Xem Nhiều 2/2023 #️ Bố Cục &Amp; Tóm Tắt Văn Bản Chiếc Lá Cuối Cùng Lớp 8 # Top 6 Trend | Maiphuongus.net

Xem Nhiều 2/2023 # Bố Cục &Amp; Tóm Tắt Văn Bản Chiếc Lá Cuối Cùng Lớp 8 # Top 6 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Bố Cục &Amp; Tóm Tắt Văn Bản Chiếc Lá Cuối Cùng Lớp 8 mới nhất trên website Maiphuongus.net. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Chiếc lá cuối cùng Lớp 8 truyện ngắn hay của O’ Henri, sau đây là nội dung bố cục và tóm tắt Chiếc lá cuối cùng truyện ngắn này hay nhất.

Bố cục văn bản

-Phần 1: Từ đầu …..”tảng đá” cho đến Cụ Bơ-men và Xiu lên gác thăm Giôn-xi.

-Phần 2: Tiếp theo ….”thế thôi” cho đến “Chiếc lá cuối cùng không rụng và Giôn-xi qua cơn nguy hiểm

-Phần 3:  Đoạn còn lại. Đoạn này Xiu kể cho Giôn-xi đang bình phục sau cơn bệnh, kể về cái chết bất ngờ của cụ Bơ-men.

Đó là 3 phần của văn bản Chiếc lá cuối cùng.

Tóm tắt văn bản chiếc lá cuối cùng

Giôn xi và Xiu là hai họa sĩ trẻ nghèo sống cùng nhau. Vào một mùa đông lạnh giá Giôn xi bị mắc bệnh sưng phổi nặng. Cô đã rất tuyệt vọng và không còn muốn sống bởi vì không có chi phí trả viện phí. Cô đã gắn sự sống của mình với những chiếc lá trên cây thường xuân cho đến khi chiếc lá cuối cùng rụng xuống đất thì cô sẽ chết. Xiu vô cùng lo lắng và hết lòng chạy chữa cho bạn nhưng vô Ích, Giôn-xi vẫn bi quan như vậy. Cô gái tội nghiệp vẫn đếm từng chiếc lá cuối cùng.

Biết được ý nghĩ đó cụ Bơ-men đã âm thầm thức suốt đêm mưa to gió bão để vẽ chiếc lá thường xuân. Sau đêm mưa to gió lớn, chiếc lá cuối cùng vẫn còn ở trên cây, Chiếc lá cuối cùng không rụng trong đêm bão lớn khiến Giôn-xi phải suy nghĩ lại, cô mong muốn được sống. Bác sĩ cũng bảo Xiu rằng Giôn xi đã khỏi hẳn bệnh.

Giôn-xi từ khỏi bệnh và cõi chết trở về nhưng cụ Bơ-men lại chết vì bệnh sưng phổi. Xiu thông báo cho Giôn-xi về cái chết của cụ Bơ-men.

Hướng dẫn soạn bài

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN

1.Về tác giả

O Hen-ri (1862 – 1910) nhà văn Mĩ chuyên viết truyện ngắn. Tác phẩm có các sâu sắc  trong lòng người đọc như các tác phẩm: Căn gác xép, Tên cảnh sát và gã lang thang, Quà tặng của các đạo sĩ,…

2. Về tác phẩm

a) Đoạn trích nằm trong SGK thuộc phần 1 của truyện ngắn có cùng tên. Tác giả kể chuyện thật hấp dẫn. Nhân vật chính xuất hiện thoáng qua để lại cô chị (Xiu) cùng với bạn đọc hồi hộp dõi theo chiếc lá trên tường, thắt lòng lo cho số phận của Giôn-xi. Chiếc lá không rơi, Giôn-xi dần dần khoẻ lại thì cũng là lúc người hoạ sĩ già duy nhất trong đời ngã xuống.

Cái chết của người hoạ sĩ già để lại trong lòng bạn đọc một nỗi buồn thấm thía nhưng không bi luỵ bởi chính nó đã thắp lên ngọn lửa của tình yêu cuộc sống, của niềm tin vào sức mạnh, sự vĩnh cửu của cái  đẹp.

b) Những chi tiết trong văn bản nói lên tấm lòng thương yêu và hành động cao cả của cụ Bơ-men với  Giôn-xi: – Cụ Bơ-men và Xiu “sợ sệt ngó ra ngoài cửa sổ, nhìn cây thường xuân. Rồi họ nhìn nhau một lát, chẳng nói năng gì”.

