Xem Nhiều 8/2022 # Bàn Về Khẩu Hiệu “Tiên Học Lễ, Hậu Học Văn” # Top Trend | Maiphuongus.net

Xem Nhiều 8/2022 # Bàn Về Khẩu Hiệu “Tiên Học Lễ, Hậu Học Văn” # Top Trend

Xem 18,414

Cập nhật thông tin chi tiết về Bàn Về Khẩu Hiệu “Tiên Học Lễ, Hậu Học Văn” mới nhất ngày 13/08/2022 trên website Maiphuongus.net. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, bài viết này đã đạt được 18,414 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Vẽ Hình Lên Bánh Sinh Nhật Cực Đơn Giản Mà Ấn Tượng
  • Trung Tâm Dạy Nghề Bánh Nhất Hương
  • 5 Bước Sử Dụng Kem Chống Nắng Đúng Cách Bảo Vệ Da Hiệu Quả
  • Kem Chống Nắng Vaseline Daily Sun Cream Spf 50+
  • Kem Chống Nắng Nâng Tông Da Vaseline Tone
  • KHẨU HIỆU “TIÊN HỌC LỄ…” NÊN BỎ ?

    Bài của ĐỖ LÊ HUY trên VietNamNet 17/7/2012

    Gần đây có ý kiến nên bỏ khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn”. Chia sẻ của một phụ huynh U60 ngày con nhận lớp mới, 16/7.

    Lễ là gì?

    “Lễ” là lễ bái (vái lạy, kowtow), là lo lót (hãy soạn một cái lễ, lễ lạt,bribe), là tế lễ (dâng đồ cúng, worship), là lễ nghĩa, lễ giáo (rites), lễ nghi ceremony), là thủ tục (formality), là lễ hội (festival, holidays)…

    Bao giờ trẻ em lại được “tới trường trong muôn vàn tình yêu thương”?

    Chữ lễ đối với thế hệ “bao cấp” còn gợi lên “lễ giáo phong kiến” – đầy áp đặt, khắc nghiệt đến mất tình người, bất công với phụ nữ…

    Chúng tôi tiếp thu được rằng Lễ giáo là công cụ để thực thi đẳng cấp (tôn ti). Tôn ti ở đây không phải là trật tự xã hội văn minh dưới nhà nước pháp quyền, mà là thứ bậc trong gia đình, họ hàng, trong thôn làng… tương xứng với thời của ông Khổng tử.

    Chúng tôi tiếp thu được rằng Lễ giáo cũng là biểu hiện sự thần phục của con người trước các thế lực siêu nhiên, thể hiện ở các lễ hội cúng thần linh. Thời còn nhỏ, nhiều trong chúng tôi (và cha mẹ mình) xem hoạt động này là mê tín, và có phần lãng phí… Những cảm nhận này, tiếc thay, hôm nay càng mạnh lên.

    Từ khi “tiên học lễ”

    Có thể là trùng hợp ngẫu nhiên, nhưng từ khi xuất hiện khẩu hiệu này, thấy bắt đầu rộ lên chuyện thầy cô đánh, dùng nhục hình với trò (U60 không bị đánh và không nghĩ rằng có thể xảy ra chuyện thầy cô đánh mình). Có không việc“Tiên học lễ…” đã được dùng để biện minh cho hành động pham pháp là “đánh người” (đánh học trò, thường bị xử lý ở mức độ phạt hành chính là cùng). Tôi được biết câu “yêu cho roi cho vọt” chẳng hạn, đã được dùng để lý giải cho chuyện “đánh cháu”, và rất khó tiêu cho phụ huynh học sinh của thế kỷ 21.

    Một khẩu hiệu phải có những yêu cầu cảm quan của nó. Chẳng hạn, không ít phụ huynh U60 chúng tôi vẫn hậm hực với khẩu hiệu “nói không với tiêu cực…”, tại sao không thẳng thừng là “Tránh tiêu cực…”, “Đấu tranh với tiêu cực”. Cứ hoa lá cành như thế, để rồi có người chỉ “nói” không bằng mồm, tay vẫn “làm” tiêu cực…

    Có lần tôi hỏi một cô giáo trẻ về “Tiên học lễ”. Cách giải thích của cô làm lớp “lớn lên trong kháng chiến” hiểu “Tiên học lễ” như là… quỵ lụy, khúm núm. Cô lại còn chắp tay vào ngực, cúi khom người, làm mẫu cho “các con (?) học sinh” của mình – một tư thế “nô dịch” mà tôi không cho con cháu mình làm.

    Ở các nước phương Tây có khái niệm “lễ giáo” (ethical behaviour). Hiện trong các trường công như ở Mỹ chưa thấy có môn này, nhưng nó có thể được dạy bởi các giáo sĩ đạo Thiên chúa, đạo Phật, hay đạo Do thái tại các giáo đường. Nhưng trong trường học có các quy định gần với chữ “lễ” chẳng hạn: Quy chế xử trong trường (“The code of school behaviour), nói về quyền được học của học sinh, quyền được dạy của giáo viên, quyền của học sinh và giáo viên được an toàn trong không gian trường… Một khẩu hiệu về chủ điểm này là “cư xử tốt hơn sẽ học tốt hơn” (better behaviour better learning), nghe không được oai hùng mấy, nhưng cũng giống về nội dung, và đỡ áp đặt, đỡ “già”, đỡ mông lung, đỡ… mặc cảm hơn là khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn”…

    Tiên DẠY Lễ?

    Trường đâu chỉ là nơi tiếp thu kiến thức, mà còn là môi trường xã hội đòi hỏi các nguyên tắc xử thế lành mạnh, đúng mực, đoàn kết. Trẻ em có thể gặp khó khăn khi mới nhập vào môi trường này. Các nhà tâm lý trên toàn thế giới đều khuyên các bậc phụ huynh, thầy cô giáo chú ý xây dựng hành xử trong những ngày đầu đến trường của các em, kẻo một tình huống ngẫu nhiên có thể ảnh hưởng đến quan niệm về trường lớp của trẻ suốt đời.

    “Học lễ” như U60 được ông bà dạy lúc nhỏ, chỉ là học cách cư xử khoan hoà (tolerance) trong môi trường nhiều cá thể. Với nghĩa đó, tinh thần của “Tiên học lễ…” không nên đợi đến cuối tiểu học mới treo thành khẩu hiệu, mà cần được NGƯỜI LỚN chú trọng dạy ngay từ giai đoạn “cháu lên ba, cháu đi mẫu giáo”.

    Lê Đỗ Huy

    BÓNG “KHỔNG TỬ” VẪN ÁM ẢNH GIÁO DỤC

    Bài của LÊ ĐỖ HUY trên VietNamNet 18/7/2012

    TIN BÀI LIÊN QUAN:

    Khẩu hiệu ‘Tiên học lễ…’ nên bỏ?

    Trong một bài viết của AP đề cập sự kiện “đạp đổ cổng trường thực nghiệm” có câu: “Ở đất nước chịu ảnh hưởng Khổng giáo này cái sự học là nỗi ám ảnh toàn dân (In this Confucian nation where education is a national obsession…)”. Bài được dịch đăng tải trên nhiều báo Việt, với một số đoạn lược dịch.

    Học giả quốc tế đều không giấu sự hoài nghi cả về sự tồn tại của ông Khổng Tử, cũng như không loại trừ rằng nhiều cánh nhánh đã được cài cắm thêm vào cây đại thụ tư tưởng của ông thánh không thành đạt lúc sinh thời này.

    Trò phải an phận bình đựng kiến thức “đã chín kỹ”

    Một cỡ giầy cho mọi cỡ chân

    Học giả hiện đại Đông Âu nghiên cứu về Khổng giáo nhằm giải thích vì sao hệ tư tưởng này lại có ảnh hưởng mạnh đến thế ở Trung Quốc cả ngày nay, và gần đây lại được rót vào bình mới, thành học thuyết “xã hội hài hoà” cho Trung Quốc đầu thiên niên kỷ mới, để điều chỉnh những va đập lợi ích…

    Theo học giả Đông Âu, hệ lụy của tư tưởng Khổng giáo đối với giáo dục là sự đúc sẵn cho từng thân phận trong xã hội một thứ khuôn phép, dẫu là trò trong quan hệ với thầy, con trong quan hệ đối với cha, thần dân trong quan hệ với kẻ cai trị, hay cấp dưới với cấp trên…

    “Một trong những cơ sở trật tự xã hội, theo Khổng giáo – là sự phục tùng tuyệt đối người trên. Phải tuân thủ ý chí, lời dặn, nguyện vọng của người trên một cách mù quáng, đó là đòi hỏi thông thường kẻ dưới – người trên; của thuộc cấp với thượng cấp, của mỗi thần dân trong phạm vi vương quốc, của từng người trong phạm vi họ tộc, gia đình. Khổng Tử cho rằng quốc gia, nhà nước là một thứ gia đình lớn”, với vua là “con trời”, quan là “cha mẹ dân”… Ông cho gia đình là (vương) quốc nhỏ…”- nơi quá khứ quan trọng hơn tương lai, quyết định hiện tại và tương lai.

    Cho rằng người dân thường (thời cổ đại) chủ yếu là vô học, thậm chí không hiểu được là mình cần gì, Khổng Tử viết: “Cần phải bắt nhân dân đi theo con đưởng họ phải đi, mà không cần giải thích cho họ làm thế để làm gì” .

