Xem Nhiều 1/2023 #️ Bộ Bản Đồ Hồng Đức Qua Tấm Bản Đồ Kinh Thành Thăng Long # Top 9 Trend | Maiphuongus.net

Xem Nhiều 1/2023 # Bộ Bản Đồ Hồng Đức Qua Tấm Bản Đồ Kinh Thành Thăng Long # Top 9 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Bộ Bản Đồ Hồng Đức Qua Tấm Bản Đồ Kinh Thành Thăng Long mới nhất trên website Maiphuongus.net. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

BỘ BẢN ĐỒ HỒNG ĐỨC QUA TẤM BẢN ĐỒ KINH THÀNH THĂNG LONG

SUNday – 09/03/2014 10:00

Bản đồ Hoàng thành Thăng Long thời Hồng Đức (1490)

Bản đồ Hồng Đức là bộ bản đồ địa lí đầu tiên của nước ta. Bộ bản đồ được thực hiện từ năm Quang Thuận thứ 8 (1467)(1) theo chỉ dụ của vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497), được hoàn tất và ban hành vào năm Hồng Đức thứ 21 (1490)(2). Bộ bản đồ phản ánh phạm vi cương giới, hệ thống hành chính nước Đại Việt vào nửa cuối thế kỷ 15. Bộ bản đồ gồm: bản đồ nước Đại Việt, bản đồ kinh thành Thăng Long, bản đồ 13 đơn vị hành chính cấp tỉnh thời đó được gọi là thừa tuyên.