– Cụ Bơ-men đã âm thầm vẽ chiếc lá trong đêm lạnh buốt và mưa gió. Nhà văn bỏ qua không kể sự việc cụ đã vẽ chiếc lá trên tường trong đêm mưa tuyết chính là yếu tố gây  bất ngờ, xúc động cho người đọc. Có thể em chiếc lá cụ Bơ-men vẽ là một kiệt tác vì nó không chỉ rất sinh động, khiến Giôn-xi tưởng đó là chiếc lá thường xuân thật; mà còn được vẽ bằng cả tình thương yêu con người của cụ, và bức tranh mang lại sự sống cho Giôn-xi.

c) Những chi tiết khẳng định Xiu không hề được cụ Bơ-men cho biết sẽ vẽ chiếc lá để thay cho chiếc lá  cuối cùng:

– Trước đó hai người chẳng nói năng gì khi cụ Bơ-men làm người mẫu cho Xiu vẽ.

– Khi Giôn-xi đòi kéo mành lên, Xiu làm theo một cách chán nản.

– Chính Xiu cũng ngạc cùng với Giôn-xi khi thấy: “Sau trận mưa vùi dập và những cơn gió phũ phàng… vẫn còn một chiếc lá thường xuân bám trên bức tường gạch”.

– Chỉ khi bác sĩ nói, Xiu mới biết là cụ Bơ-men bị ốm.

Nếu Xiu biết trước ý định của cụ Bơ-men, câu chuyện sẽ không còn hấp dẫn vì chẳng còn yếu tố bất ngờ.

d) Tâm trạng của Giôn-xi là tâm trạng của một người bệnh, ám ảnh về một điều gì đó, cho nên khi biết Giôn-xi tin rằng chiếc lá cuối cùng rụng xuống là cô sẽ buông xuôi, người đọc rất căng thẳng.

Nguyên nhân khiến tâm trạng củ Giôn-xi hồi sinh là sự hiện diện của chiếc lá trong điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt.

Nhà văn kết thúc truyện bằng lời kể của Xiu, không cho Giôn-xi nói gì thêm, để mỗi người tự có hình dung, dự đoán theo cách của riêng mình.

e) Đoạn trích Chiếc lá cuối cùng có hai lần đảo ngược tình huống gây bất ngờ:

– Giôn-xi bị ốm và rất tuyệt vọng, nằm chờ chết. Thế mà cô khoẻ lại.

– Cụ Bơ-men khoẻ mạnh, chỉ bị ốm có hai ngày, nhưng cụ đã đột ngột ra đi.

Chính nghệ thuật đảo ngược tình huống đã gây hứng thú cho người đọc.

II. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG

1. Tóm tắt bài văn

Xiu và Giôn-xi là hai nữ hoạ sĩ trẻ. Giôn-xi bị bệnh sưng phổi căn bệnh rất nặng. Cô tuyệt vọng không muốn sống nữa và cô chỉ đợi chiếc lá cuối cùng rụng xuống là sẽ lìa đời. Biết được ý nghĩ điên rồ đó, cụ Bơ-men, một hoạ sĩ già đã thức suốt đêm mưa gió để vẽ chiếc lá chiếc lá cuối cùng không rụng đã làm cho Giôn-xi suy nghĩ lại, cô hi vọng và muốn được sống, được sáng tạo. Giôn-xi đã từ cõi chết trở về. Trong khi đó, cụ Bơ-men đã chết vì sáng tạo kiệt tác chiếc lá cuối cùng của mình.

2. Cách đọc bài văn

Bài văn được thể hiện qua nhiều tâm trạng, cảm xúc khác nhau. Khi đọc cần chú ý sử dụng giọng điệu:

– Lời dẫn chuyện: khi thì chậm rãi, lo lắng (phần đầu), khi thì nhẹ nhàng, xót xa (đoạn cuối).

– Lời nhân vật Xiu: từ lo lắng (sợ chiếc lá rơi xuống), thất vọng (thấy Giôn-xi ngày càng yếu hơn), mừng rỡ (Giôn-xi khỏi bệnh) đến xót xa (khi thuật lại cái chết cụ Bơ-men).

– Lời nhân vật Giôn-xi: từ chán nản, buông xuôi đến vui vẻ, yêu đời.

Kết thúc hướng dẫn soạn bài, bố cục, tóm tắt văn bản Chiếc lá cuối cùng, hi vọng lời giải trên sẽ giúp các bạn học sinh hiểu hơn về bài học hơn.

Lớp 8 –

Nhịp Điệu Của Một Bố Cục

Về nguyên tắc thì thuật ngữ “bố cục” chỉ áp đụng đối với các hình ảnh cố định (tranh giá vẽ, hình vẽ nghệ thuật hay tranh truyện, ảnh chụp..v.v…). Nó gợi ra các hình thể không vận động, tĩnh, chắc chắn trong khuôn hình của hình ảnh. Đến nỗi mà đôi khi chúng ta khó mà nghĩ rằng một bố cục cũng có thể có nhịp điệu hay được điều chỉnh theo nhịp như là sự biến chuyển của một khúc nhạc.