    Sự nhấn mạnh các giá trị của gia đình, họ mạc dẫn tới xu thế càng đẻ nhiều càng vui, và xu hướng họ hàng nâng đỡ, nhờ cậy lẫn nhau…

    Về tâm lý trẻ em dưới ảnh hưởng đạo Khổng/Nho giáo, các tác giả Đông Âu viết: “Đi chệch ra khỏi các khuôn đúc sẵn là không được phép. Không chấp nhận một ngoại lệ, một chơi trội, một bản sắc riêng, một xuất chúng về đầu óc; không một lý thuyết nào được tỏ ra cao siêu hơn (đạo Khổng) có quyền tồn tại trong nền văn minh Khổng giáo. Các quy chế về sùng bái người đi trước là vô cùng khe khắt, và một cách giáo dục như thế trấn áp mọi thiên hướng cá nhân ngay từ khi còn nhỏ tuổi.

    Ngay từ tấm bé, mỗi cá thể phải làm cho mình quen đi với các thang giá trị , rằng cá tính, nội tâm, “cái tôi” chẳng là gì với khuôn phép dùng chung, đã được thiết kế hợp lý (từ thời cổ đại), và là bắt buộc cho tất cả”.

    Vòng luẩn quẩn

    Nhiều tác giả Tây Âu khảo sát quan hệ họ hàng trong văn minh Khổng/Nho giáo, mối quan hệ của tư tưởng đạo Khổng với tệ nepotism (thói đời của một số người có quyền lực hoặc có ảnh hưởng, tìm mọi cách ưu đãi bà con thân thuộc của mình, nhất là cho họ công ăn việc làm…), cũng là một hình thức tham nhũng về chính trị.

    Một số tác giả phương Tây cho rằng đạo Khổng, dù không ra mặt, đã hỗ trợ tham nhũng, vì lẩn tránh các giá trị của pháp luật (pháp trị). Hệ thống thi cử của phong kiến châu Á cho phép cả những ai giỏi học vẹt (“thuộc làu kinh sử”) qua được các kỳ thi để trở thành quan chức, rồi “cả họ được nhờ”, cả về danh lẫn lợi. Nhưng khoa cử là con đường tiến thân duy nhất, khiến có những sĩ tử suốt đời lọ mọ đi thi.

    “Lều chõng” còn là thứ đòn bẩy cho tham nhũng. Vì một chế độ tuyển chọn nhân tài kiểu “học gạo” với những kiến thức phô trương, bay bướm, chỉ cốt sao không phạm huý; một cách phân bố nhân sự kiểu “nepotism” (cổ cánh) làm cho dẫn đến một quan trường kém tài và nhũng nhiễu, như người Pháp tổng kết. Kết quả là kinh tế phát triển kém, lương công chức thấp, kết quả là công chức, trong cái vòng luẩn quẩn ấy, lại càng ngập sâu vào tham nhũng và o bế họ hàng, kéo bè kết cánh …

    Di căn qua chữ “lễ”

    Tư tưởng Khổng giáo nguyên nhân chính đã làm cho Trung Quốc không phát triển được suốt 2000 năm, vì Khổng giáo (Nho giáo), là trụ cột cho chế độ phong kiến (chuyên chế gia đình trị, bóc lột, tham nhũng). Khổng tử còn đề xướng “lễ trị”để củng cố tôn ti trật tự phong kiến, cho dù gốc của lễ nghĩa phải là sự tự giác, các quy tắc lễ nghĩa là những giá trị tinh thần, không thể là một “bộ luật” bắt buộc.

    Chữ “lễ” trong Khổng giáo nhấn mạnh quá mức các quan hệ họ hàng, thân tộc, tính cục bộ địa phương, áp đặt sự phục tùng các tầng trên trong đại gia đình đa thế hệ, trong các phường hội đồng hương. Ưu tiên dòng dõi, di sản chính trị (“con vua lại làm vua”), không trọng tài đức, đóng góp của “người dưng”. …

    Từ “phú quý sinh lễ nghĩa” củng cố hình thái “gia đình trị” trong quản trị, ra mặt hoặc ngấm ngầm. Lễ nghĩa họ hàng, đồng hương biện minh cho các vận động, giật dây, đưa những người cùng huyết thống, cùng quê, lên các cương vị lẽ ra phải được khách quan lựa chọn để dành cho những người có tài đức, công tâm. Nhấn mạnh tuổi tác, quá khứ, thâm niên, dẫn đến nếu có tài đức bằng nhau thì người già lại được chọn. Kết quả của thứ “lễ giáo” này là một thứ “vườn ươm” tham nhũng, cơ hội, bè cánh, bao che, thủ cựu…

    Áp đặt tư duy từ trên xuống, tuyển chọn viên chức thuần tuý qua sát hạch lý thuyết suông, ngấm ngầm “nhất bên trọng” về lợi ích cục bộ của huyết thống và sinh quán, đặt riêng tư trên luật pháp… là nguyên nhân gây tê liệt chức năng nền giáo dục, nền kinh tế – là gốc rễ truyền nhiễm tham nhũng từ đời này sang đời khác ở các nước từng chịu ảnh hưởng của đạo Khổng.

    • Lê Đỗ Huy

    “TIÊN HỌC LỄ…” KHÔNG CÒN HỢP THỜI ?

    Bài của THANH PHONG trên VietNamNet 20/7/2012

     Một thời giáo dục lấy tư tưởng Nho giáo làm chủ đạo đã đi qua từ rất lâu, nhiều quan điểm về giáo dục của Nho giáo vẫn còn giữ nguyên giá trị, thế nhưng cũng có những quan điểm cần phải đánh giá lại một cách toàn diện hơn trong bối cảnh mới. Khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” là một trong số đó.

    TIN BÀI LIÊN QUAN:

    Khẩu hiệu ‘Tiên học lễ…’ nên bỏ?

    Độc giả tranh luận ‘lễ’ với Lê Đỗ Huy

    Bóng ‘Khổng Tử’ vẫn ám ảnh giáo dục

    “Lễ” và “văn” là hai phạm trù quan trọng trong học thuyết về giáo dục của Nho giáo, mà tiêu biểu là quan niệm của Khổng Tử. Khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” được treo ở hầu hết các trường tiểu học và trung học trên cả nước hiện nay, vốn dĩ được rút gọn từ một câu nói của Khổng Tử.

    Ảnh có tính chất minh họa

    Chính lễ góp phần tạo nên kỉ cương

    Đầu tiên cần phải khẳng định rằng, khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” là do người Việt Nam đúc kết nên trên nền tảng tư tưởng Nho giáo. Tương đồng với quan điểm trước tiên cần chú trọng giáo dục đạo đức phẩm chất, sau đó mới chú trọng giáo dục tri thức tự nhiên và xã hội, ở Trung Quốc, người ta thường dùng các mệnh đề “Tiên tác nhân, hậu tác sự” (Trước tiên phải học làm người, sau đó mới học làm việc) hay “Bất học lễ, vô dĩ lập” (Không học lễ, không làm nên gì cả)…

    Thiên Học nhi trong Luận ngữ có dẫn lại lời của Khổng Tử bàn về vấn đề học “văn” và học “lễ”: “Đệ tử, nhập tắc hiếu, xuất tắc đễ, cẩn nhi tín, phiếm ái chúng, nhi thân nhân. Hành hữu dư lực, tắc dĩ học văn” (Các học trò, ở nhà phải hiếu thuận với cha mẹ, ra ngoài phải kính trọng bậc sư trưởng, cẩn thận mà giữ gìn uy tín, yêu quý mọi người, thân cận với người nhân đức.

    Làm được những việc trên, nếu còn dư sức, thì hãy học tập tri thức văn hóa). “Hiếu”, “đễ”, “tín”, “ái”, “nhân” được nhắc đến ở đây là đại diện cho những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của con người. Rõ ràng, theo quan niệm của Khổng Tử, đạo đức là nền tảng để làm người, mọi tri thức học vấn phải được xây dựng trên nền tảng của đạo đức. Từ quan điểm đó, người Việt ta mới đúc kết nên kinh nghiệm “Tiên học lễ, hậu học văn”.

    Cần phải thấy rằng, quan niệm về “lễ” của Nho giáo giai đoạn đầu hoàn toàn mang ý nghĩa tích cực. Thiên Nhan Uyên trong Luận ngữ có thuật lại cuộc trò chuyện giữa Khổng Tử và Nhan Uyên về “lễ”: “Khắc kỷ phục lễ vi nhân. Nhất nhật khắc kỷ phục lễ, thiên hạ qui nhân yên… Phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn, phi lễ vật động” (Biết khắc chế bản thân phù hợp với điều lễ mới là người nhân. Một khi lời nói và việc làm đều phù hợp với điều lễ, khắp thiên hạ sẽ trở nên nhân đức… Việc trái với lễ chớ xem, không hợp với lễ chớ nghe, không đúng với lễ chớ nói, không phù hợp lễ chớ làm).

    Thực hiện “lễ” ắt phải gắn liền với “khắc kỉ”, nghĩa là phải biết ước chế những dục vọng của mình, phải nhận thức được vị trí, tư cách của mình để không vượt ra ngoài khuôn khổ đạo lý. Cũng giống như mọi người ai cũng thích ăn miếng ngon, nhưng khi ngồi cùng mâm cơm với ông bà cha mẹ hay em út, người đó không thể ăn uống tự do tùy thích, nhận thức về “lễ” sẽ giúp họ biết ăn thế nào cho phải phép.