Bộ bản đồ còn đươc lưu lại đến ngày nay bằng những bộ sưu tập bản đồ địa lý, gồm bộ bản đồ Hồng Đức và một số bản đồ khác, do người đời sau thực hiện. Hiện nay, tại Viên Nghiên cứu Hán Nôm người ta thấy có đến 10 cuốn sách loại này. Đó là: 1. Hồng Đức bản đồ, A.2499 2. Hồng Đức bản đồ, VHt, 41 3. An Nam quốc, Trung Đồ tính thập tam thừa tuyên hình thế đồ hoạA.2531 4. An Nam hình thắng đồ A.3034 5. Thiên Nam Lộ đồ, A.1081 6. Nam Việt bản đồ A.1603 7. Giao Châu dư địa chí, VHt.30 8. Thiên tải nhàn đàm, A.584 9. Thiên tải nhàn đàm, 2006 Trong số 10 cuốn sách nói trên, 4 cuốn (các số 1, 2, 3, 4) có ghi năm tháng bộ bản đồ được ban hành (ngày mồng 6 tháng 4 năm Hồng Đức thứ 21 (1490)(3). Về niên đại, có 2 cuốn sách hoàn thành vào cuối thế kỷ 18; 5 cuốn vào nửa đầu thế kỷ 19, 3 cuốn không ghi niên đại. Về nội dung, bộ bản đồ nước Đại Việt trong 10 cuốn sách nói trên giống nhau về đại thể (phạm vi cương giới, hệ thống hành chính, địa hình, đại vật thể hiện). Sự đồng dạng đó nói lên, phải chăng chúng đều bắt nguồn từ bộ Bản Đồ Hồng Đức ban hành vào năm 1490(?). Đây là vấn đề phức tạp chỉ có thể được kết luận dựa trên những căn cứ khoa học. Ở bài này, chúng tôi chỉ giới thiệu tấm bản đồ kinh thành Thăng Long được gọi là Phù Trung Đô trong những bản đồ đó mà chúng tôi đã so sánh, chọn lọc để sử dụng trong công trình nghiên cứu về thành Thăng Long. Bản đồ kinh thành Thăng Long được thể hiện trong 10 cuốn sách nói trên, giống nhau về địa hình, đại vật tổng quát của kinh thành và vùng kế cận. Song, những chi tiết thể hiện sự cấu trúc của hoàng thành có khác nhau. Sự khác nhau đó xin khái quát giới thiệu như sau (theo số thứ tự bản đồ ở trên): Bản đồ số 1: Cấm thành hình vuông, thể hiện một quần thể kiến trúc cung điện theo một đường trục từ năm lên bắc: Cửa chính Nam, cửa Đoan Mỡn, toà điện không tên, điện Thị Triều, điện Kính Thiên, toà điện không tên. Bên trái toà điện không tên cuối cùng đề hai chữ Ngọc hà. Bên phải đề hai chữ Chí Kính. Không rõ hai khu vực này là cung điện hay một vật thể kiến trúc gì đó. Phía sau khu vực có tên là Ngọc Hà, đề ba chữ Vạn Thọ điện, tức là Điện Vạn Thọ, tuy không vẽ cung điện. Phía tây điện Vạn Thọ, cho đến Cửa Tây cấm thành (chếch về phía tây bắc) trên bản đồ không vẽ gì. Phía đông cấm thành là Đông Cung và Thái Miếu. Hai khu này ngăn cách nhau bằng một bức tường gấp khúc từ phía đông sang phía tây nam. Cửa Đông cung kề gốc đông nam cấm thành. Khu Đông Cung có hồ lớn hình bầu dục hướng bắc nam. Khu Thái Miếu vẽ một toà điện và trước mặt là một hồ lớn hình bầu dục theo hướng đông tây. Phía trước cấm thành là một dải đất hẹp có tường vây phía trước, mỗi đầu có một cửa quay về hai hướng đông và tây. Trên dải đất đó, phía đông đề ba chữ Đông Trường An, phía tây đề ba chữ Tây Trường An. Phía trước, bên ngoài tường vây là một hồ lớn chạy từ đông sang tây, trên hồ có nhà thuỷ tạ. Bản đồ số 2: Cấm thành hình vuông, không thấy vẽ cửa. Trên tường thành phía nam có 4 toà điện. Trên bức tường thứ 2 chạy song song vẽ 3 toà điện. Trên bức tường thứ 3 cũng chạy song song, vẽ 1 toà điện ở đầu phía tây. ở hình chữ nhật phía đông bắc đề 3 chữ Vạn Thọ Điện. Cắt đôi bức tường thành thứ 3 là một đoạn tường cụt chạy từ tường thành phía bắc đến giữa cấm thành. Không một toà điện nào được đề tên. Đông Cung và Thái Miếu, đại thể như bản đồ số 1, trong vẽ cửa Đông Cung. Phía trước cấm thành, vẽ ký hiệu một bức tường chạy suốt đến tường phía đông hoàng thành (lớp tường bên ngoài). Ba chữ Đông Trường An đề trước cấm thành (không đề chữ Tây Trường An). Hồ nước trước cấm thành và Thái Miếu, đại thể như bản đồ số 1. Bản đồ số 3: Cấm thành hình chữ nhật, không vẽ một cửa nào. Trong ô chữ nhật ở giữa chếch về phía bắc đề 3 chữ Vạn Thọ Điện. Không vẽ Đông Cung và Thái Miếu. Trước cấm thành, giữa đề 3 chữ Đông Trường An chếch, về phía tây đề 3 chữ Tây Trường An. Bản đồ số 4: Cấm thành hình chữ nhật, liền với Đông Cung. Cửa nam đề hai chữ Triều Nguyên. Phía sau là cửa Đoan Môn. bên đông và tây Đoan Môn, mỗi bên vẽ hai toà điện nối tiếp, không đề tên là điện gì. Tiếp sau là một toà điện đề 2 hàng chữ Thị Triều, Kính Thiên. Bên đông và tây điện này, mỗi bên vẽ hai toà điện nối tiếp, không đề tên là điện gì. Vị trí Thái Miếu và hồ trước mặt giống bản đồ số 1. Bản đồ số 5: Cấm thành hình vuông, có vẽ cửa, vị trí như bản đồ số 1. Cửa Nam và cửa Đoan Môn, mỗi cửa vẽ 3 lối ra vào. Sau cửa Đoan Môn, kế tíep nhau là hai hàng chữ Thị Triều, Kính Thiên, không vẽ toà điện nào. Góc đông bắc là Ngọc Hà, Văn Thọ Điện, như bản đồ số 1. Tường phía đông chỉ vẽ đến bức tường có cửa Đoan Môn. Đông Cung – Thái Miếu, khác bản đồ số 1, là từ phía đông, bức tường ngăn cách qua một lần gấp khúc (bản đồ số 1 hai lần gấp khúc), rồi đi về phía tây gặp cấm thành. Trước cấm thành không có Đông và Tây Trường An. Bản đồ số 6. Cấm thành hình vuông, không vẽ cửa. Bên trong vẽ 2 bức tường chạy song song theo hướng đông – tây. ở giữa vẽ mấy đoạn tường cụt hoặc thước thợ. Góc đông bắc đề 3 chữ Vạn Thọ Điện. Ngoài ra, không vẽ hoặc đề tên một cung điện nào. Đông Cung – Thái Miếu không có tường ngăn cách, không vẽ cửa. Hồ ở giữa. Góc đông bắc đề 3 chữ Càn Thọ Điện. Trước cấm thành không vẽ gì, không đề Đông và Tây Trường An, không vẽ hồ nước, kể cả hồ trước Thái Miếu. Bản đồ số 7 và 8 Hai bản đồ này giống nhau, vì cùng một tác giả. Cấm thành hình chữ nhật. Không vẽ tường phía nam cấm thành, chỉ vẽ cửa Đoan Môn chia làm 3 ngăn. Sau Đoan Môn đề hai chữ Thị Triều, tiếp đó là một bức tường bên đông đề hai chữ Vạn Thọ. Đông Cung và Thái Miếu không có tường ngăn cách. Góc đông bắc đề hai chữ Càn Thọ. Ba chữ Đông Trường An để ở bên ngoài hoàng thành. Ba chữ Tây Trường An để ở góc tây nam cấm thành. Bản đồ số 9 Cùng tác giả với bản đồ số 7 và 8. Chỗ khác là: cửa Đoan Môn đề là Ngọc Môn, chữ Kính Thiên đề ở khu vực bên trong phía tây cấm thành. Bản đồ số 10. Vẽ tồi nhất. Không vẽ cấm thành. Trong lớp tường hoàng thành, vẽ Điện Kính Thiên, Điện Vạn Thọ. Đông Cung và Thái Miếu. Hồ trước cấm thành và Thái Mioếu vẽ liền nhau. Như vậy, nếu kể riêng bản đồ kinh thành Thăng Long, như giới thiệu ở trên, có đến 11 bản đồ. Song xét về mức độ phản ánh và kỹ thuật thể hiện, thì bản đồ số 1 là hoàn chỉnh và sắc sảo hơn cả. Những bản đồ khác, nhược điểm chung là sơ lược về thể hiện và thô kệch về kỹ thuật thể hiện. Còn về mức độ chính xác, chỉ có thể đi đến kết luận sau khi đã đối chiếu, so sánh với những nguồn tư liệu khác (tư liệu thành văn, di tích trên thực địa …) Vừa qua, trong quá trình nghiên cứu về thành Thăng Long, so sánh đối chiếu 11 bản đồ với nhau và với những nguồn tư liệu khác, tôi thấy bản đồ số 1 là chính xác hơn cả. Chỉ có bản đồ đó mới thể hiện rõ nét quần thể kiến trúc cung điện trong cấm thành mà ngày nay trên thực địa vết tích những công trình chủ yếu vẫn còn (cửa Đoan Môn và nền Điện Kính Thiên). Chỉ có bản đồ đó mới cung cấp cho ta nguồn thông tin tương đối đầy đủ để tìm hiểu vị trí thành Thăng Long mà nay ta đang quan tâm tìm kiếm. Cũng vì vậy, tôi đã chọn bản đồ số 1, tức bản đồ Phru Trung Đô trong sách Hồng Đức bản đồ, ký hiệu A.2499, làm cơ sở cho việc đối chiếu với các nguồn tư liệu khác để phác hoạ vị trí của thành Thăng Long. Bản đồ này đã được giới thiệu trên báo Hà Nội mới, số ra ngày chủ nhật, mồng 4 tháng 8 năm 1985. Song, đây chỉ là một bộ phận trong bộ bản đồ Hồng Đức. Dù có hoàn chỉnh, chính xác hơn các bản đồ khác cũng chưa đủ cơ sở để nói lên bộ bản đồ Hồng Đức trong sách Hồng Đức bản đồ ký hiệu A.2499 có gần gũi với bộ bản đồ ban hành năm 1490 hay không. Việc so sánh, chọn lọc một bộ bản đồ Hồng Đức tiêu biểu nhất để biên dịch, chú giải, xuất bản nhằm đáp ứng nhu cầu nghiên cứu về môn khoa học địa lý lịch sử vẫn là một yêu cầu đang được đặt ra đối với các nhà Hán Nôm học hiện nay. PHẠM HÂN ———————————