Những hình ảnh có nhịp điệu bên trong thì lại rất nhiều và những hài hòa về nhịp điệu mà ta có thể tưởng tượng trong một bố cục hình ảnh (đồ họa, nhiếp ảnh .v.v…) là vô số, ngay cả khi mục đích theo đuổi cuối cùng là đồng nhất: tức là đặt ra cho ánh mắt ta một vài nhịp điệu nào đó để xem, khá đều đặn hay nhấn lệch, khá hài hòa hay lủng củng.

So với hình tượng của một bố cục âm nhạc mà nhịp điệu của nó sinh ra từ sự lặp đi lặp lại các âm thanh và từ sự trở đi trở lại đều đặn, lúc mạnh lúc yếu, thì nhịp điệu của một bố cục hội họa sẽ thường được thực hiện trên một sự lặp lại khá là đều đặn các yếu tố đồng nhất về mặt thị giác:

– Một sự lặp lại các đường: đường thẳng, cong hay gãy khúc … được đặt ít nhiều song song (hay theo hình rẻ quạt hoặc xoáy trôn ốc…).

– Một sự lặp lại về kích thước hay motip được bố trí ở các khoảng cách đều đặn theo chiều ngang hay dọc, nhìn nghiêng hay ngoằn ngoèo …

– Một sự lặp lại về dấu hiệu hay các bề mặt được tô màu, được bố trí ở các khoảng cách đều nhau.

– Ở một vài họa sĩ (như Van Gogh chẳng hạn), nhịp điệu cũng nhạy cảm ở mức độ sơ đẳng nhất của sự thể hiện, mức độ của các vệt bút màu. Các nhát bút sẽ được sắp xếp thứ tự để tạo nhịp điệu cho chất liệu hội họa. Khi thì các nét màu theo cùng một hướng giống như thác chảy. Khi thì các nét bút tạo nên các lớp sẽ tự hiện ra hay quện vào nhau theo hình trôn ốc.

– Những sự lặp lại các đường, các hình thể hay các dấu hiệu có thể được thể hiện thành mảng màu phẳng và trên cùng một cảnh của hình ảnh, khi thì đi về chiều sâu, lúc đó ta sẽ cần tới hiệu quả phối cảnh được củng cố. Vậy thì ta sẽ có thể nói về một nhịp điệu đi từ mạnh dần đến yếu dần.

Ví dụ các bề mặt có nhịp điệu:

Người ta có thể tạo nhịp điệu cho một bề mặt theo các cách: lặp lại các đường (A), các hình dáng hay hình khối (D), sắp đặt rất đều đặn (A) hoặc theo cách nhấn lệch hơn (B, C, F), theo hình rẻ quạt (E), xoáy ốc (G) răng cưa (H)…

Khi thì các yếu tố, các đường, các hình khối tạo nhịp điệu cho các bề mặt của hình ảnh toàn phần hay một phần, chúng sẽ được xếp trên cùng một mặt phẳng (A, B, C, E, F) khi thì được nhìn ít nhiều theo phối cảnh (C và D).

– Tùy theo hiệu quả mong muốn mà các đường và các motip sẽ được bố trí ở các khoảng cách đều nhau hay không. Tất cả mọi sự cách quãng trong việc bố trí đều đặn của các motip hay tất cả mọi sự đổi hướng (nhấn lệch của nhạc công) sẽ tạo ra một hòa âm mới, đồng điệu hay lủng cùng.

– Nhiều lần nhắc lại của hai yếu tố giống nhau, ở các khoảng cách đều đặn, sẽ gợi ra một nhịp điệu hai mặt. Lặp lại ba yếu tố giống nhau thì tạo ra nhịp điệu ba mặt v.v…

– Sự chiếu sáng cũng có thể được tạo ra từ nhịp điệu, khi bóng tối và ánh sáng luân phiên nhau với một sự đều đặn nào đó. Ví dụ, khi việc chiếu sáng được cung cấp bởi một nguồn sáng đặt ở đằng sau một bức mành sáo kiểu venise các vùng sáng luân phiên nhau với các vùng tối.

