.

Phụ nữ và trẻ em, những con người yếu đuối cần được tôn trọng và ưu tiên. Những người đàn ông lịch lãm không chỉ là kẻ nói lời hoa mỹ và tử tế trên bàn tiệc; mà ngay cả khi đối diện với thực tế rằng dù ngày mai tất cả đều trở thành vô nghĩa thì bài học về đạo đức và nhân cách hôm nay vẫn cần được thực hành một cách tuyệt đối.

Nhân sinh như cõi mộng, dù cho người đó giàu có bao nhiêu hay nghèo kém cỡ nào, đứng trước sinh tử cũng đều chỉ là một sinh mệnh bé nhỏ. Quan trọng hơn, khi ấy người ta mới thật sự nhận ra điều quan trọng nhất của cuộc đời: Không phải vật chất, không phải quyền danh càng không phải nhận lại điều gì cho mình mà là cho người khác, là vị tha.

Vị tha hàm chứa một sức mạnh vô tỉ, đã biến những con người xấu số trong cơn “bão biển” kinh hoàng năm ấy trở thành biểu tượng vĩ đại của tấm lòng thiện lương cao cả.

Sự Thật Về Việc Hai Nạn Nhân Vụ Chìm Tàu Titanic Vẫn Còn Sống Nhờ Lỗ Hổng Thời Gian

Hai nạn nhân của thảm họa Titanic năm 1912 đột nhiên xuất hiện trong tình trạng còn sống. Về thể chất, họ không hề thay đổi so với trước đây. Bí ẩn về những sự kiện xảy ra cách đây vài năm và đã gây nên một sự khuấy động là sự tái xuất hiện của các nạn nhân may mắn trong thảm họa tàu Titanic. Trong số hai nạn nhân may mắn này, một người là một hành khách nữ được phát hiện vào năm 1990 và người kia là thuyền trưởng của tàu Titanic được tìm thấy năm 1991.

Thuyền của thuyền trưởng Smith được phát hiện vào ngày 09/08/1991, một năm sau khi phát hiện nạn nhân mang tên Wenny Kathe. Kathe được cứu sống từ trên đỉnh một núi băng. Sau nhiều thập kỷ trôi dạt trên biển nhưng thuyền trưởng Smith không hề già đi hay ốm yếu. Ông lúc này đã 139 tuổi nhưng trông vẫn như một người đàn ông 60 tuổi và thậm chí ông vẫn cho rằng đó là thời điểm xảy ra vụ đắm tàu Titanic vào ngày 15/04/1912. Thông qua các hồ sơ nhận dạng dấu vân tay vẫn còn được lưu giữ, danh tính của thuyền trưởng Smith đã có thể được xác nhận.

Một nạn nhân khác của vụ đắm tàu này, Wenny Kathe, 29 tuổi, được cứu từ một núi băng ở Bắc Đại Tây Dương vào ngày 24/09/1990. Nhưng điều khiến mọi người ngạc nhiên là từ khi biến mất vào năm 1912 đến nay, bà không hề có dấu hiệu già đi. Bà được tìm thấy và giải cứu trên một tảng băng cách Iceland 363 dặm về phía tây nam. Văn phòng hàng hải đã tìm thấy một danh sách các hành khách trên chuyến tàu Titanic và xác nhận tính đúng là có hành khách tên Wenny Kathe trên tàu. Thuyền trưởng Smith và Kathe chính là những bằng chứng sống chứng minh sự tồn tại của lỗ hổng thời gian.

Sau khi tôi kiểm tra hai trang blog tiếng Anh, tôi nhận thấy có vẻ một trong hai trang này được tạo nên bởi người Indonesia. Trang blog có tên chúng tôi đăng câu chuyện này vào tháng 02/2007. Và tôi tin rằng đây là lần đầu tiên câu chuyện này được đăng tải. Trang blog tiếng Malay đăng câu chuyện này mang tên chúng tôi Không có mô tả ngày tháng tác giả đăng câu chuyện này.