    “Lễ” không phải đặt ra để áp dụng cho riêng một đối tượng nào, mà cho tất cả mọi người với đủ mọi mối quan hệ khác nhau trong xã hội. Ngay cả người tột đỉnh uy quyền như nhà vua cũng phải chịu sự ước chế của lễ. Nhà vua phải biết khuất mình cúi đầu trước trời đất, phải biết phục tùng mệnh lệnh của trời đất và muôn dân vì “ý dân là ý trời”. Chính lễ góp phần tạo nên kỉ cương trật tự và sự ổn định cho xã hội thời phong kiến.

    Không có việc học xong “lễ” rồi mới học “văn

    Có thể thấy, Nho giáo cực kì đề cao việc tu dưỡng phẩm chất đạo đức, yêu cầu trường học phải đặt giáo dục đạo đức lên vị trí hàng đầu, mà trong đó, “lễ” là quy phạm đạo đức cơ bản. Có học “lễ”, học trò mới biết hiếu kính ông bà cha mẹ, tôn trọng người lớn tuổi, biết quý trọng thầy cô và xem trọng tình thầy trò. Đó là nền tảng đạo đức làm người mà theo quan niệm của người xưa, học trò cần phải có được trước khi bước vào học tập tri thức văn hóa. Còn “văn” ở đây chính là văn tự, là tri thức văn hóa trong sách vở thánh hiền, giúp cho người học mở rộng những hiểu biết về môi trường tự nhiên và xã hội mà cha ông đi trước đúc kết được.

    Không thể phủ nhận rằng Nho giáo đặt giáo dục đạo đức lên cao hơn một bậc so với giáo dục tri thức, nhưng từ nội hàm hai khái niệm “lễ” và “văn” mà nói, thì Nho giáo không chủ trương học cái nào trước cái nào sau. Về mối quan hệ giữa “văn” và “lễ”, Khổng Tử trong thiên Nhan Uyên của Luận ngữ có nói: “Bác học ư văn, ước chi dĩ lễ, diệc khả dĩ phất bạn hĩ phu” (Trước học sâu rộng về văn hóa sách vở, sau dùng lễ ước thúc hành vi của mình, nhờ vậy không trái với chánh đạo).

    Thiên Thái Bá của Luận ngữ cũng có dẫn lời dạy của Khổng Tử: “Hưng ư thi, lập ư lễ, thành ư nhạc” (Người ta tu dưỡng đạo đức bắt đầu từ học Kinh thi, nên người ở chỗ học lễ, hoàn thành ở chỗ học nhạc). Để làm rõ hơn ý đó, Khổng Tử cũng nói thêm trong thiên Quý Thị: “Bất học thi, vô dĩ ngôn; bất học lễ, vô dĩ lập” (Không học Kinh thi thì không biết dùng từ thế nào, không học lễ thì không nên người được). Những ví dụ trên cho thấy rằng, Khổng Tử không hề chủ trương phải học “lễ” trước khi học “văn”.

    Thực ra, về mặt nội hàm ý nghĩa, giữa “lễ” và “văn” không có sự tách biệt học trước hay học sau một cách rạch ròi. Trong “lễ” có “văn” và trong “văn” có “lễ”, nghĩa là trong khi học “lễ” ta học được “văn” và trong lúc học “văn” thì ta cũng học luôn được “lễ”. Hơn nữa, “lễ” là cái phải được học tập và rèn luyện trong một thời gian dài, thậm chí là suốt cả cuộc đời, không có việc học xong “lễ” rồi mới chuyển sang học “văn” mà hai cái này trong quá trình học tập song hành sẽ tác động và bổ sung cho nhau.

    Nếu được chọn khẩu hiệu…

    Cùng với diễn biến và thay đổi của cuộc sống, nội hàm ý nghĩa của chữ “lễ” được mở rộng ra và mang cả những ý nghĩa tiêu cực. Trong bối cảnh con người sống ngày càng thực dụng hơn thì không ít người lợi dụng “lễ” để mưu cầu những lợi ích vật chất cho cá nhân mình, ý nghĩa thiêng liêng vốn có của nó vì vậy ít được chú ý. Trong trường học cũng vậy, không ai là không hiểu ý nghĩa của khẩu hiệu này, thế nhưng việc thực hành nó đến đâu lại là một chuyện khác.

    “Tiên học lễ, hậu học văn” vì vậy bị người ta cố tình hiểu méo mó đi hoặc chỉ để treo cho có, chứ ít ai muốn thật lòng làm theo. Những biểu hiện tiêu cực đó không thể đổ hết trách nhiệm cho nền giáo dục Nho giáo, càng không thể quy kết trách nhiệm cho học thuyết về “lễ” mà Khổng Tử khởi xướng. Cái xấu nảy sinh trong xã hội ngày nay, thì tất yếu, trách nhiệm trước tiên và lớn nhất phải thuộc về con người trong xã hội ngày nay.

    Khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” gắn liền với một thời kì giáo dục lấy tư tưởng Nho giáo làm nền tảng cơ bản và thời kì đó đã đi qua. Khẩu hiệu này rõ ràng không sai, vẫn còn nguyên vẹn ý nghĩa đối với sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ ở một nước phương Đông chịu ảnh hưởng tư tưởng Nho giáo như Việt Nam. Thế nhưng đặt trong bối cảnh hiện nay, khẩu hiệu này có vẻ sáo mòn và không phù hợp lắm với hoàn cảnh giáo dục mang tính toàn cầu hóa.

    Nếu được quyền chọn một khẩu hiệu nào đó thể hiện triết lý giáo dục hiện đại, cổ vũ tinh thần dạy học của thầy trò ở trường tiểu học và trung học, tôi xin được chọn câu nói khẳng định mục đích học tập của UNESCO: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”.

    • Thanh Phong (Khoa Sư Phạm, Trường ĐH An Giang)

    ‘TRƯỚC HỌC LỄ, SAU HỌC VĂN’

    Bài của MAI TRỌNG NHÂN trên VietNamNet 21/7/2012

     “Học thuyết nào cũng có hạn chế lịch sử của nó, con người phải biết nắm bắt tinh hoa của nó mà vận dụng cho tốt mà thôi…” – bạn đọc Mai Trọng Nhân nêu quan điểm.

    TIN BÀI LIÊN QUAN:

    Khẩu hiệu ‘Tiên học lễ…’ nên bỏ?

    ‘Tiên học lễ…” không còn hợp thời?

    Bóng ‘Khổng Tử’ vẫn ám ảnh giáo dục

    Độc giả tranh luận ‘lễ’ với Lê Đỗ Huy

    Bác Hồ nói: “Vì lợi ích mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm phải trồng người”, nghĩa là phải trau dồi đạo làm người. Đạo làm người được Nho giáo tóm tắt trong tám chữ:

    1. CÁCH VẬT: Hiểu lý lẽ sự vật (tri lý)

    2. TRÍ TRI: Trí óc được thông suốt

    3. THÀNH Ý: Ý nghĩ chân thành

    4. CHÍNH TÂM: Tấm lòng ngay thẳng

    5. TU THÂN: Sửa mình

    6. GIA TỀ: Yên nhà

    7. QUỐC TRỊ: Nước thịnh

    8. THIÊN HẠ BÌNH: Dân an

    Tám chữ đó xuyên suốt cả quá trình học tập, rèn luyện tu dưỡng để nhằm tới mục đích “yên nhà, nước thịnh dân an”. Từ bậc thiên tử cho tới thứ dân, ai ai cũng lấy sửa mình (tu thân) làm gốc. Năm điều thường có trong việc tu dưỡng là:

    Nhân: Lòng yêu thương đối với con người

    Nghĩa: Cư xử công bình theo lẽ phải.

    Lễ: Sự tôn trọng, hòa nhã trong cư xử với mọi người.

    Trí: Sự thông biết lý lẽ, phân biệt thiện ác, đúng sai.

    Tín: Giữ đúng lời, đáng tin cậy.

    Trong đó Lễ là trung tâm, là điều kiện để một con người thành đạt được xã hội đón nhận và trở nên người hữu dụng. Muốn có Lễ phải có Nhân, Nghĩa), Trí, Tín. Người xưa nói việc muốn thành phải có “Thiên thời, địa lợi, nhân hòa”, lễ chính là nhân hòa vậy.

    Cho nên dù cho xã hội có đổi thay, thì câu khẩu hiệu “Tiên học Lễ, hậu học Văn” luôn luôn đúng và ngành giáo dục không nên bỏ đi. Nên chăng Việt hóa như tiêu đề của bài này? cũng không nên đặt câu khác của một người vô danh.

    Học thuyết nào cũng có hạn chế lịch sử của nó, con người phải biết nắm bắt tinh hoa của nó mà vận dụng cho tốt mà thôi.

    Đối với Khổng Tử, một nhà giáo dục đã khái quát hóa 8 điều cơ bản trong đạo làm người, chúng ta cần có quan điểm lịch sử, khách quan và biện chứng để đánh giá.

    Theo tôi, thuyết Khổng Tử đóng vai trò phản biện xã hội, đã chống tham nhũng và cường quyền, vì thế ông bị bài xích. Chỉ riêng bàn về “Quân tử và tiểu nhân”, “Chính danh định phận”, ông đã làm cho giới tham nhũng và kẻ cơ hội lộng quyền ngán ông rồi.