CHÚ THÍCH (1) (2) Đại việt sử ký toàn thư (gọi tắt là Toàn thư), tập III, Nxb KHXH, 1972, tr. 210, 306. (3) Toàn thư chép việc Lê Thánh Tông ban hành bộ bản đồ này vào ngày mồng 5 tháng 4 năm Hồng Đức thứ 21 (1490).

Thăng Long Qua Bản Đồ Cổ

Bản đồ thành Thăng Long được vẽ từ bao giờ thì chỉ có thể ước đoán. “Đại Việt sử kí toàn thư” (viết tắt là TT) chép về thời Lý Anh Tông: “Nhâm Thìn năm thứ 10 (1172) mùa xuân, tháng 2, vua lại đi tuần ra cù lao ngoài biển ở địa giới phiên bang Nam Bắc, vẽ bản đồ và ghi chép phong vật xong rồi về”; tức là chỉ nhắc đến việc “vẽ bản đồ”. “Việt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim viết: “Năm Tân Mão (1171-1172) Anh Tông đi chơi xem Xuyên Sơn hiểm trở, đường sá xa gần và sự sinh hoạt của dân gian, rồi sai quan làm quyển địa đồ…”. Thời Lý, Thăng Long là kinh đô, tất phải được vẽ địa đồ. Thế mà nay chẳng còn dấu tích gì về nó. Thời gian đã “giấu” quá kĩ… Mãi đến thời Lê Thánh Tông, địa đồ mới lại được TT nhắc đến: “Canh Tuất năm thứ 21 (1490) mùa hạ, tháng 4 ngày mùng 5, định lại bản đồ trong nước: 13 xứ thừa tuyên có 52 phủ, 178 huyện, 50 châu…”. Tất nhiên, có nhiều hương, phường, xã, thôn, trang, sách, đông, nguyên, trường. Chính năm này để lại cho hậu thế tấm bản đồ Thăng Long vô cùng quý giá, đáng tin cậy. Đó là bản đồ thành Đông Kinh. Từ đây, nhiều sách đã căn cứ, vẽ ra những tấm “Tỉnh thành Trung Đô” hoặc thành Thăng Long đời Lê… Người viết bài này đã sưu tầm được gần 20 tấm bản đồ thành Thăng Long in trên sách báo từ trước đến nay. Có tấm ghi “Bản đồ Thăng Long thời Lý – Trần 1010 – 1400”, nghĩa là thể hiện thời điểm rất cổ, nhưng xét cảnh quan thì mới được vẽ cuối Lê đầu Nguyễn. Khu vực Hoàng Thành, Cấm Thành ghi theo sách cổ, nhưng vùng ngoại vi ghi rất sai lệch như “Hồ Tây”, “Sông Tô”, “Hồ Gươm”. Trong nhiều bản đồ đã công bố, có 3 tấm rất có giá trị: “Thành Tông Kinh (Đông Kinh)” 1490 thời Lê Hồng Đức, “Trung Đô Xuyên Sơn hình thắng chi đồ” năm Cảnh Hưng thứ 31 (1770) thời Lê Trung Hưng, và “Tỉnh thành Hà Nội” 1831 vẽ năm Minh Mạng thứ 12. Theo tấm thứ nhất, nhìn từ phía Nam, thành Đông Kinh (tức Thăng Long) có hình một lá cờ, cái cán lớn là cửa Bảo Khánh – vùng Giảng Võ, Ngọc Khánh ngày nay. Điều này khác với tấm thời Lý Trần – vẽ thành có 4 cửa Tương Phù, Diệu Đức, Đại Hưng, Quảng Phúc. Bản đồ này chỉ có 3 cửa Đông Môn, Nam Môn và Bảo Khánh. Vòng Hoàng Thành và Cấm Thành rất rõ. Phía Bắc có hai lớp Hoàng Thành, lớp thứ nhất bắt đầu từ quãng Cửa Đông, men theo sự uốn lượn của sông Tô như là hào nước thiên nhiên che chở. Lớp thứ hai cũng uốn lượn song song tạo giữa đê và thành một khoảng trống. Đến vùng Bưởi gặp sông Thiên Phù, vòng Hoàng Thành lại ngoặt về phía Nam theo sông Tô, đến Giảng Võ vuông góc với hướng Đông, rồi uốn cong ở đoạn phố Lê Trực nay, sau thẳng hướng Đông từ Trần Phú đến Hàng Da ngoặt lên phía Bắc, là hết vòng.