Như tôi đã nói, tôi nhận thấy câu chuyện này bằng tiếng Indonesia giống hệt như trên các trang blog và trang mạng tôi có thể tìm thấy trên Google và hầu hết tất cả các trang blog đều sao chép câu chuyện này mà không đề cập đến nguồn gốc. Do đó, ban đầu tôi gặp khó khăn trong việc tìm ra nguồn đầu tiên của câu chuyện này (trong các trang tiếng Indonesia). Nhưng cuối cùng tôi đã tìm thấy và tôi tin rằng (mặc dù tôi không có bằng chứng chắc chắn) trang web đầu tiên phổ biến câu chuyện này bằng tiếng Indonesia là chúng tôi đăng vào ngày 07/06/2008. Có lẽ chúng tôi đã dịch câu chuyện này từ trang chúng tôi hoặc kebenarannya.tripod.com.

Sau đó tôi đã tiến hành điều tra sâu thêm. Đầu tiên, tôi đọc câu chuyện này và cố gắng thấu hiểu nó. Sau đó, tôi đã phát hiện một số điểm khác biệt và không chính xác mà tôi cảm thấy khá lộn xộn. Cụ thể, thuyền trưởng Smith đáng ra phải là 141 tuổi vào năm 1991 chứ không phải 139. Và thuyền trưởng Smith cho biết danh tính của ông đã được xác nhận bằng hồ sơ dấu vân tay được lưu trong hồ sơ hàng hải. Tôi nghi ngờ liệu vào năm 1912 hồ sơ hàng hải đã sử dụng dấu vân tay để ghi chép thông tin về các thủy thủ hay chưa.

Sau đó, trong đoạn thứ hai, Wenny Kathe được cho là đã được cứu từ một núi băng nhưng đoạn thứ tư trong câu chuyện lại nói rằng Wenny được cứu từ một tảng băng. Núi băng và tảng băng tất nhiên khác nhau. Và, có lẽ phần lộn xộn nhất là các câu mâu thuẫn nhau trong câu chuyện này. Câu chuyện trên được liên kết với hiện tượng “lỗ hổng thời gian”: Thuyền trưởng Smith, mặc dù đã 139 tuổi, nhưng trông vẫn như một người đàn ông 60 tuổi và thậm chí ông vẫn cho rằng đó là thời điểm xảy ra vụ đắm tàu Titanic vào ngày 15/04/1912″.

Và như vậy, tôi ngày càng tin rằng câu chuyện này chỉ là một trò lừa bịp. Nhưng một câu chuyện không thể bị coi là một trò lừa bịp nếu không có bằng chứng chắc chắn. Một số người nói rằng, để biết được sự thật, chúng ta phải có mặt ngay tại địa điểm xảy ra sự việc. Nhưng tôi không nghĩ như vậy. Tôi cho rằng, để tìm ra sự thật về một sự kiện, chúng ta chỉ cần tìm chứng cứ dựa trên những “điều thông thường” được gọi là bằng chứng. Và tôi nghĩ rằng, Internet sẽ có thể giúp tôi làm điều này.

Và tôi đã tiếp tục cuộc điều tra của mình. Như tôi đã nói, có điều gì đó không đúng. Cái tên Wenny Kathe không thể được tìm thấy trên bất kỳ trang web tiếng Anh nào ngoại trừ hai trang blog tôi đề cập trước đó. Vì vậy, tôi quyết định tập trung vào cái tên này. Bên cạnh đó, anh ta là nhân vật chính của chúng ta đúng không? Nhưng sao? Không phải là cái tên này không thể tìm được trong bất cứ phương tiện truyền thông nước ngoài nào sao? Do đó, tôi quyết định đi tìm cái tên này ở một nơi thích hợp – danh sách hành khách trên tàu Titanic bị đắm. Trên mạng Internet, một danh sách tên như vậy rất khó tìm. Vì vậy tôi đã vào trang chúng tôi và… tôi đã tìm ra.