    Ngày nay, trên danh nghĩa Nhà nước, chúng ta không theo Nho giáo, vậy thì những cái gì xấu xa của xã hội cũng không nên đổ lỗi cho Nho giáo. Văn Miếu – Quốc Tử Giám với 700 năm hoạt động đã đào tạo hàng nghìn nhân tài cho đất nước. Các bậc hiền nhân Nho học xưa ra làm quan rất đúng đạo: trung với nước, hiếu với dân, chăm dân như cha mẹ lo cho con và ít tham nhũng – chẳng nhẽ họ đã học những điều toàn sai trái hay sao?

    Cần phải thấy đất nước đã trải qua những triều đại thịnh trị và hào hùng oanh liệt để thấy các tiền nhân đã được đào tạo có phẩm chất tốt. Trong đa số dân chúng, đặc biệt các gia đình và gia tộc đều đều coi trọng và gìn giữ những tinh hoa Nho giáo để giáo dục đạo làm người và duy trì sự ổn định trật tự trong gia đình và ngoài xã hội.

    Nếu mục đích của Nho giáo là dạy đạo làm người và góp phần ổn định xã hội thì nó đã đạt được kết quả rất sớm rồi. Cùng thời với đạo Thiên chúa và đạo Phật thì đạo Nho là đạo tiến bộ, nó khẳng định khả năng làm chủ xã hội của con người, nhập thế cuộc gánh vác việc đời, làm ích nước lợi dân, khác hẳn với đạo Phật và đạo Công giáo chỉ dạy con người cam phận lánh đời.

    • Độc giả Mai Trọng Nhân

    TỪ “TIÊN HỌC LỄ…” BÀN VỀ MỘT SỰ THẬT ?

    Bài của NHẬT LINH trên VietNamNet 23/7/2012

    Tranh luận về khẩu hiệu “Tiên học lễ…” đang nổi lên hai xu hướng: Bỏ hay không bỏ? Nếu bỏ chữ “lễ” và trọng chữ “văn” liệu có nên chăng? Nếu giữ nguyên cũng cần suy ngẫm cho hay, cho đúng, cho sâu về câu nói này để nó phát huy đúng những giá trị vẫn còn đang tiềm tàng. Còn nếu bỏ thì liệu sẽ có ngày “Trước bỏ lễ, hậu bỏ văn”?

    TIN BÀI LIÊN QUAN:

    Lời đáp lại phản hồi độc giả quanh chữ “Lễ”

    ‘Trước học lễ, sau học văn’

    ‘Tiên học lễ…” không còn hợp thời?

    Độc giả tranh luận ‘lễ’ với Lê Đỗ Huy

    Khẩu hiệu ‘Tiên học lễ…’ nên bỏ?

    Không thể học xong “lễ” mới học “văn”

    Ý kiến tham gia diễn đàn dường như đang quá câu nệ chữ nghĩa, lao vào bênh vực hay phản biện một câu nói như muôn vàn những câu nói khác mà quên đi nhiều vấn đề đáng quan tâm hơn rất nhiều.

    Ảnh có tính chất minh họa

    Chúng ta có phải đang soi xét quá chữ “ lễ” và chữ “văn” trong câu nói “Tiên học lễ, hậu học văn”? Theo tôi, có trước ắt phải có sau. Có “tiên” ắt sẽ có “hậu”. Và một con người chân chính ắt sẽ phải hội tụ cả “lễ” và “văn”. Như vậy, muốn là một người chân chính, ắt sẽ phải trau dồi cả lễ nghĩa và văn hóa.

    Vậy thì chữ “tiên” và “hậu” muốn nhắc nhở ta điều gì? Đó là muốn con người ta sống tôn trọng, hòa nhã trong cư xử với mọi người, sống biết mình biết người. Sống hướng thiện và xa ác. Đó là điều quan trọng nhất để con người ta tồn tại trong xã hội từ ngàn đời nay.

    Muốn “có danh gì với núi sông”- con người ta sẽ cố trau dồi thêm chữ “văn”. Đây là quá trình hoàn thiện bản thân. Tự khắc khi học chữ “lễ”, chữ “văn” sẽ vận vào mình và ngược lại. Đây là mối quan hệ qua lại và không tách biệt. Không thể học xong chữ “lễ” mới học chữ “văn”.

    Từ “Tiên học lễ, hậu học văn”, bàn về một sự thật đáng lo của một nền giáo dục dân chủ…Vấn đề đáng lo ngại hiện nay đó là sức hút đầy ma lực của đồng tiền và danh vọng. Tiền tri phối quá nhiều suy nghĩ và hành động của mọi người trong cuộc sống. Danh vọng càng làm lu mờ lí trí của con người…

    Hệ quả?

    Tại sao các bạn học sinh hiện nay xa rời với ban khoa học xã hội? Một câu hỏi đang chờ một lời giải đáp.

    Theo thống kê của Bộ GD-ĐT về hồ sơ đăng ký dự thi ĐH, CĐ năm có trên 1,8 triệu nhưng, lượng hồ sơ dự thi khối C chỉ chiếm tỷ lệ 6,2% (trên 84.000 hồ sơ đăng ký). Năm 2011, tỷ lệ hồ sơ thi khối C chỉ chiếm 6,0%. Ở nhiều trường THPT số lượng hồ sơ đăng ký dự thi ĐH, CĐ khối C chỉ đếm trên đầu ngón tay – đây là con số đáng suy ngẫm.

    Những nhà giáo dục học lí giải hiện trạng trên một phần là do vốn kiến thức xã hội hạn hẹp cho nên học sinh không đủ tự tin theo học những ngành xã hội. Điều đó là đúng bởi ngày nay khi đang sống trong guồng quay hối hả của cuộc sống, khi nền văn minh công nghệ cao ngày càng phát triển, đã khiến con người ta sống gấp gáp hơn, đã thiếu đi những khoảng lặng, những phút nhìn lại mình. Nhưng nguyên nhân quan trọng có tác động trực tiếp đến các bạn học sinh khi quay đầu lại với khối C. Khối C có quá ít trường và ngành để lựa chọn. Và sau khi học xong cũng có quá ít chỗ xin việc và tiền lại càng ít.

    Ta dễ dàng nhận thấy, Ban xã hội là một nửa nền văn hóa bên cạnh Ban tự nhiên. Vậy mà chỉ có hơn 6% thí sinh đăng kí dự thi vào những ngành xã hội. Một con số biết nói va đang rung lên những hồi chuông báo động.

    Giải pháp

    Trước mắt, cần xây dựng những giải pháp lâu dài. Đó là nâng cao nhận thức về những môn khoa học xã hội. Trang bị cho học sinh vốn hiểu biết sâu sắc về cuộc sống. Cần đổi mới trong phương pháp giảng dạy, tránh cách học nhàm chán, gây mất hứng thú. Nên tổ chức giao lưu, học nhóm và trao đổi trong các bài học, tránh tình trạng thầy đọc trò chép.

    Nhà nước cần có chính sách khuyến khích hợp lí đối với những sinh viên tốt nghiệp những ngành xã hội. Những công ty nhà nước cần mở rộng cửa tuyển cho sinh viên tốt nghiệp. Những học sinh học khối C cũng cần được ưu tiên hơn như giảm học phí, cho vay vốn…

    Song song, nên có chiến lược xây dựng môi trường giáo dục ĐH, CĐ đồng đều hơn giữa các khối. Học sinh không lựa chon theo học khối C một nguyên nhân không thể phủ nhận, đó là thiếu trường, thiếu ngành. Vậy thì nên đầu tư hơn vào những trường tuyển sinh khối C để học sinh có thêm những sự lựa chọn…

    Giải pháp khác là nên hạ mức điểm chuẩn của các ngành khối C xuống một chút nhằm thu hút học sinh. Một phần học sinh “sợ” khối C là do điểm chuẩn khối C có phần hơi cao. Những ngành như Luật, Báo chí… vẫn nằm ngoài tầm với của nhiều bạn có mong ước theo học.

    Cuối cùng, nên đổi mới hơn trong hướng ra đề. Nên nghiêng về việc ra đề mở và học sinh có thể suy luận và làm được, tránh những câu hỏi đánh đố. Phần đáp án cũng cần linh hoạt hơn, tránh tình trạng cứ phải áp nguyên đáp án và cho điểm, học sinh không phải là cái máy nên khó lòng làm theo y nguyên đáp án.

    Và, ngày đó sẽ không xa…

    • Bạn đọc Nhật Linh (Yên Bái) 

    VỀ KHẨU HIỆU “TIÊN HỌC LỄ HẬU HỌC VĂN”

    Bài của LẠI NGUYÊN ÂN trên Viet-Studies 24/07/2012 

    Thế hệ tôi, sinh trưởng ở miền Bắc, đi học trường phổ thông 10 năm (từ lớp 1 đến lớp 10) vào những năm 1954-1964, thì khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” hầu như không để lại ký ức gì. Là vì ở miền Bắc thời đó, những gì được xem như gắn với “tư tưởng phong kiến” đều bị coi là lạc hậu, cần tránh xa, cần chống lại; mà “tiên học lễ hậu học văn” thì rõ ràng là tư tưởng Nho giáo, là thuộc hệ tư tưởng phong kiến rồi! Cho nên dễ hiểu là không hề thấy khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” xuất hiện trong khuôn viên bất cứ ngôi trường nào trên miền Bắc thời gian ấy; cũng hầu như không có giáo viên hay cán bộ nào trong ngành giáo dục thời ấy dám nói đến khẩu hiệu đó trước các đám đông. Tôi cũng chưa đọc thấy trong hồi ức những người lớn lên và đi học tiểu học, trung học ở miền Nam vào quãng thời gian ấy nói rằng khẩu hiệu kể trên có ghi đâu đó trong khuôn viên các ngôi trường.