Bản đồ Hoàng thành Hà nội (Đồng Khánh dư địa chí).

Nhân sắp kỉ niệm 1000 năm Thăng Long, chúng tôi giới thiệu một số bản đồ và nhận định riêng. Có thể chúng còn khiếm khuyết, mong được trao đổi…

Sơ Bộ Về Bản Đồ Trong Mapinfo

Một bản đồ trong MapInfo bao gồm hai phần: phần bản đồ (hay phần đồ họa) và phần dữ liệu (hay thông tin).

1. Đồ họa của Mapinfo

Phần đồ họa của MapInfo là những vật thể được biểu hiện trên màn hình máy tính giống như bản đồ giấy nhưng có bản chất khác. Phần đồ họa được hiển thị trong cửa sổ bản đồ (Map Window). MapInfo sử dụng các khái niệm toán học để biểu diễn các chi tiết trên bản đồ. Có ba kiểu khái niệm toán học chính được sử dụng để xây dựng bản đồ trên MapInfo (hình 1):

Điểm: là một vật thể toán học không có kích thước, không có chiều dài, chỉ có tọa độ (trong một hệ trục tọa độ nào đó). Người ta sử dụng vật thể điểm để minh họa cho một thành phố, một trạm xăng, một trường học,…Điểm được tượng trưng bằng một chấm trong toán học. Trong MapInfo, tuỳ theo nội dung của điểm đó (minh họa cho cái gì) mà người ta có thể sử dụng một trong nhiều biểu tượng khác nhau để minh họa cho một điểm. Vì vậy điểm trong MapInfo được gọi là biểu tượng (symbol).

Đường: là một vật thể hình học không có chiều rộng nhưng có chiều dài. Đường trong MapInfo bao gồm các thành phần nhỏ được gọi là đoạn( segment). Giữa hai đoạn liền nhau là nốt (node). Các điểm nốt này cho phép ta chỉnh sửa các đường. Đường được sử dụng để minh họa cho một con sông, một đường giao thông,…

Vùng: là một vật thể có diện tích. Vùng cũng bao gồm các thành phần nhỏ là đoạn và các điểm nốt nhưng đoạn đầu tiên và đoạn cuối cùng gặp nhau nên tạo ra một đường khép kín và phần phía trong đường ranh giới đó có diện tích. Vùng có chu vi là đường giới hạn ranh giới của vùng đó. Vùng thực chất là một hình đa giác. Vùng được sử dụng để minh họa cho một quận, một tỉnh , một cái ao,…

Các thông tin đồ họa trên MapInfo được gọi là các vật thể (object).