Tôi đã phát hiện cái tên Wenny Kathe không tồn tại trong danh sách hành khách của tàu Titanic. Wenny Kathe chỉ là một nhân vật hư cấu. Nhưng còn về thuyền trưởng Smith, chúng ta đều biết ông ấy không phải là một nhân vật hư cấu. Thuyền trưởng Edward John Smith là thuyền trưởng của con tàu Titanic.

Vì cái tên Wenny Kathe là một nhân vật hư cấu, tôi không thể tiếp tục sử dụng từ khóa này trên Google. Sau đó, tôi đã thử một vài từ khóa và cuối cùng tôi đã tìm ra bằng chứng và lập luận để có thể thuyết phục mọi người rằng câu chuyện này chỉ là trò lừa bịp. Tôi muốn nói đến trang blog mà tôi đã cho rằng đó là nguồn của câu chuyện này trong tiếng Anh. Nhưng tôi đã sai. Trang chúng tôi không phải là nơi đầu tiên đăng tải câu chuyện này. Nguồn đầu tiên của câu chuyện này là tạp chí Weekly World News số phát hành tháng 06/1992. Tôi đã tìm thấy tạp chí này trong kho lưu trữ của Google. Đây là bìa cuốn tạp chí số ra tháng 06/1992 này.

Tạp chí này là một tạp chí chuyên đăng các tin tức bán hư cấu. Ví dụ, trong một ấn phẩm, tạp chí này đã đăng một bức ảnh một con quái vật tấn công một con thuyền. Trong bài viết này, sự việc và bức ảnh được gọi là một câu chuyện có thật.

Ví dụ về một bài viết trong số ra tháng 06/1992

Ngạc nhiên đúng không? Và đây là trang mô tả câu chuyện về tàu Titanic.

Người phụ nữ còn sống sót sau vụ đắm tàu Titanic được tạp chí này gọi tên là Winnie Coutts chứ không phải Wenny Kathe. Vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi tôi không thể tìm thấy cái tên Wenny Kathe trong bất kỳ phương tiện truyền thông tiếng Anh nào. Và sự thật tiếp theo chúng ta biết được là trang chúng tôi đã mắc lỗi. Và tôi bắt đầu tập trung vào cái tên Winnie Coutts. Tôi mở Goole, gõ tên Winnie Coutts và tôi đã tìm ra. Tôi đã quay trở lại trang chúng tôi để xem danh sách hành khách trên tàu Tintanic và đã tìm thấy tên của Winnie Coutts trong danh sách hàng khách hạng 3. Các bạn thậm chí còn có thể giá vé cô ấy đã phải trả trong bức ảnh này.

Nêu việc Winnie Coutts là hành khách của tàu Titanic là thật, có thể Weekly World News không nói dối? Điều này thỏa mãn tâm trí tôi trong chốc lát. Nhưng đột nhiên, tôi có một linh cảm. Nếu suy đoán của tôi là đúng, đây có thể là bằng chứng mà tôi đang tìm kiếm. Tôi ngay lập tức quay trở lại trang chúng tôi Suy đoán của tôi đã đúng. Tôi đã tìm thấy lời chúc mừng Winnie Coutts thoát khỏi thảm họa Titanic. Sau thảm họa này, bà và gia đình đã chuyển đến New Jersey cho đến khi bà qua đời ở tuổi 84 vào ngày 29/02/1996. Trong khi đó, thuyền trưởng Smith, như chúng ta đều biết, đã thiệt mạng trong vị tai nạn này.

Weekly World News hóa ra đã lợi dụng cái trên Winnie Coutts để tạo ra một câu chuyện giả tưởng. Không hề có chuyện phát hiện thuyền trưởng Smith hay Winnie Coutts (hay Wenny Kathe) vào năm 1990 và 1991. Nếu Weekly World News sử dụng tên của những hành khách đã bị mất tích, có thể sẽ có những yếu tố cần được tranh luận. Tuy nhiên, bằng cách sử dụng tên của người còn sống sót, tạp chí này như muốn cho chúng ta biết câu chuyện này chỉ là một trò lừa bịp.