    Tất nhiên, đừng nghĩ rằng vì khẩu hiệu đó không “hiển thị” trong cộng đồng thì tư tưởng ngụ trong khẩu hiệu ấy không chi phối tâm thức người dạy, người học, và nói chung, tâm thức cộng đồng thời ấy.

    Nhưng cần ghi nhận sự thực vừa kể về sự không hiện diện khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” trong khuôn viên trường học. Và đến sau tháng 4/1975, tình hình vừa nêu lại cũng phổ cập vào nhà trường từ vĩ tuyến 17 trở vào đến chót mũi Cà Mau.

    Thế thì khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” đã “sống lại” trong ngành giáo dục Việt Nam từ bao giờ? Nó được thể hiện như ta thấy hiện nay trên rất nhiều (rất nhiều chứ không phải toàn bộ) khuôn viên các ngôi trường từ Bắc chí Nam là từ khi nào? Do ai? Do chủ trương của ngành giáo dục hay do “sáng kiến” tự động, tự phát của các trường?

    Theo sự ghi nhận – như một dữ liệu nghiên cứu – của tác gia Trần Đình Hượu (1927-1995) thì vào năm 1973, nhà giáo Nguyễn Lân (1906-2003) viết bài “Có nên vận dụng phương châm “tiên học lễ hậu học văn” trong việc giáo dục thế hệ trẻ của ta ngày nay không?” (đăng tạp chí “Văn hóa nghệ thuật” ở Hà Nội, số 31, tháng 7/1973) mà động cơ viết bài này, theo lời của chính tác giả Nguyễn Lân, là do thực tế “một số trẻ em không ngoan, trong nhà thì bướng bỉnh với cha mẹ, ra đường thì hỗn láo với mọi người, đến trường thì xấc xược với thầy giáo” (trích bài báo đã dẫn). Ngay sau khi bài báo này xuất hiện, trên báo “Tiền phong” của T.Ư. Đoàn (số 2351, ra ngày 16/8/1973) có bài báo dài của tác giả Thanh Bình nhan đề “Quét sạch những tàn dư tệ hại của Khổng giáo”, với những kết luận chém đinh chặt sắt: “… chúng ta không thể dung hòa được với Khổng giáo cùng với hệ tư tưởng phản động và bảo thủ của nó”, … “chúng ta phải kiên trì đấu tranh để quét sạch nó ra khỏi mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như quét sạch những đống rác bẩn vậy”!

    Tiếp theo bài này, báo “Tiền phong” còn định ra cả một loạt bài khác nữa để công kích sự đề xuất kể trên của nhà giáo Nguyễn Lân, nhưng thủ tướng Phạm Văn Đồng đã can thiệp dừng lại.

    Trở lại câu hỏi: khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” xuất hiện trở lại trong ngành giáo dục từ khi nào? Thật chi tiết về việc này, nhất là khía cạnh “là chủ trương hay do tự phát” mà khẩu hiệu này được trương cao trên khuôn viên các ngôi trường? – thì cần có xác nhận của những người ghi sử ký ngành giáo dục (hiện ở ngành này bộ này có vị trí người ghi biên niên hay không?).

    Đứng ngoài quan sát như tôi và phần đông bạn đọc, thì khẩu hiệu này có lẽ đã tái xuất hiện trong nhà trường Việt Nam từ những năm 1990. Mấy năm cao trào đổi mới có một số đề xuất cải cách giáo khoa, nhất là môn Văn, sao cho bớt khô cứng, chứ chưa nêu đến quan hệ thầy trò hay việc tăng trọng môn đức dục.

    Có thể nói, tâm lý coi trọng và đề cao người thầy và lao động dạy học chính là cơ sở tâm lý xã hội khiến cho khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” từ chỗ bị cấm đoán miệt thị trong “đêm dài bao cấp”, lại bỗng chốc được nêu cao trên khuôn viên các ngôi trường vẫn được những người quản lý nó mệnh danh là “nhà trường xã hội chủ nghĩa”.

    Tất nhiên, như đã nói, điều đã khiến các ban quản trị nhà trường dùng đến khẩu hiệu trên, còn là những lo ngại về tình trạng được gọi là “xuống cấp” đạo đức xã hội có vẻ như biểu hiện ngày càng nặng và đáng báo động trong nhà trường, tuy rằng ban đầu người ta chỉ nhấn mạnh chuyện học trò hư, vô lễ, chứ rất khó khăn để ghi nhận các chuyện không hay trong giới giáo viên. 

    ***

     Thế nhưng có nên tiếp tục trương cao khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” cả trên khuôn viên các ngôi trường Việt Nam hiện nay cũng như trong lời nói hàng ngày hay không?

    Tôi vẫn chưa quên cảm giác gì đó rất không thoải mái mỗi khi nhìn thấy khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” được sơn vẽ sao cho kích cỡ thật lớn, lại đặt ở vị trí đáng chú ý nhất, tại các ngôi trường Việt Nam.

    Vì sao vậy? Vì nó lời lẽ bằng ngôn từ Hán Việt, không phải lời lẽ thuần Việt. Vì nó gắn với những thời kỳ rõ ràng là đã qua của giáo dục Việt Nam. Vì nó ngày càng bộc lộ yếu tố vay mượn ngoại lai mà cũng ngày càng rõ là không nên tiếp tục.

    Nếu bảo ta vẫn có thể dùng “tiên học lễ hậu học văn” như khẩu hiệu trong giáo dục bởi nền giáo dục ta từ ban đầu vốn chịu ảnh hưởng Trung Hoa; thì cần đáp lại rằng: đúng là giáo dục ở Việt Nam xa xưa thuở ban đầu chịu ảnh hưởng giáo dục Trung Hoa, tiếp nhận cái học của Nho giáo, trong ngàn năm Bắc thuộc và suốt 9 thế kỷ các nền quân chủ độc lập. Nhưng từ cuối thế kỷ XIX và nhất là từ đầu thế XX, nền giáo dục ở Việt Nam đã chuyển sang tiếp nhận giáo dục của châu Âu, trực tiếp là của Pháp. Cho đến ngày nay, thử nhìn xem toàn bộ học vấn mà 12 lớp thuộc hệ nhà trường phổ thông của ta cung cấp cho học sinh là nguồn từ đâu? Rõ ràng có ít ra đến 99% các tri thức là từ nguồn Âu-Mỹ! Hãy xem từng môn vật lý, hóa học, toán, thực vật, động vật, … các tri thức là lấy từ đâu? Chắc chắn không lấy từ Khổng (Nho), Đạo hay Lão Trang. Chằng riêng gì ta, giáo dục phổ thông ở Hàn Quốc, Nhật Bản, ở chính Trung Hoa, Đài Loan, cũng đều như vậy. Vậy là về giáo dục thì toàn bộ các vùng châu Á trong đó có ta đều đã “thoát Á” rồi, có còn là kiểu trường học “chi hồ giã giả”, học tứ thư ngũ kinh, học viết văn bát cổ,… nữa đâu? Chẳng riêng gì châu Á, mà khắp hành tinh chúng ta, hệ thống các tri thức dạy cho các trường phổ thông, đều có nguồn Âu-Mỹ. Vậy thì nhà trường hiện tại đâu có còn dính líu gì nhiều với Nho giáo mà toan quay lại dùng các phương châm, khẩu hiệu rút từ nó?

    Cốt lõi mệnh đề “tiên học lễ hậu học văn” là nhấn mạnh việc trau dồi tư cách đạo đức bên cạnh việc học lấy tri thức và kỹ năng. Đây là một phương châm không riêng gì của giáo dục ở phương Đông. Nhưng cách diễn đạt lấy chữ “lễ” đại diện cho toàn bộ phương diện đạo đức thì rõ ràng là một quy nạp quá lệch, tỏ ra cũ kỹ, lại rất dễ phát sinh hiểu lầm và bị lạm dụng; toàn bộ phương diện tri thức và kỹ năng mà người ta cần tiếp nhận trong sự học, đem gói vào chữ “văn” thì quả là sơ giản hóa đến mức khó chấp nhận.

              Trong cuộc sống thường ngày, ngoài ý nghĩa lễ độ thông thường, “lễ” thường ám ảnh người ta ở một vài hàm nghĩa thông tục. Đối với phía người học, “lễ” dễ gợi tới sự khuất phục, – đòi hỏi học trò phải vâng phục, – điều mà càng học trò lớp trên càng khó có thể sẵn sàng thể hiện, do tư cách “người lớn” đang đậm dần lên ở các cô gái, chàng trai, họ không thể “phục” nếu người thầy không thật giỏi và không thật có tư cách. Đối với phụ huynh, “lễ” nổi bật nhất ở ý nghĩa cống nạp, – nó có cái gì đó nặng nề hơn so với sự trả công thông thường. 

              Tôi biết là có bạn sẽ yêu cầu phải nêu những hàm nghĩa của “lễ” từ gốc, từ các kinh điển Nho giáo. Song đấy là lĩnh vực của giới nghiên cứu học thuật; người ngoài đời thường không đủ hiểu biết để tiếp cận như thế; họ chỉ hiểu và đụng chạm với “lễ” ở ý nghĩa thông tục mà thôi.