Bắt đầu từ cái mà sự vô tận của các bố cục có nhịp điệu có thể tưởng tượng. Khi thì hình ảnh sẽ tạo ra nhịp điệu trên toàn bộ bề mặt của nó, khi thì là từng phần. Đôi khi nhịp điệu sẽ được đưa ra bởi sự lặp lại đều đặn của một yếu tố mà thôi. Đôi khi lại bởi nhiều yếu tố tự nhiên khác nhau: các đường, các hình khối, các mảng màu … được chồng lên nhau theo nhiều cách đa dạng.

M.Duchamp (1887-1958) – “Người khỏa thân đang xuống cầu thang”

Marcel Duchamp đã chọn đường chéo góc đi xuống của bức tranh như xương sống của một quá trình lặp đi lặp lại của hình thể gần như trừu tượng, gợi ý rất biểu cảm và năng động về chuyển động trong tuyệt tác của ông “Người khỏa thân đang xuống cầu thang”.

Mặt khác, một số yếu tố nhịp điệu được nhập vào một bố cục phức tạp hơn. Ví dụ như Hiroshige đã tạo nhịp điệu bên dưới bố cục của ông nhờ một loạt đường đồng tâm, gợi ý một cách trừu tượng về xoáy nước cuồn cuộn của những làn sóng dữ dội.

Hiroshige (1797-1858) – “Gió và sóng lừng ở Naruto”

Al-Wasiti – “Các kỵ binh Ba tư ở Al-Hariri”

Vượt trên sự giải trí thẩm mỹ đơn thuần mà nó mang lại, nhịp điệu của bố cục thường có chức năng biểu hiện chính xác hơn nữa. Ở đây, đều đặn xếp hàng tính theo đầu ky sĩ, tính chân và đầu ngựa, gợi ý một toán quân đông đảo nhưng có trật tự. Mặt khác việc bố trí cờ xí và kèn xung trận theo hình rẻ quạt, hướng mở ra ngoài (lên trời) gợi ra khá tốt tiếng kèn lệnh vang rền thắng lợi được những người giữ cờ áp tải. Và câu chuyện đơn giản đã được góp phần tôn vinh như vậy.

P. Ucello (1397-1475) – “Trận đánh ở San – Romano”

Ucello sử dụng rất đặc biệt những ngọn giáo của các kỵ sĩ để tạo nhịp điệu cho bố cục. Trước hết, được đặt dọc và ngang, những ngọn giáo hạ dần theo hình rẻ quạt (phía trái) để gợi ý hoạt động của toán kỵ binh ném lao đã ở phía trước quân thù. Sự ngã giáo tự nguyện trong nhịp điệu chính của bố cục là đủ để khuấy động khung cảnh mà nếu không có như vậy thì cảnh rất có thể đã thành bất động.

“Tĩnh vật với những trái cam” – Ảnh của DUC (tác giả sách này)

Ngày nay, các họa sĩ và các nhà nhiếp ảnh không hề do dự khi sử dụng đồ vật bình thường thông dụng nhất để làm chủ thể cho bố cục. Họ trình bày đồ vật này đôi khi kỹ lưỡng, tới mức phóng lớn ra ở cực cận cảnh. Do vậy mà hình ảnh kích thích mắt nhìn bởi nhịp điệu duy nhất của khối hay của đường nét. Chủ thể hiểu theo nghĩa sát sao nhất, bị xóa bớt để phục vụ cho cảm xúc thẩm mỹ thuần túy.

“Cái nóng mùa hè” – Ảnh của DUC (tác giả sách này)

Bản dịch của họa sĩ Đức Hòa từ cuốn “L’Art de la composition et du cadrage” (1992), của Bernard Duc, nhà xuất bản Fleurus 11 đường Duguay – Trouin, Quận 6, Paris

Các Dạng Bố Cục Trang Trí Màu

Bài thi Trang trí màu.

Vẽ trang trí màu là môn học cơ bản để chuẩn bị cho kỳ tuyển sinh giành cho các bạn thi khối H. Hiểu rõ các nguyên tắc tạo dụng bố cục trang trí màu đẹp giúp bài thi hoàn thiện và đạt điểm cao hơn.

Nghệ thuật trang trí là lĩnh vực cực kỳ lớn của mỹ thuật ứng dụng. Mục tiêu là đưa cái đẹp vào tất cả các lĩnh vực của đời sống. Nó có mặt trong xã hội loài người rất sớm. Vì có mặt sớm như thế nên kho tàng nghệ thuật trang trí của nhân loại vô cùng lớn về mặt tác phẩm và lý luận sáng tạo.

Do vậy bất cứ trường mỹ thuật nào cũng coi những kiến thức cơ bản về sáng tạo ngôn ngữ trang trí màu là một trong những nền tảng cho toàn bộ khối lượng kiến thức về chuyên môn.