Tôi nghĩ rằng tôi đã có bằng chứng đủ thuyết phục để chứng minh câu chuyện về hành khách trên chuyến tàu Titanic và “lỗ hổng thời gian” chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng.

Hải Triều (Rumorfriends)

106 Năm Trôi Qua Từ Ngày Tàu Titanic Chìm Xuống, Những Câu Chuyện Về Tình Yêu Và Tình Người Vẫn Khiến Người Người Thổn Thức

Ngày 10/04/1912, con tàu hơi nước lớn thứ hai trong lịch sử với tên gọi Titanic nhổ neo cho chuyến hải trình đầu tiên. Nó được dự định sẽ rẽ sóng từ cảng Southampton của Anh, vượt qua biển Đại Tây Dương để đến với thành phố phồn hoa New York, Mỹ. Nhưng Titanic đã không thể hoàn thành sứ mệnh của mình khi va phải một tảng băng khổng lồ. Mang theo hàng ngàn hành khách, con tàu mãi mãi nằm lại dưới lòng đại dương lạnh lẽo.

85 năm sau vụ tai nạn thương tâm, vào năm 1997, đạo diễn người Mỹ James Cameron quyết định tái hiện lại câu chuyện về Titanic trên màn ảnh nhỏ, và đây là lúc cả thế giới vỡ òa với câu chuyện tình buồn của Jack và Rose – cặp đôi được mệnh danh là “Romeo và Juliet” của thời hiện đại.

Đã hơn 20 năm kể từ khi chính thức ra đời, Titanic đến nay vẫn mãi là bộ phim “ai xem cũng khóc”.

Người ta khóc thương cho số mệnh trớ trêu ngăn cách cô tiểu thư Rose không đến được với chàng họa sĩ nghèo vật chất nhưng giàu tình cảm Jack. Thế nhưng, nhiều người không biết rằng con tàu Titanic ngoài đời thật không chỉ là câu chuyện về tình yêu, mà nó còn chứa đựng nhiều sắc thái tình cảm hơn thế: là tình cha con, tình đồng đội, là người thuyền trưởng quyết không rời vị trí, là những người đàn ông hi sinh tính mạng để con thuyền cứu hộ có thêm chỗ cho phụ nữ và trẻ em… Tựu trung lại, nó được gọi tên là tình người. Để rồi khi nhìn lại, người ta nhận ra một lý lẽ bất diệt: Trong thảm họa, tình người còn quý hơn sự sống!

Ban nhạc 8 người và bản nhạc tiễn đưa đến cổng thiên đường

Không biết có mấy người còn nhớ đến chi tiết này trong phim, khi con tàu đang trên đà chìm xuống, giữa những tiếng thét thất thanh hoảng loạn, người ta vẫn nghe văng vẳng tiếng đàn du dương. Sở dĩ có tiếng nhạc ấy là do giữa dòng người chen chúc nhau, ban nhạc gồm 8 nhạc công vẫn quyết ở lại boong tàu để kéo khúc nhạc cuối cuộc đời mình. 8 con người ấy là 8 vị nhạc công có thật đã mãi nằm lại trên con tàu Titanic năm xưa.

Wallace Hartley được biết đến là vị nhạc trưởng đã chỉ huy ban nhạc này vào những phút cuối cùng, thế nhưng sự thật họ không phải một nhóm ngay từ đầu. Đây vốn là 2 đội hoạt động riêng biệt và biểu diễn âm nhạc ở từng thời điểm, địa điểm khác nhau. Đội 5 người của Wallace Hartley trình diễn vào các buổi uống trà và tiệc tối, lễ Chủ Nhật. Ngoài ra có 3 nghệ sĩ chuyên chơi violin, cello và piano sẽ chơi nhạc tại phòng tiếp đón bên ngoài nhà hàng A la Carte và quán cà phê Parisien.