Người làm bản đồ số cần phải biết cách vi tính hoá (hay số hoá) những thông tin địa lý từ bản đồ giấy vào bản đồ số sao cho đúng cách. Ví dụ như khi nói đến một cái ao có thể “nhìn” thấy (tức là thấy được bằng mắt thường trên bản đồ giấy hình dạng của cái ao, ở một tỷ lệ nào đó), thì ta số hoá nó thành một vùng, nhưng khi làm một bản đồ có tỷ lệ rất nhỏ thì ta không thể nhìn thấy hình dạng cái ao đó, thì cái ao đó nên được minh họa thành một điểm. Tương tự như vậy, một con đường trên một bản đồ tỷ lệ nhỏ thì được minh họa bằng kiểu đường nhưng đối với bản đồ có tỷ lệ rất lớn thì con đường đó sẽ có chiều rộng, lúc đó ta lại phải minh họa con đường đó bằng một vật thể kiểu vùng. Hoặc ví dụ như trên bản đồ nước Việt Nam, các thành phố được biểu thị bằng những cái chấm, tức là điểm nhưng khi xem xét một thành phố ở tỷ lệ lớn hơn nhiều thì thành phố đó lại là một vùng.

Phần đồ họa trong MapInfo được quản lý theo lớp( layer), có nghĩa là các thông tin địa lý được tổ chức theo từng nhóm, ví dụ như trên bản đồ một thành phố, ta có lớp đường xá, lớp quận, lớp địa danh, lớp sông suối,.. Nhờ khả năng này mà ta có thể hiển thị thông tin theo ý muốn. Khi muốn sử dụng những thông tin nào ta có thể mở những lớp thông tin đó ra. Cửa sổ bản đồ có thể chứa một hay nhiều lớp bản đồ đang được mở. Nếu các lớp bản đồ thuộc cùng một vị trí địa lý thì có thể hiển thị chồng lên nhau. Ta có thể hình dung mỗi lớp bản đồ như là một tờ giấy kính (transparency) có hình vẽ và bản đồ giống như nhiều tờ giấy kính chồng lên nhau để tạo ra một cái nhìn cuối cùng. Các lớp bản đồ được sắp xếp theo thứ tự trên dưới, có nghĩa là lớp ở dưới bị lớp ở trên che khuất những phần chung. Ngoài ra phía trên cùng các lớp bản đồ được mở luôn luôn có một lớp mặc định được gọi là lớp Cosmetic (Cosmetic Layer). Lớp này giống như một lớp nháp, ta có thể đánh dấu chỉnh sửa vào lớp này và thêm bớt các vật thể đồ họa vào nó nhưng không ảnh hưởng đến các lớp bản đồ khác ở dưới. Những vật thể được vẽ thêm vào lớp bản đồ này có thể được lưu vào những lớp bản đồ đang được mở hoặc được lưu thành một lớp bản đồ riêng. Lớp Cosmetic còn được sử dụng trong việc trình bày bản đồ khi in ấn, ví dụ như thêm các chi tiết để trình bày bản đồ. Các vật thể trong lớp này không có phần dữ liệu.

2. Dữ liệu trong Mapinfo

Ngoài phần vật thể đồ họa, bản đồ số trong MapInfo còn có dữ liệu được hiển thị trong một cửa sổ được gọi là cửa sổ Browser (cửa sổ dữ liệu). Dữ liệu trong MapInfo hiển thị trên một bảng và chúng được cấu trúc theo kiểu dữ liệu tương tự các kiểu dữ liệu khác như Excel, Access,… Ngoài ra MapInfo cũng có thể mở các dữ liệu khác. Ta có thể mở một tập tin Excel hay Access trong MapInfo và xử lý chúng như những bảng dữ liệu bình thường của MapInfo.