Trong khối lượng kiến thức cơ bản của nghệ thuật trang trí thì những kiến thức về màu sắc, sáng tạo họa tiết, các quy luật tạo hình trang trí đều được giảng dạy một cách có hệ thống và chu đáo.

Ngoài kiến thức về màu sắc thì những quy luật trang trí đã trở thành những kiến thức phục vụ cho các giải pháp bố cục thị giác như:

Quy luật lặp lại.

Quy luật xen kẻ.

Quy luật đảo ngược.

Quy luật chồng hình, ly tâm, hướng tâm, xoáy trôn ốc.

Khái niệm về sự chuyển động.

Nhịp điệu được sắp xếp, phân bố ngay trong những bài tập trang trí trên những hình kỹ hà cơ bản: Hình vuông, hình tròn, hình tam giác, hình chữ nhật, đường diềm, trang trí vải hoa.

Các nguyên tắc của bố cục trang trí màu

Các nguyên tắc để tạo dựng một bố cục đẹp:

Cân bằng: có trọng tâm, không bị xô lệch một bên, thông qua sự xác định vị trí, cấu trúc, độ lớn và sự tương quan của các thành phần chính phụ.

Tỷ lệ: Tương quan giữa các thành phần theo chức năng của sự phân cấp chính phụ.

Nhịp điệu: Sự lặp lại có quy luật, tiết tấu của thành phần.

Hướng- tuyến: Có hướng chuyển động chính, không bị rối loạn.

Sự đa dạng: Tạo hình có sự mô phỏng giống nhau giữa các thành phần, họa tiết.

Tương phản – điểm nhấn: Sự nổi bật và bắt mắt về cấu trúc và màu sắc của thành phần chính.

Sự đơn giản: tạo hình ít – cô đọng nhưng diễn tả được nhiều nội dung.

Bố cục đối xứng.

Là dạng bố cục đóng kín – có tính chất hướng tâm. Ở đó, sự sắp xếp các họa tiết đối xứng qua một hay nhiều trục (trục tung, trục hoành, trục xiên)

Dạng bố cục có từ 2 thành phần chính trở lên.

Các thành phần phụ làm cho bố cục có sự liên kết, nhịp điệu, định hướng chuyển động. Giúp tạo sinh sịnh khí cho bố cục vốn được xem hơi thụ động.

Dùng một hay một nhóm họa tiết lặp lại để tạo nên sự cân đối.

Các dạng thức cơ bản của bố cục đường diềm:

Đường diềm phát triển theo phương đứng.

Đường diềm phát triển theo phương ngang.

Đường diềm phát triển từ bố cục đối xứng.

Là dạng thức bố cục mở theo tất cả các hướng. Là sự phát triển của bố cục đường diềm theo tất cả các hướng.

Các cách thức triển khai trong bố cục hàng lối:

Cấu trúc mỗi hàng trong bốc cục hàng lối là một đường Diềm; có ít nhất 3 đường diềm được triển khai theo trật tự của sự lặp lại, sẽ tạo thành bố cục hàng lối.

Nhịp điệu của họa tiết trong một hàng hoặc tất cả các hàng phải đảm bảo tính liên tục, không bị chia cắt dang dở, thiếu nhịp.

Cần tránh triển khai bố cục theo hướng xiên mà đi ra hai góc vì sẽ chia bố cục thành hai nửa riêng biệt.

Bố cục tự do, đường nét, hình mảng, họa tiết được thay đổi rõ rệt; đột ngột mà vẫn hài hòa, mềm mại tránh được sự nhàm chán. Bố cục tự do vận dụng một số các phương pháp sau đây:

Bố cục tự do có thể có một hoặc nhiều thành phần chính.

Quan hệ của các thành phần chính phụ trong bố cục tự do:

Thành phần chính nằm trong trường thị giác được xác định theo quy tắc chia 3. Khoảng cách và vị trí của các thành phần chính phải có sự biến đổi, tự do, sinh động.

Độ lớn của các thành phần chính phụ luôn được cân nhắc theo tỷ lệ vàng.

Cấu trúc của thành phần chính chi tiết, tinh tế hơn trong cách tạo hình.

Màu sắc thành phần chính rõ ràng, nổi bật hơn các tình phần phụ. Tạo sự phân cấp chính phụ rõ tràng trong bố cục.

Bài Viết Liên Quan:

tag: tự học vẽ trang trí màu, học vẽ trang trí màu online, hướng dẫn vẽ trang trí màu, bố cục màu hòa sắc nóng, bố cục màu hòa sắc lạnh, bố cục màu đăng đối, bố cục đường diềm, bố cục hàng lối, bố cục tự do, trang trí hình vuông, trang trí hình tròn

Soạn Bài: Bố Cục Của Văn Bản

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG

II. HƯỚNG DẪN TÌM HlỂU BÀI

1. Bố cục của văn bản

a) Văn bản Người thầy đạo cao đức trọng có thể chia làm ba phần. Phần Mở bài từ đầu đến không màng danh lợi. Phần Thân bài tiếp theo đến không cho vào thăm. Phần Kết bài còn lại.