Phải mãi tới phút giây khi thảm họa kinh hoàng xảy ra mới là khoảnh khắc đầu tiên 8 người họ biểu diễn chung với nhau. Những cái tên Wallace Hartley, Roger Marie Bricoux, John Wesley Woodward, John Frederick Preston Clarke, Georges Alexandre Krins, Theodore Ronald Brailey, John Law Hume và Percy Cornelius Taylor đã vĩnh viễn đi vào lịch sử trong đêm 14/4 khi họ chơi nhạc cho tới phút chót cùng con tàu xấu số.

Lý do ban nhạc biểu diễn đến phút cuối cùng vẫn còn là bí ẩn, toàn bộ 8 người trong ban nhạc đã chìm xuống cùng tàu Titanic, chúng ta không thể hỏi bất cứ ai trong số họ về lý do họ chơi nhạc vào cái đêm định mệnh ấy. Có giả thuyết cho rằng họ làm vậy vì phục tùng theo mệnh lệnh của thuyền trưởng. Tuy nhiên, theo những nghiên cứu, ban nhạc vốn không được thuê bởi hãng đường biển White Star Line’s mà được thuê bởi Black of Liverpool, một trong những hãng phân phối lao động thời bấy giờ. Do đó, thuyền trưởng chỉ có khả năng yêu cầu chứ không có khả năng ra lệnh cho ban nhạc vào thời khắc nguy kịch ấy. Dù cho lý do là gì, cũng không thể quan trọng bằng việc họ đã hy sinh tính mạng của mình để nhường chỗ cho người khác.

Người ta cho rằng, bản nhạc cuối cùng mà ban nhạc đánh, “Nearer, My God, to Thee” (tạm dịch “Càng gần Chúa hơn”), chính là khúc nhạc tiễn đưa những hành khách xấu số và cả chính bản thân họ về với thiên đường.

Có một điều đáng buồn mà mãi sau này người ta mới phát hiện ra, đó là trên thuyền cứu hộ có chỗ cho 3 chú chó của những hành khách thuộc khoang hạng nhất, thế nhưng ban nhạc của Hartley cùng rất nhiều số phận khác lại chẳng có cơ hội đặt chân lên đó.

Cô nhi Titanic – sự bất diệt của tình phụ tử

Trên con tàu mang tên Titanic năm ấy, có một doanh nhân người Pháp tên là Navratil đã dùng những nỗ lực cuối cùng để đưa 2 con của mình lên thuyền cứu sinh và nhờ người trên đó chăm sóc chúng, còn bản thân thì ngồi lại nơi boong tàu.

Michel, Edmond và cha mình là ông Navratil là những hành khách trên khoang hạng nhì đã lên tàu Titanic tại Southampton, Anh vào ngày 10/4/1912. Trong chuyến đi, ông Navratil lấy tên là Louis M.Hoffman, còn các con ông được đặt vé dưới tên là Lolo và Momon.

Sau khi Titanic va chạm với tảng băng trôi lúc 11h40 tối ngày 14/4/1912, dưới sự hỗn loạn khủng khiếp đang diễn ra, ông Navratil đã dùng tất cả sức lực của mình để đưa được hai đứa con bé bỏng xuống chiếc xuồng cứu sinh cuối cùng rời khỏi con tàu.

Michel, dù lúc đó chưa quá 4 tuổi, nhưng vẫn còn nhớ loáng thoáng được lời cha nói trước lúc sinh ly tử biệt: “Con yêu, khi mẹ đến đón các con, hãy chuyển lời này đến mẹ, rằng cha yêu mẹ rất nhiều và sẽ luôn như thế. Và chúng ta sẽ đoàn tụ cùng nhau tại một thế giới mới, một thế giới chỉ có sự yên bình và tự tại”. Đó là lời cuối cùng Navratil nói với các con mình, thân thể ông chìm dần xuống biển và sau đó được tàu cứu hộ Mackay Bennett tìm thấy.