Mỗi cửa sổ dữ liệu có thể hiển thị thông tin của một lớp bản đồ hay một phần của một lớp bản đồ. Cửa sổ này bao gồm các ô giống như bảng tính Excel. Các ô được xếp theo chiều dọc được gọi là trường( field) hay cột( column). Mỗi cột hiển thị một loại thuộc tính của vật thể trên bản đồ số, ví dụ đối với bản đồ các tỉnh của Việt Nam chẳng hạn, ta có thể có các cột tên tỉnh, diện tích tỉnh, chu vi tỉnh, dân số,… Mỗi một cột có một định dạng khác nhau tuỳ theo nội dung chứa trong cột đó. Ta có thể thêm hay bớt trường cũng như thay đổi định dạng các trường. Tên trường không hiển thị tiếng Việt được nên khi tạo trường ta không được gõ dấu tiếng Việt vào tên trường. Trên cùng cửa sổ dữ liệu có tiêu đề cột (in đậm), tức tên trường. Các hàng trong cửa sổ dữ liệu được gọi là bản ghi(record). Bên trái mỗi hàng có một ô vuông.

Khi sử dụng công cụ chọn, ta có thể nhấp chuột lên ô vuông đó để chọn bản ghi đó. Khi được chọn, ô vuông biến thành màu đen. Mỗi một bản ghi liên kết với một vật thể đồ họa trên cửa sổ bản đồ, hay nói cách khác mỗi vật thể đồ họa trên cửa sổ bản đồ có thông tin nằm trên một hàng trong cửa sổ dữ liệu. Vật thể đồ họa và dữ liệu là hai thành phần thống nhất của một bản đồ số trong MapInfo.

Nếu mở cửa sổ đồ họa và cửa sổ dữ liệu của một lớp bản đồ cùng một lúc thì khi sử dụng công cụ chọn, ta có thể nhắp chuột lên chọn một vật thể đồ họa trên cửa sổ bản đồ. Khi một vật thể trên cửa sổ bản đồ được chọn thì bản ghi tương ứng trong cửa sổ dữ liệu cũng được chọn và ngược lại. Nếu ta quan niệm bản đồ số như là các lớp vật thể đồ họa thì cửa sổ dữ liệu là thông tin của vật thể trên bản đồ.

Nếu ta quan niệm bản đồ số như là một cơ sở dữ liệu thì các vật thể đồ họa trên một lớp bản đồ là một “cột”, được gọi là “cột vật thể” (object column hay obj column), vì cột đó không hiển thị được trong cửa sổ dữ liệu nên được hiển thị riêng trong cửa sổ bản đồ. Vì MapInfo quan niệm bản đồ số như một cơ sở dữ liệu với các vật thể trong cửa sổ bản đồ được coi là một “cột” nên một bản đồ cũng được gọi là một bảng( table). MapInfo sử dụng thuật ngữ này để chỉ cả dữ liệu lẫn đồ họa (“cột” vật thể) trong một bản đồ số. Một bảng của MapInfo có thể không có “cột” vật thể. Lúc đó chúng hoàn toàn giống như một cơ sở dữ liệu bình thường, kiểu dữ liệu của Excel hay Access. Cửa sổ dữ liệu có thể là dữ liệu nguyên thuỷ của MapInfo (native) hay dữ liệu của có các định dạng khác (như Excel, Access,..) nhưng được đăng ký vào MapInfo.

Từ phần này trở đi, ta sẽ dùng từ bảng để chỉ một bảng của MapInfo (có thể bao gồm cả phần dữ liệu lẫn phần đồ họa hay chỉ có phần dữ liệu), lớp (hay lớp bản đồ) để đề cập đến phần đồ họa của bảng MapInfo trong cửa sổ bản đồ (“cột” vật thể), bảng dữ liệu để chỉ đề cập đến phần dữ liệu của một bảng MapInfo.

Bài 2. Bản Đồ. Cách Vẽ Bản Đồ

KỸ NĂNG ĐỊA LÝCÁCH VẼ BIỂU ĐỒ ĐỊA LÍGiới thiệu– Vẽ biểu đồ chỉ sử dụng một màu mực (không được dùng viết đỏ và viết chì). – Xem kỹ đơn vị mà đề bài cho (đơn vị thực tế hay đơn vị %). – Nếu cần có thể chuyển đơn vị thích hợp, tính toán chính xác. – Vẽ biểu đồ sạch sẽ, theo thứ tự của đề bài. – Ký hiệu rõ ràng, ghi số liệu và chú thích đầy đủ. – Ghi tựa đề cho biểu đồ đã vẽ.PHẦN I: NHẬN BIẾT SỐ LIỆU ĐỂ XÁC ĐỊNH BIỂU ĐỒ CẦN VẼ