    Cho nên, việc sử dụng lại khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” từ hơn chục năm nay, theo tôi, chỉ nên được xem là giải pháp tình thế. Đã đến lúc nên chấm dứt tình thế tạm thời này. Nếu cần khẩu hiệu, hãy gắng tìm từ những nguồn thuần Việt”; và nếu không tìm được từ nguồn “thuần Việt”, thì nên tham khảo những nguồn có quy mô thế giới, chẳng hạn từ nguồn của tổ chức UNESCO.

    Trong bối cảnh thế giới hiện tại, ta cũng nên lưu ý đến những hiện tượng như các viện mang tên Khổng Tử được Trung Quốc lập ra ở các nước với tính cách những cơ quan truyền bá văn hóa Trung Quốc ở nước ngoài. Cái tên của Khổng Tử và có lẽ cả học thuyết của ngài nữa, như vậy, đang được đóng dấu đậm bản quyền quốc gia Trung Hoa. Ta nên tế nhị với chuyện này. Ta nên tự chứng tỏ rằng: từ thời hiện đại, người Việt Nam chúng ta đã đứng ngoài biên giới của nền văn hóa Trung Hoa rồi, không còn đứng trong đó nữa, như ở thời trung đại. Khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” – vốn có xuất xứ từ Khổng Tử – càng nên được chúng ta sớm chấm dứt sử dụng trong hiện tại, để từ nay chỉ nên được ghi nhận như một trong những thứ ta đã từng vay mượn thời quá khứ xa xưa.   

    20/7/2012

    LẠI NGUYÊN ÂN         

    Chú thích

     1] Trần Đình Hượu (1995): Đến hiện đại từ truyền thống, Hà Nội: Nxb. Văn hóa, in lần 2 có bổ sung, 1996, tr. 7 – 9; Trần Đình Hượu (2001): Các bài giảng về tư tưởng phương Đông /Lại Nguyên Ân sưu tầm biên soạn/ Hà Nội: Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, 2001, tr. 171-172.  

    U80 ĐỒNG Ý BỎ “TIÊN HỌC LỄ…”

    Bài của LÊ TRUNG THỰC trên VietNamNet 25/7/2012

    TIN BÀI LIÊN QUAN:

    Khẩu hiệu ‘Tiên học lễ…’ nên chấm dứt?

    Từ ‘Tiên học lễ…” bàn về một sự thật?

    Lời đáp lại phản hồi độc giả quanh chữ “Lễ”

    ‘Trước học lễ, sau học văn’

    ‘Tiên học lễ…” không còn hợp thời?

    Độc giả tranh luận ‘lễ’ với Lê Đỗ Huy

    Khẩu hiệu ‘Tiên học lễ…’ nên bỏ?

    Trước hết tôi tán thành cách giải thích của bạn Mai Trọng Nhân về Ngũ thường trong học thuyết Khổng Tử là : “nhân – nghĩa – lễ – trí – tín” với cách hiểu là nắm bắt tinh hoa của học thuyết này . Cũng không nên bàn lại khẩu hiệu “ Tiên học Lễ , hậu học Văn “ với cái lõi tinh hoa của khẩu hiệu đó là “Con người cần có cả Đức và Tài (Hồng đi đôi với Chuyên), chỉ có đức mà vô tài thì chỉ có thể nói hay nhưng làm thì dở, xã hội không giầu, nước không mạnh được, nhưng trước tiên phải có Đức thì cái Tài mới có ích cho xã hội.

     

    Người không có Đức thì không khác gì loài cầm thú. Vì thế các trường đều phải giáo dục nhân cách cho học sinh, sinh viên cùng với giáo dục học vấn và nghiệp vụ.

    Tuy nhiên, do cách giải thích của bạn Nhân, tôi hiểu bạn Nhân đã đọc học thuyết của Khổng Tử rất kỹ . Hiện nay học thuyết của Khổng tử đã được dịch ra tiếng Việt, rất dễ sưu tầm qua Internet để có thể biết Nho giáo nguyên thủy. Bạn Nhân công nhận Nho giáo không phải quốc giáo của nước ta và Nho giáo cũng có những hạn chế lịch sử. Do đó đừng tuyệt đối hoá Nho giáo thành những tín điều của Thánh mà nên chỉ ra cả những mặt tích cực và mặt hạn chế, khiếm khuyết của Nho giáo để bạn đọc vận dụng cái tinh hoa và tránh những điều có thể ngộ nhận (Mạnh Tử, học trò của Khổng Tử đang được thờ trong Văn Miếu Hà Nội được gọi là Á Thánh, nhân vật đứng sau Khổng Tử).

    Xin góp ý kiến:

    Bạn Nhân nói đến “trung với nước , hiếu với dân” – đây không phải là Nho giáo nguyên thuỷ. Nho giáo nguyên thuỷ dạy phải “trung với vua”. Còn “trung với nước , hiếu với dân” là 6 chữ vàng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn Quân đội nhân Việt Nam thuở lập quốc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà , khi trao cờ Tổ Quốc cho Trường Võ bị năm 1946.

    Bạn Nhân cũng đã giải thích cụm từ “quân tử và tiểu nhân”. Theo Nho giáo nguyên thuỷ thì như thế này: Nho giáo nguyên thuỷ hình thành từ thời nhà Chu (nhà Chu ở Trung Quốc. Chu Công đang được thờ tại Văn Miếu Hà Nội). Thời đó quân tử là cụm từ chỉ tầng lớp quý tộc .

    Đến thời Xuân Thu (thời của Khổng Tử) nó được dùng để chỉ các đại phu. Những người làm quan được gọi là “quân tử”. Những dân thường hay quan lại có phẩm hàm nhỏ hơn thì tự xưng là “tiểu nhân”. Đối với Khổng Tử, con người lý tưởng của ông là “quân tử”. Quân tử sau này đã trở thành 1 trong các khái niệm quan trọng của hệ tư tưởng Nho giáo.

    Chúng ta đang xây dựng 1 Nhà nước Pháp quyền nhưng Khổng Tử chỉ khuyên Vua dùng đạo đức để giáo hoá nhân dân thay vì cai trị bằng Pháp luật (đối lập với Hàn Phi) vì thế nhiều nước nhỏ trong thời Chiến Quốc không dùng ông. Nếu Vua không có đạo đức thì đó là do mệnh Trời vì theo Nho giáo Vua là người làm theo Mệnh Trời (nên Vua được gọi là Thiên tử. Vua bảo chết thì tôi phải chết, không chết là bất trung. Không những vậy, trước khi chết còn phải tạ ơn vua ban cho được chết. Vì thế mới có bi kịch Nguyễn Trãi phải chết oan).

    Theo Nho giáo, người phụ nữ được đánh giá là tốt khi tuân theo “tam tòng tứ đức”. Trong đó “tam tòng” có nguồn gốc từ Nghi lễ, Tang phục, Tử Hạ truyện là: “người phụ nữ khi còn ở nhà phải theo cha, khi lấy chồng phải theo chồng, nếu chồng qua đời phải theo con trai”. Nguyên chữ Nho là “Phụ nhân hữu tam tòng chí nghĩa , vô duyên dụng chi đạo, cố vị giá tòng phu , ký giá tòng phu, phu tử tòng tử”.

    Vì vậy trong Kinh thi của Nho giáo có bài “Hữu hồ” nói lên nỗi lòng người quả phụ muốn tái giá mà không được .

    Bạn Nhân không nên so sánh Nho giáo với Đạo Phật và Đạo Thiên Chúa. Trên thế giới, Phật giáo có 1,2 triệu tín hữu. Kitô giáo có 2,1 tỉ tín đồ. Khổng giáo được coi như 1 tôn giáo cổ đại của Trung Quốc có 394 triệu người tiếp nhận.

    Ở Việt Nam, số người biết và tiếp nhận Nho giáo chỉ đứng hàng thứ tư về tỉ lệ người theo các tôn giáo (đứng sau Phật giáo đại thừa và Công giáo tức Kitô giáo). “Tam sân si, ngũ giới và 14 điều răn của Phật” là những bài học của Phật giáo về cách làm người, đang được người Việt trân trọng tiếp nhận. Bạn Nhân đã sai lầm khi đả kích Phật giáo và Công giáo.

    • Độc giả Lê Trung Thực

    HÒA NHẬP THẾ GIỚI HAY ‘ĐỘC ĐÁO VIỆT NAM’ ?

    Bài của GS NGUYỄN NGỌC LANH trên VietNamNet 8/8/2012

    Tham gia diễn đàn về khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn”, GS Nguyễn Ngọc Lanh đặt vấn đề: Ta nên hoà nhập thế giới hay cứ “độc đáo Việt Nam? Độc đáo và độc đoán có gì giống nhau, khác nhau?

    TIN LIÊN QUAN:

    Độc giả đề xuất khẩu hiệu thay thế ‘Tiên học lễ…’

    Luận bàn về những hệ lụy của chữ ‘Lễ’

    ‘Tiên học lễ…’ không có lợi?

     

    Người xưa hiểu rất đúng và làm đúng “lễ”

    Các cụ tổ chúng ta đã học và thực hành nghiêm chỉnh chữ “lễ” ghi trong kinh Lễ của đạo Nho (bốn kinh khác là: Thi, Thư, Dịch và Xuân Thu).