Vì Michel và Edmond chỉ mới biết đi và không nói được tiếng Anh nên các nhân viên cứu hộ gọi họ là “trẻ mồ côi Titanic”. Một hành khách khoang hạng nhất tên là Margeret Hays đã chăm sóc Michel và Edmond tại nhà cho đến khi mẹ các em biết được tin nhờ bức ảnh “Cô nhi Titanic” được đăng trên báo. Bà đã đi thuyền đến New York và đoàn tụ với 2 con vào ngày 16/5/1912. Sau đó, cả ba quay về Pháp trên tàu Oceanic.

Đến mãi sau này, khi người ta phỏng vấn Michel, ông đã nói như sau:

“Hai anh em tôi là những người sau cùng xuống xuồng cứu hộ và được đặt ngồi cạnh con gái của một vị chủ ngân hàng Mỹ, người cố gắng xoay xở để cứu con chó của mình và không ai phản đối. Tôi nhận ra rằng, khoảng cách giữa người giàu và người nghèo là quá lớn. Và nếu như không thuộc khoang hạng nhì, có lẽ chúng tôi cũng đã chết. Nhưng dù gì đi nữa, tôi không hề nhớ về sự hoang mang cũng như nỗi sợ hãi trong lúc con tàu bị chìm, mà chỉ nhớ về những kỷ niệm khi anh em chúng tôi được vui đùa bên cạnh cha”.

Thuyền trưởng Edward John Smith: có chết cũng không từ bỏ nhiệm vụ lèo lái

Edward John Smith (27/1/1850-15/4/1912) là vị thuyền trưởng đã điều hành con tàu xấu số RMS Titanic.

Vào sáng ngày xảy ra thảm họa, tàu Titanic liên tục nhận được những cảnh báo về việc có băng trôi từ những chuyến tàu khác trong khu vực. Và cũng chính đêm hôm đó, chiếc Titanic đã đâm vào một tảng băng trôi và chìm xuống đáy Đại Tây Dương, khiến hơn 1500 hành khách thiệt mạng trong làn nước lạnh buốt.

Trong hồi ức của Charles Lightoller, thuyền phó và cũng là người có chức vụ cao nhất trong đội ngũ thuyền viên may mắn còn sống sót, vào 2h sáng ngày xảy ra tai nạn, thuyền trưởng Edward liên tục nhận được điện báo thúc giục ông rời tàu và chạy trốn. Nhưng thay vì làm như vậy, vị thuyền trưởng ấy vẫn bình tĩnh ngồi trong khoang điều khiển, không ngừng nhấn nút điện báo phát đi thông điệp “SOS” và giữ nguyên tư thế ấy cho đến phút cuối cùng.

Có nhiều thông tin cho rằng, số người thiệt mạng của vụ đắm tàu Titanic cao đến vậy là do thuyền trưởng Edward đã không thể điều phối được các nỗ lực sơ tán trong quá trình di tản xuống xuồng cứu hộ. Thêm vào đó, ông bị đánh giá là không biết cách ra lệnh rõ ràng khi một giờ sau vụ va chạm, thuyền phó thứ tư Joseph Boxhall vẫn không biết rằng con tàu sẽ chìm.

Bất chấp những nhận định này, không thể nào phủ nhận sự thật rằng thuyền trưởng Edward đã làm tròn nhiệm vụ của người thuyền trưởng khi quyết cố thủ tại con tàu đến tận phút cuối cùng. Ông không từ bỏ nhiệm vụ lèo lái của mình và chấp nhận hy sinh dù nếu muốn, ông có thể là người đầu tiên có suất trên thuyền cứu hộ.

Vị tỷ phú giàu nhất thế giới: giàu có cả về vật chất lẫn tình người!