Phần Thân bài trình bày về thầy Chu Văn An có nhiều học trò giỏi, thầy được vua mời dạy thái tử, thầy can ngăn vua và từ quan, thầy rất nghiêm khắc với học trò.

2. Cách bố trí, sắp xếp nội dung phần Thân bài của văn bản

a) Phần Thân bài của văn bản Tôi đi học kể về những sự kiện sau: trên đường đến trường, trên sân trường, khi vào lớp học. Các sự kiện này được sắp xếp theo trình tự thời gian (từ nhà đến trường) và không gian (trên đường, trên sân trường, trong lớp học).

b) Phần Thân bài của văn bản Trong lòng mẹ trình bày diễn biến tâm trạng của bé Hồng: bé Hồng thương mẹ, căm thù những cổ tục đã đày đoạ mẹ, không nghe lời xúc xiểm của người cô để xa lánh mẹ. Tiếp theo là lòng khao khát được gặp mẹ, nỗi vui sướng mê man khi được ở trong lòng mẹ.

c) Trình tự khi miêu tả người có thể miêu tả dáng người, nét mặt, quần áo, giọng nói, sở thích, tình cảm.

Khi miêu tả con vật thì tả hình dáng, các bộ phận đặc trưng của con vật đó, sau đó chú ý đến tiếng kêu, màu lông, thói quen, quan hệ của con vật với con người.

Tả phong cảnh thì chú ý đến không gian từ xa đến gần, từ ngoài vào trung tâm, từ khái quát đến các chi tiết tiêu biểu. Cũng có thể kết hợp với thời gian buổi sáng nhìn thế nào, buổi chiều có gì khác,…

d) Phần Thân bài trong văn bản Người thầy đạo cao đức trọng trình bày việc Chu Văn An có nhiều học trò, học trò nhiều người đỗ cao, ông được vua mời dạy thái tử. Các chi tiết này làm rõ cho điều Chu Văn An là người thầy giáo giỏi.

Chi tiết Chu Văn An nhiều lần can ngăn vua, vua không nghe, ông trả lại mũ áo, ông trách mắng học trò, có khi không cho vào thăm thể hiện rõ tính tình cứng cỏi (với vua và với học trò) và không màng danh lợi của Chu Văn An.

III. HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

1. Phân tích cách trình bày ý trong các đoạn trích:

a) Đoạn này trình bày về cánh rừng chim. Các ý sắp xếp theo trình tự từ xa đến gần, từ ngoài vào trong, từ trong ra ngoài, từ gần ra xa.

b) Đoạn này trình bày vẻ đẹp cúa Ba Vì theo mùa trong năm, nhưng tập trung vào tả vẻ đẹp của Ba Vì theo thời điểm buổi chiều, buổi tối khi có trăng.

c) Đoạn này trình bày về trí tưởng tượng cúa dân chúng. Hai ví dụ sắp xếp một cách ngẫu nhiên, một bên là lịch sử, một bên là truyền thuyết có cốt lõi lịch sử.

2. Nếu phải trình bày về lòng thương mẹ của chú bé Hồng ở văn bản Trong lòng mẹ, em cần trình bày một số ý và sắp xếp như sau:

– Hồng rất muốn đi thăm mẹ mình. Em biết ý xấu của người cô nên đã từ chối.

– Hồng không giấu được tình thương mẹ nên đã để nước mắt ròng ròng rơi xuống.

– Hồng muốn nghiến nát những cổ tục đã đày đoạ mẹ.

– Những ý xấu của người cô không làm cho Hồng xa lánh mẹ, trái lại làm cho Hồng càng yêu thương mẹ hơn.

3. Cách sắp xếp trên chưa hợp lí. Trước hết cần phải giải thích nghĩa đen và nghĩa bóng của câu tục ngữ trước. Từ đó mới lấy ví dụ để chứng minh. Trong các ví dụ thì nói khái quát về những người chịu đi, chịu học trước, sau đó mới nói tới các vị lãnh tụ, rồi nói đến thời kì đổi mới (theo trình tự thời gian).

Giáo Án Bài Bố Cục Trong Văn Bản

2. Kĩ năng 3. Thái độ 1. Ổn định tổ chức

– Kiểm tra sĩ số:

2. Kiểm tra đầu giờ 3. Bài mới

Hoạt động của GV và HS Kiến thức cần đạt

HĐ1.HDHS tìm hiểu bố cục trong văn bản:

– Gọi hs đọc bài tập.