    Thoạt tiên, Lễ nói về cách ứng xử với quỷ thần (thần linh), mà nguyên tắc là:

    – Kính cẩn (phân biệt với kính phục, kính trọng…);

    – Đứng xa ra (sợ sệt).

    Về sau, Lễ được mở rộng, gồm phép ứng xử với người trên (vua, thầy và cha – với nguyên tắc: Kính cẩn và Tuân phục – cũng ở mức tuyệt đối) và với người ngang hàng (Anh em, Vợ chồng, Bè bạn – với nguyên tắc: Trọng, Thuỷ chung và Nhường).

    Sách không những nêu quy tắc mà còn nêu những quy định rất cụ thể khi giao tiếp. Ví dụ, không được nhìn vào mặt vua (long nhan), khi chầu vua phải quỳ lạy 3 lần (trán phải chạm sàn: gọi là dập đầu). Ngay cách chào bạn đến chơi nhà cũng được quy định: hai tay chắp lại, vái dài và gập lưng, cúi rất thấp…

    Một quy tắc của “lễ” là trai gái không được thân nhau.

    Cụ Nguyễn Đình Chiểu (chưa xa ta lắm) vẫn hiểu và làm đúng “lễ”. Khi Kiều Nguyệt Nga định bước ra khỏi cái kiệu (che kín tứ bề) để tạ ơn Lục Vân Tiên cứu nàng thoát bọn cướp, cụ tả rằng cô tiểu thư này liền bị vị tráng sĩ kia xua tay lia lịa, nói:

    Khoan Khoan! Ngồi đó! Chớ ra!

    Nàng là phận gái, ta là phận trai…

    Bảo vâng, gọi dạ, con ơi!

    Vâng lời sau trước, con thời chớ quên

    Công cha, nghĩa mẹ khôn đền

    Vào thưa, ra gửi, mới nên thân người

    Con ơi! Muốn nên thân người

    Lắng tai nghe lấy những lời mẹ cha…

    Cá không ăn muối cá ươn

    Con cãi cha mẹ trăm đường con hư

    Xin nhớ: Cha còn đứng sau Thầy và vua (thứ tự: Quân – Sư – Phụ). Một kiểu lập luận: Tội “bất trung” là tội chết. Lại có câu: Vua bảo bề tôi chết, nếu không chịu chết đi, là bất trung. Nghĩa là vẫn cứ chết. Tuân phục đến mức ấy mới được coi là giữ đúng “lễ”.

    Cắt nghĩa chữ “lễ” thời nay: Rất bí bét, kể cả tuỳ tiện xuyên tạc

    Nếu nay cứ giữ đúng “lễ”, thì… khi thấy chủ tịch nước xuất hiện trên lễ đài, hàng trăm (có khi ngàn) người phải quỳ lạy 3 lần (!). Hài thật. Chẳng “lễ” thì đừng!

    Tất nhiên, khái niệm “lễ” thay đổi theo thời gian. Tuy nhiên không ai được phép làm nó thay đổi đến đảo ngược khái niệm gốc. Sử dụng một khái niệm có sẵn, phải tôn trọng nội dung gốc của nó. Lương thiện mà!

    Vậy thì, một trong những nội dung gốc của “lễ” là tuyệt đối tuân phục người trên.  

    Đến đây, có lẽ chúng ta phải chọn một trong hai: giữ lại hay sổ toẹt cái gốc của “lễ”.

    Vâng! Học “lễ”! Nhưng đó là học cái gì? 

    “Tiên học lễ” là câu răn dạy học sinh. Mà đây là những học sinh cấp 1 và 2. Vậy cần nói với các cháu cho cụ thể: Học “lễ” là học cái gì.

    Các cháu 7-14 tuổi xin “đủ” với những lý lẽ cao siêu, phát ngôn trên những diễn đàn trịnh trọng, nhằm đưa ra lập trường cách mạng để đi đến kết luận gang thép (và… chung chung): Các cháu cứ phải học “lễ”, mà phải học… trước!

    Từ ba chục năm nay, số người được răn dạy: cần “học lễ trước” đã chiếm gần nửa dân số. Vậy mà năm 2012 vẫn chưa có văn bản nào chính thức cho các cháu 7 tuổi biết nội dung “lễ”. Chỉ có vô số phát biếu của cá nhân. Ơ hay! Thế thì các cháu phải nghe ai?  

    Cả nước, cả phe ta (và có lẽ cả thế giới) sẽ khâm phục, biết ơn, nếu ai soạn cho bộ GD – ĐT một văn bản chính thức: Nội dung cụ thể của môn học mới: “Lễ”. Các cháu phải học, phải thi. Tất nhiên, phải có chương trình, phải có sách, có giờ giảng, có thầy… Và thi xong, phải đảm bảo là từ nay họ có “lễ”.   

    Tuỳ tiện tới mức khiên cưỡng, kể cả bóp méo khái niệm

    Với cụm từ “tiên học lễ”, Google cho ra không dưới 1,5 triệu kết quả, trong đó có vô số người giải thích chữ “lễ” thời nay.

    – Có vị viết ngay ở những dòng đầu: Học “lễ” là học cách ứng xử sao cho đúng với cái “lễ nghĩa” ở đời.

    Ấy! Tôi xin. Lễ và Nghĩa là hai khái niệm khác nhau. Chúng ta có thể nói gộp hai khái niệm cho tiện (Nhân-Nghĩa, Cần-Kiệm, Lễ-Nghĩa), nhưng khi cắt nghĩa riêng chữ “Lễ” thì chớ lôi cả “Nghĩa” vào. Khổng Tử phân biệt rất rõ khi nêu 5 đức tính của người quân tử: Nhân – Nghĩa – Lễ – Trí – Tín (có vị gọi (sai) là luân thường).

    – Có vị cứ sưng sưng coi Lễ là đạo đức.

    Ấy! Tôi can. Đây cũng là hai khái niệm khác nhau. Một người chào hỏi rất đúng “lễ”, nhưng không vì thế mà bảo anh ta là nhà đạo đức. Nhầm lẫn kiểu này sẽ đưa đến suy luận sai về khái niệm “Văn”.  

    – …

    – Xa nhất, khi có vị dám suy chữ “lễ” là Hồng (lập trường cách mạng vô sản), còn “văn” là Chuyên (!).

    Ấy! Tôi van. Một bên là lễ giáo (phong kiến) bên kia là lập trường (vô sản). Phong kiến khác XHCN; cụ Khổng khác cụ Mác. Suy luận kiểu này chẳng thà nêu khẩu hiệu: Học HỒNG trước, học CHUYÊN sau.

     

    Đạo đức Nho giáo

    Đây không phải chỗ để bàn về lý thuyết đạo Nho. Còn về đạo đức, có nhiều nội dung đến nay vẫn có thể kế thừa, sau khi chắt lọc. Những từ như Nhân, Nghĩa, Trí, Tín, Trung, Hiếu, Liêm, Kiệm, Cần… vẫn có ý nghĩa tốt đẹp. Và khi nói ra, không cần cắt nghĩa nhiều, vì nghĩa gốc của chúng vẫn được bảo tồn.

    Chỉ có Lễ là mơ hồ, rắc rối, mỗi khi cần đi vào cụ thể. Nhất là nói với trẻ em.

    Nếu bỏ “lễ” thì học gì?

    UNESCO đã khuyến nghị từ lâu: Học chung sống, học cách chung sống.

    Học sinh cần học các kỹ năng chung sống. Khi còn nhỏ thì biết cách chung sống với anh chị em, cha mẹ, ông bà. Rồi đi học thì chung sống với thầy và bạn… Ra đời, chung sống với xã hội. Muốn hoà nhập, phải học kỹ năng chung sống với với thế giới, với người khác ý thức hệ, khác chế độ, khác tôn giáo…   

         

    Ta nên hoà nhập thế giới hay cứ “độc đáo Việt Nam?

    Độc đáo và độc đoán có gì giống nhau, khác nhau?

    • GS Nguyễn Ngọc Lanh

    XÃ HỘI SẼ THẾ NÀO NẾU KHÔNG CÓ LỄ ?

    Bài của PHẠM ĐI trên Tuần VN 8/8/2012

    Trong văn có lễ và trong lễ có văn, bởi “văn” là người mà đã là người thì phải có “lễ”!

    “Vector vô hướng”

    Thời gian gần đây trên diễn đàn của báo chí, liên tục đăng tải những ý kiến khác nhau, trái chiều nhau, thậm chí đối lập nhau để chia sẻ chung quanh về câu Tiên học lễ, hậu học văn”.

    Có người bàn về trật tự trước sau về khái niệm “tiên” hay “hậu”. Có học giả lại trao đổi về nội hàm và ngoại diên của thuật ngữ “lễ”, “văn”. Người khác thì cổ xúy cho việc tiếp tục dùng khẩu “tiên học lễ, hậu học văn” nhưng không ít ý kiến lại phản đối và đi đến quan điểm là “nên bỏ” khẩu hiệu ấy đi với những lí do cả chủ quan và khách quan.

    Chữ “lễ” trong tiếng Hán

    Thế nhưng, bình tĩnh mà xem xét lại, chúng ta đã quá nhấn mạnh đến câu chữ mà bỏ quên đi ý nghĩa nội tại của nó. Đã lấy ý kiến chủ quan và tư biện để đánh giá và phủ quyết cái đã tồn tại như một tất yếu của cuộc sống, một triết lí sống mà, nếu không có nó chúng ta sẽ rơi vào một khoảng chân không vô định mà mỗi con người trở thành những “vector vô hướng”.