Trong những thập kỷ đầu năm 1900, Astor đệ tứ (John Jacob Astor IV) đã liên tục giữ danh hiệu người giàu nhất thế giới. Người ta ước tính rằng, tài sản của Astor thậm chí còn đủ mua được tới 10 chiếc tàu Titanic.

Khi nghe thông tin về chuyến hành trình của Titanic, ông đã không ngần ngại chi một khoản tiền khổng lồ để đưa vợ mình đi nghỉ trên con tàu sang trọng ấy mà không biết rằng bi kịch đang chờ họ ngay trước mắt…

Trong đêm Titanic gặp nạn, ở vào khoảnh khắc những chiếc thuyền cứu sinh được thả xuống, Astor đã đưa người vợ mang thai 5 tháng của mình lên thuyền. Thế nhưng ngỡ ngàng thay, ông chẳng hề bước xuống cùng vợ mà chỉ đứng lại trên boong tàu cùng chú chó trung thành bên cạnh. Khi con tàu dần chìm xuống cũng là lúc Astor châm một điếu xì gà, nhìn chiếc thuyền cứu hộ cuối cùng đang dần khuất xa và nói lớn: “Anh yêu em!”

Với quyền lực và số tài sản của mình, Astor từng được Phó thuyền trưởng Charles đặc biệt dành một vị trí trên chiếc thuyền cứu sinh đầu tiên. Nhưng ông đã cự tuyết một cách cương quyết và nói: “Đây chính là giải pháp mà tôi thấy hợp lý nhất”. Sau đó, người đàn ông giàu nhất thế giới ấy đã đem tặng vị trí của mình cho một bé gái người Ireland.

Vài ngày sau tai nạn, vào một buổi sáng sớm ở Bắc Đại Tây Dương, đội cứu hộ đã phát hiện ra thi thể của Astor đệ tứ. Khi đó, một phần đầu của ông thậm chí đã biến dạng vì bị ống khói của con thuyền đè vào…

Astor đệ tứ là tấm gương vĩ đại cho việc: Người ta hoàn toàn có thể giàu có cả về vật chất lẫn tình người!

Tàu Titanic thật sự đã nằm sâu dưới đáy biển nhưng với những câu chuyện bất diệt về tình người còn đọng lại với thời gian, đây là con tàu không-thể-đắm trong lòng người ở lại.

Nói về sự hy sinh của những người đàn ông vĩ đại trên con tàu định mệnh, người đại diện công ty vận tải biển White Star Line đã phát biểu trước báo chí: “Không có bất kỳ luật lệ nào ép buộc những người đàn ông phải dành ra những hy sinh lớn như vậy. Hành động của họ xuất phát từ sự kiên định mà phái mạnh dành để bảo vệ phái yếu. Đó chính là lựa chọn của họ”.

Khi đuôi con tàu bắt đầu chìm xuống nước, ở vào giây phút sinh ly tử biệt, câu nói người ta hét lên trong thảng thốt không phải là tiếng kêu cứu mà là thông điệp ngắn ngủi nhưng ý nghĩa: “I love you”.

Có lẽ, “nước biển dù nhiều hơn nữa cũng không thể nhấn chìm được tình yêu”, và tình người!

Sự Thật Về Cây Ăn Thịt Người Khiến Ai Cũng Ám Ảnh

Theo truyền thuyết, cây ăn thịt người có lá rộng, khum khum, ngoài rìa tua tủa răng cưa. Loài thực vật có vẻ ngoài hung dữ, xấu xí này là một trong những mối đe dọa đáng sợ nhất của con người trong thế giới hoang dã.

Theo một bài báo đăng trên tờ South Australian Register cách đây nhiều năm thì cây ăn thịt người là một “đặc sản” của Madagascar và được người dân bộ tộc Mkodo ở đây tôn thờ như một linh vật. Họ thường tổ chức lễ hiến sinh cho cây với lễ vật là các thiếu nữ trẻ.