– HS đọc và trả lời BT 1/a.

Tình huống: Em muốn viết một lá đơn để xin ra nhập đội TNTP HCM.

I. Bố cục và những yêu cầu về bố cục trong VB:

1. Bố cục trong văn bản:

a. Bài tập

-Viết một lá đơn để xin ra nhập đội TNTP HCM.

H: Những nội dung trong lá đơn ấy có cần được sắp xếp theo một trật tự không?

H: Em sẽ sắp xếp các nội dung đó như thế nào?

– Ví dụ: Viết đơn

1) Phần mở đầu:

+ Quốc hiệu, tiêu ngữ

+ Địa điểm, thời gian viết đơn.

+ Tên đơn

+ Nơi nhận đơn

2) Phần nội dung:

– Tự giới thiệu (họ tên, ngày- tháng- năm sinh, học sinh lớp, trường)

+ Trình bày nguyện vọng, yêu cầu (lí do xin vào đội)

3) Phần kết thức.

+ Lời hứa hẹn

+ Chữ kí, họ và tên người viết đơn

+ Phần ghi chú (nếu có)

H: Có thể tuỳ thích muốn ghi nội dung như nào trước hay không?

– Không thể tuỳ tiện, muốn ghi nội dung nào trước cũng được. Vì sẽ làm cho văn bản lộn xộn, khó hiểu.

GVchốt: Sự sắp đặt nội dung các phần trong văn bản theo trình tự hợp lí được gọi là bố cục.

b. Kết luận:

– Bố cục là sự sắp xếp các phần trong văn bản theo 1 trình tự hợp lí.

H: Theo em, vì sao khi xd văn bản cần phải quan tâm tới bố cục?

– Khi xây dựng văn bản cần phải quan tâm tới bố cục hợp lí sẽ làm cho người đọc hiểu được nội dung văn bản một cách dễ dàng.

* Bài tập ứng dụng: Bài 1 (30)

VD: Khi tả theo cây cối, ta có thể tuân theo dàn bài sau:

MB: Giới thiệu cây định tả là gì? Trồng ở đâu, có từ bao giờ?

TB: Có thể theo trật tự sau:

+ Tả bao quát: Tầm vóc, hình dáng, vẻ đẹp…

+ Tả chi tiết từng bộ phận

– KB: Cảm nghĩ và t/c đối với cây được tả

HS lấy ví dụ theo yêu cầu BT 1

HS đọc câu chuyện (1) và trả lời CH

H:Câu chuyện trên đã có bố cục chưa?

(Gợi ý: So sánh với văn bản gốc (SGK TN 6- Tập 1) “ếch ngồi đáy giếng”)

H: Cách kể chuyện như vậy bất hợp lí ở chổ nào?

* Trong văn bản gốc: 3 đoạn

Đ1: Có 1 con ếch sống trong 1 không gian hẹp, xung quanh chỉ có những con vật bé nhỏ, nên tiếng kêu của của ếch là to nhất  ếch ngộ nhận về tầm cỡ của mình.

Đ2: Sự việc khách quan khiến ếch thay đổi hoàn cảnh sống.

Đ3: .Ếch phải trả giá cho những hiểu biết của mình.

2. Những yêu cầu về bố cục trong văn bản:

* Bài tập

– Văn bản (1)

+ So với văn bản “ếch ngồi đáy giếng” (NV 6 – tập 1) thì văn bản (1) có bố cục không hợp lí, các ý lộn xộn không thống nhất, không theo trình tự thời gian sự việc

H: Vậy nên sắp xếp bố cục câu chuỵên trên như thế nào?

HS đọc văn bản (2) và trả lời câu hỏi:

– Xác định các đoạn văn trong ví dụ

H:Nội dung từng phần có rõ ràng không?

H:Cách kể chuyện như trên bất hợp lí chổ nào?

H:Vì sao lại như vậy: hãy so sánh với văn bản “Lợn cười, áo mới” (NV6- tập 1 – T 126)?

+ Sắp xếp theo trình tự thời gian, sự việc và bố cục 3 phần như nguyên bản.

– Văn bản (2)

+ Nội dung không rõ ràng:

+ Đoạn 1: Giới thiệu một anh hay khoe,đang muốn khoe mà chưa được.

+ Đoạn 2: anh đã khoe được áo mới.