Cơ cấu, tỉ lệ %trong tổng số1 hoặc 2 mốc năm (nhiều thành phần) Biểu đồ TRÒN

3 mốc năm trở lên (ít thành phần)Biểu đồ MIỀN

 Biểu đồ Tròn : Mô tả cơ cấu các thành phần trong một tổng thể  Biểu đồ miền : Vừa Mô tả cơ cấu các thành phần trong một tổng thể; vừa mô tả động thái PT của hiện tượng

Tình hình phát triển Biểu đồ ĐƯỜNGBiểu đồ CỘT

Tốc độ tăng trưởng

 Mô tả động thái PT của hiện tượng. SS mối tương quan về độ lớn giữa các hiện tượng

PHẦN II: NHẬN XÉT BIỂU ĐỒ VÀ BẢNG SỐ LIỆUCơ cấuSo sánh từng thành phần ở mỗi mốc thời gian tăng hay giảm, thành phần này hơn hay kém thành phần kia bao nhiêu lần ở mỗi giai đoạn.

Tỉ lệ % trong tổng số

So sánh hai thành phần

-Tình hình phát triển qua các năm -Tốc độ tăng trưởng qua các nămNhận xét tăng hay giảm ở mỗi mốc thời gian (giai đoạn nào nhanh, nhanh nhất… giai đoạn nào giảm, giảm nhiều nhất …)

PHẦN III: CÁCH VẼ CÁC DẠNG BIỂU ĐỒI. Biểu đồ TRÒN: * Khi nào vẽ biểu đồ TRÒN?Khi đề bài yêu cầu vẽ biểu đồ TRÒN hay biểu đồ cần thể hiện cơ cấu, tỉ lệ (ít năm, nhiều thành phần). – Đề bài cho số liệu tuyệt đối, (thực tế) phải chuyển sang số liệu tương đối (%). – Vẽ theo chiều kim đồng hồ, theo thứ tự đề bài, lấy mốc chuẩn là kim đồng hồ chỉ số 12. – Trước khi vẽ ghi rõ 1% = 3,6o. – Số liệu ghi trong vòng tròn phải là số liệu %. – Cần chú ý độ lớn (bán kính của các vòng tròn cần vẽ).Ví : đồ trong phân theo khu kinh các 1990, 1999.Đơn vị: tỉ đồng NămTổng sốNông – Lâm – Ngư nghiêpCông nghiệp – Xây dựngDịch vụ

Cách chuyển đổi đơn vị từ số liệu thực tế sang số liệu %: Muốn tính % của số nào thì lấy số đó nhân cho 100 và chia cho tổng số: (%)** (%) Tương tự ta có bảng số liệu sau khi chuyển đổi đơn vị thực tế ra đơn vị %. NămNông – Lâm – Ngư nghiêpCông nghiệp – Xây dựngDịch vụ

II. Biểu đồ MIỀN: * Khi nào vẽ biểu đồ MIỀN?Khi đề bài yêu cầu vẽ biểu đồ MIỀN hay biểu đồ cần thể hiện cơ cấu tỉ lệ (nhiều năm, ít thành phần).– Đề bài cho số liệu tuyệt đối phải chuyển sang số liệu tương đối (tức đổi ra %).– Vẽ lần lượt từ dưới lên trên theo thứ tự của đề bài.– Lấy năm đầu tiên trên trục tung, phân chia khoảng cách năm theo tỉ lệ tương ứng.– Ghi số liệu vào đúng vị trí từng miền trong biểu đồ đã vẽ.Ví dụ: Vẽ biểu đồ thể hiện sự chuyển dịch cơ cấu tổng sản phẩm trong nước thời kỳ 1985 – 1998.Đơn vị: (%) NămNgành198519881990199219951998

Bạn đang xem bài viết Bộ Bản Đồ Hồng Đức Qua Tấm Bản Đồ Kinh Thành Thăng Long trên website Maiphuongus.net. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!