Khi bắt đầu buổi lễ, họ bị bắt uống thật nhiều nhựa cây. Sau đó, họ bị quẳng vào giữa bụi cây. Những chiếc lá chậm rãi vươn ra, phủ kín nạn nhân. Những chiếc tua dài gớm ghiếc xiết chặt lấy cô gái tội nghiệp. Càng dẫy dụa thì chúng càng xiết chặt. Một vài ngày sau, người ta sẽ chỉ còn thấy xương của nạn nhân vướng trong đám tua chằng chịt. Câu chuyện được mô tả sinh động kèm theo hình vẽ minh họa đã trở thành nỗi ám ảnh đối với bất cứ nhà thám hiểm nào đặt chân đến Madagascar.

Tuy nhiên, nhiều thập kỷ qua, hàng nghìn lượt người đã quần nát các cánh rừng của Madagascar, nhưng chưa một ai nhìn thấy cây ăn thịt người. Tất cả những gì người ta biết về nó vẫn chỉ là chuyện kể của các thổ dân.

Sự thực ra sao?

Cây ăn thịt người đã trở thành đề tài hứng thú không chỉ với những người tò mò mà cả với các nhà khoa học nghiêm túc. Rất nhiều tên tuổi nổi tiếng trong giới sinh vật học, kể cả Charles Darwin cũng đã từng nghiên cứu về đề tài này, để rồi cuối cùng đưa ra một kết luận: cây ăn thịt người chỉ tồn tại trong các truyền thuyết.

Trên thực tế, cũng có một số loài cây lấy chất dinh dưỡng bằng cách trở thành cây ăn thịt – carnivorous plant. Tuy nhiên, phần lớn nạn nhân của chúng chỉ là côn trùng. Cây lấy chất dinh dưỡng từ xác những con vật xấu số đó để phát triển.

Cây ăn thịt có nhiều phương cách để bẫy động vật. Cây nắp ấm có lá mọc như một chiếc bình với một chiếc mũ để mở. Bên trong chiếc bình là những chất có mùi ngọt rất hấp dẫn côn trùng. Một khi côn trùng đã rơi vào trong bình, chất nhầy bám vào cánh sẽ khiến chúng không thoát ra được và nhanh chóng bị phân hủy.

Cây gọng vó thì dùng mật hoa dụ côn trùng đậu vào cánh. Trên cánh hoa có vô số những sợi lông nhỏ rất nhạy cảm với chất dính bọc quanh. Khi côn trùng đậu vào, những sợi lông sẽ trói chặt nạn nhân và khiến chúng bị chết ngạt. Một chất nhờn sẽ phân hủy xác côn trùng thành bữa ăn ngon cho cây gọng vó.

Cây ăn thịt có khá nhiều loại, nhưng không có loại nào đủ lớn, cũng như đủ độc tố để giết chết và phân hủy một con người. Cho đến nay, loài cây ăn thịt lớn nhất đã được biết đến là cây Nepenthes rajah. Loài cây này mọc khá nhiều ở ở vùng Đông Nam Á, thuộc họ cây nắp ấm. Chỉ có điều, “chiếc ấm” của nó có thể cao tới 35 cm, đường kính 18cm, bên trong chứa 2,5 lít dung dịch tiêu hóa.

Cây Nepenthes rajah có khả năng bẫy côn trùng lớn và thậm chí là cả những động vật nhỏ như chuột, cóc nhái, thằn lằn. Thế nhưng chắc chắn nó không thể làm hại con người. Ở một số nơi, nông dân còn trồng cây Nepenthes rajah quanh ruộng lúa để chống lại chuột bọ ăn lúa. Người ta cũng có thể đổ gạo, thịt..vào bên trong “chiếc ấm” và chờ dung dịch tiêu hóa của cây làm chín các thực phẩm này là có được những món ăn lạ miệng.

Bạn đang xem bài viết Câu Chuyện Thật Sự Về Vụ Đắm Tàu Titanic Năm Đó Còn Bi Thương Hơn Nhiều So Với Trên Màn Ảnh Nhỏ trên website Maiphuongus.net. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!