+ Không hợp lí: Không nêu bật được ý nghĩa phê phán, không đem lại tiếng cười cho mọi người

+ So với văn bản “lợn cưới, áo mới” (NV 6 – Tập 1 – T 126) thì văn bản (2) đảo lộn về sự sắp xếp các câu, ý  mất yếu tố bất ngờ gây tiếng cười

+ Sửa: Sắp xếp lại theo nguyên bản:

* Kết luận:

– Bố cục của văn bản phải rành mạch, hợp lí, phù hợp với mục đích giao tiếp

H: Vậy, bố cục của văn bản cần phải đảm bảo yêu cầu nào?

H: ở lớp 6 các em đã được học các kiểu văn bản nào? (tự sự – miêu tả)

H: Bố cục của 2 kiểu văn bản đó có 3 phần. Đó là những phần nào? Nêu nhiệm vụ của từng phần?

H:Có cần phân biệt của từng phần không? Vì sao?

3. Các phần của bố cục:

* Bài tập

a. Nhiệm vụ của 3 phần M B – TB -KB

– Trong văn bản miêu tả:

MB: Giới thiệu tên của đối tượng.

MT: Miêu tả cụ thể về đối tượng

KB: Nêu cảm nghĩ của bản thân về đối tượng.

– Trong văn bản tự sự

MB: Giới thiệu chung về nhân vật, sự việc.

TB: Trình bày diễn biến của sự việc, hành động, tính cách và mâu thuẫn.

KB: Kết thúc truyện

b. Cần phân bịêt nhiệm vụ của mỗi phần vì mọi phần có nhiệm vụ riêng.

*Kết luận:

– Bố cục văn bản thường gồm 3 phần: MB – TB – KB

Sai : Vì

+ MB vừa là sự thông báo đề tài của văn bản, vừa cố gắng lằm cho người độc (người nghe) có thể đi vào đề tài đó 1 cách dễ dàng, tự nhiên, hướng thú và hình dung được các bước đi của bài.

+ KB: không chỉ có nhiệm vụ nhắc lại đề tài mà còn làm cho văn bản để lại ấn tượng cho người đọc (người nghe)

CH: Có phải cứ chia bố cục làm 3 phần thì tự nhiên sẽ trở nên hợp lí không?

CH:Bố cục văn bản thường có mấy phần?

GV gọi 1 HS đọc ghi nhớ – SGK

HĐ2.HDHS luyện tập:

Ví dụ1: Xác định theo diễn biến tâm trạng của nhân vật

VD2: Theo diễn biến sự việc

MB: Tai hoạ giáng xuống đầu 2 anh em

TB: + Cuộc chia tay đồ chơi

+ Cuộc chia tay ở lớp

+ Cuộc chia tay đột ngột ở nhà

KB: Thủy để lại con EN cho anh và tâm trạng của Thành.

– HS có thể kể lại bằng một bố cục khác

– Gọi hs đọc bài tập 3

II. Luyện tập

1. Bài tập 2: SGK – T 30

MB: Tâm trạng của hai anh em đêm trước ngày chia tay

TB: Tâm trạng của hai anh em trong buổi sáng chia tay.

+ Trong vườn

+ Khi chia đồ chơi

+ Chia tay lớp học

+ Cuộc chia tay của hai anh em

KB: Tâm trạng của Thành.

2. Bài 3:

– Bố cục chưa rành mạch, hợp lí.

+ Điểm (1)(2)(3) (TB) mới chỉ là kể lại việc học tốt chưa chưa phải là trình bày kinh nghiệm học tốt.

+ Điểm (4): Không nói về học tập.

– Sửa:

+ MB: Chào mừng….

+ TB:

Nêu từng kinh nghiệm học tập

Kết quả của những kinh nghiệm đó đem lại

+ KB: Nêu nguyện vọng, chúc hội nghị thành công

4. Củng cố, luyện tập 5. Hướng dẫn về nhà

300 BÀI GIẢNG GIÚP CON HỌC TỐT LỚP 7 CHỈ 399K

Phụ huynh đăng ký mua khóa học lớp 7 cho con, được tặng miễn phí khóa ôn thi học kì. Cha mẹ hãy đăng ký học thử cho con và được tư vấn miễn phí. Đăng ký ngay!

Tổng đài hỗ trợ đăng ký khóa học: 084 283 45 85

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Loạt bài Giáo án Ngữ văn lớp 7 chuẩn nhất của chúng tôi được biên soạn bám sát nội dung sgk Ngữ văn 7 Tập 1 và Tập 2 theo chuẩn Giáo án của Bộ GD & ĐT.

Bạn đang xem bài viết Bố Cục &Amp; Tóm Tắt Văn Bản Chiếc Lá Cuối Cùng Lớp 8 trên website Maiphuongus.net. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!