    Cộng đồng và xã hội sẽ mất đi hệ qui chiếu cần thiết để “soi mình”.

    Từ những mẩu chuyện đời thường….

    Ba tôi là một nông dân thứ thiệt và tất nhiên những bạn bè “khách khứa” của ba tôi cũng là những bác nông dân chân đất. Một lần có 1 vị khách đến nhà chơi và cùng dùng cơm với gia đình. Dùng cơm xong, ba bảo tôi lấy tăm cho bác xỉa răng. Tôi (như một phản xạ tự nhiên) lấy tăm và đưa cho khách. Vừa quay đi, tôi bị ba gọi lại và bảo: Lần sau con đưa tăm thì phải đưa 2 tay.

    Với một đứa bé 6 tuổi, trong “tư duy phản biện” của mình, tôi đôi co: Cây tăm đâu có nặng đến mức độ phải cầm 2 tay đâu ba! Đợi vị khách ra về, ba gọi tôi lại và chỉ bảo: Đúng là cây tăm xỉa răng không nặng đến mức phải dùng 2 tay mới nhấc nổi, nhưng con vẫn phải dùng 2 tay để đưa cho người lớn. Đó là cái “lễ phép” con ạ.

    Con có thấy lúc nãy bác tỏ thái độ không vừa lòng trước cử chỉ của con không? Vì sao con biết không? Bản thân cây tăm xỉa răng không có ý nghĩa gì cả, nhưng hành vi mà con cầm cây tăm đưa cho ba và bác có cái nét văn hóa của người Việt con ạ: Lễ phép!

    Nhà tôi không thờ Phật nhưng ngày rằm và mồng 1 mỗi tháng mẹ tôi đều mua ít trái cây đặt lên bàn thờ để thắp hương. Có lần mẹ mua trái cây về rửa sạch sẽ và đặt lên bàn thờ, bảo tôi đốt hương giúp mẹ. Tôi đang làm bài tập và lập tức đứng lên rút 3 cây hương định châm lửa đốt.

    Chưa kịp đốt mẹ tôi đã bảo: Con lấy cái quần dài và cái áo mặc vào (vì lúc đó tôi chỉ mặc mỗi chiếc quần cộc) rồi hãy đốt hương. Tôi thắc mắc thì mẹ bảo, dâng hương hoa cho tổ tiên, ông bà,  người đã khuất cũng phải thể hiện cái “lễ” con ạ.

    Sau này tôi mới hiểu, đối với người Việt Nam, lễ không chỉ thể hiện đối với người còn sống mà nhiều lúc còn phải thể hiện sự “tương tác” giữa người sống với người đã mất, giữa cái thế tục với cái thiêng liêng…

    Một lần đi trên chuyến xe buýt tôi chứng kiến một cảnh tượng hết sức thú vị. Xe dừng lại để đón khách thì có 1 cụ già bước lên, đang loay hoay tìm chỗ ngồi thì ngay lập tức cậu thanh niên gần đó đứng lên và nhường chỗ cho cụ.

    Cậu thanh niên đứng bên cạnh, 2 người cùng trò chuyện rôm rả. Một lát sau, cụ già đột nhiên đứng lên và “nhường chỗ” cho anh thanh niên này. Hỏi ra mới biết, sau khi nói chuyện thì “cụ già” và anh “thanh niên” kia mới nhận ra rằng, họ có quan hệ thân tộc.

    Nếu xét về tuổi tác thì “cụ già” đúng là cụ già, nhưng xét về “vai vế” thì “cụ già” là “thiếu niên” vì phải gọi “cậu thanh niên” bằng bác theo vai vế. Thế là một cuộc “đổi ngôi” “nhường nhịn” xảy ra, mà xét đến cùng là sự tương tác của cái mà người Việt Nam gọi là “lễ độ”.

    Một lần trường chúng tôi có mời 1 vị giáo sư người Mỹ đến nói chuyện. Khi giáo sư bước vào giảng đường thì ngay lập tức tất cả sinh viên có mặt trong giảng đường đều đứng lên chào vị giáo sư nọ.

    Sau buổi thuyết trình, vị giáo sư có tâm sự với tôi cái điều mà giáo sư thấy “lạ”: Vì sao ông ta bước vào giảng đường thì tất cả đứng lên chào ông (điều mà ông không thấy nơi chính xứ sở của ông, một đất nước được cho là có nền văn minh nhất thế giới).

    Tôi cười và trả lời ông, không phải là sinh viên ấy đứng lên mà chính là cái “lễ”, một nét văn hóa truyền thống của con người Việt Nam đã “đứng lên”…

    Tiên học lễ, hậu học văn”

    …Đến những triết lí giáo dục

    Có thể khẳng định ngay rằng, “Tiên học lễ, hậu học văn” không phải là một “khẩu hiệu” (slogan) để “cổ động” nhất thời mà nó chính là một triết lí giáo dục (Philosophy of Education).

    Xác định ngay điều này để có cách tiếp cận chính xác hơn. Đã là một “khẩu hiệu” đơn thuần thì vấn đề “bỏ hay không bỏ” nó không cần đáng bàn. Bởi cái gọi là “khẩu hiện” có thể vứt đi khi 1 phong trào, 1 sự kiện nào đó gắn với nó đã qua đi.

    Nhưng một khi là 1 triết lí thì cần phải nghiên cứu tỉ mỉ, khoa học, khách quan và hết sức bình tĩnh. Nhiều nhà nghiên cứu xã hội học, giáo dục học phương Tây đã không ít lần phản tỉnh về chính triết lí giáo dục của họ mà một điều trong đó là hiện tượng tự do quá trớn, bình đẳng thái quá, cá nhân chủ nghĩa.

    Họ cũng đã nhiều lần “cúi đầu nhìn lại” với hệ thống triết lí giáo dục của họ đã tạo ra những lỗ hổng nhân văn chết người: Con người sống lạnh lùng hơn, ghẻ lạnh hơn, vị kỉ hơn.

    Nhiều quốc gia đang lo ngại vì tỉ lệ li hôn đã đạt đến con số 50% và đang có chiều hướng gia tăng, mà khi nghiên cứu về nguyên nhân, người ta không ngần ngại chỉ ra rằng, ở đó có yếu tố từ triết lí giáo dục: Lòng vị tha, nhân ái, lễ nghĩa, nhường nhịn đã bị bỏ qua một cách mù quáng.

    Trong nhiều bài viết, nhiều tác giả cho rằng “Tiên học lễ, hậu học văn” là “sản phẩm của Nho giáo”, là “từ Hán”, “là học thuyết thống trị của Khổng giáo” nên… bỏ đi.

    Chữ “văn” trong tiếng Hán

    Đây rõ ràng là một nhận định hết sức chủ quan và duy ý chí. Không phải cái gì của Nho giáo cũng xấu, không phải cái gì ngoại lai cũng không tốt. Một thời chúng ta mắc phải những sai lầm đáng tiếc chính từ những kiểu tư duy này: Bài ngoại.

    Cần nhớ rằng, không có 1 mô hình hay triết lí giáo dục nào đó đúng trong mọi trường hợp, mọi thời đại, mọi nền văn hóa, mọi quốc gia. Như vậy, vấn đề là ở chỗ, không nên xem xét vấn đề từ yếu tố “nguồn gốc” mà cần xen xét nó trong sự “chỉnh hợp”, “tích hợp” với những yếu tố nội tại để cùng nhau tồn tại.

    “Tiên học lễ, hậu học văn” không phải là ngoại lệ. Mắt xích của vấn đề là, chúng ta biết loại bỏ những yếu tố bất hợp lí, bất hợp thời, bất cập trong nội hàm của mệnh đề này và giữ lại và phát huy những gì tốt đẹp nhất, tinh túy nhất, hợp lí nhất. Bởi không ai giết con rận mà đốt cả cái áo!

    Và những lời tâm sự

    Lễ, xét đến cùng, là cái căn bản để ứng xử và xử lí các mối quan hệ giữa con người với con người, thậm chí giữa người sống với người đã mất, giữa cái tức thời với cái vĩnh hằng, giữa cái hữu sinh và cái vô sinh. Giữa con người với tự nhiên, giữa cộng đồng người với nhau hay giữa các dân tộc khác nhau.

    Không phải ngẫu nhiên mà trong từ điển Tiếng Việt xuất hiện hàng loạt các từ về lễ: Lễ độ, lễ phép, lễ phục, lễ giáo, lễ tiết, lễ mạo, lễ đường, lễ nghi, lễ nghĩa, lễ tân, lễ vật; lễ thành hôn, lễ tang, lễ chào cờ, lễ chùa.

    Chúng ta cứ thử hình dung, nếu một ngày nào đó xã hội chúng ta không có “lễ” (hay lễ không được giáo dục, đề cao), có lẽ lúc đó người dưới không kính trọng lễ phép với người trên.

    Trẻ em không đáp lễ với người lớn tuổi, trò “vô lễ” với thầy. Người sống không còn “đáp lễ” với người đã khuất. Con người sẽ sống trong một mớ hỗn độn và xô bồ và con đường dẫn đến mâu thuẫn xung đột là khó tránh khỏi!

    Có thể nói con người “lớn hơn” con vật là ở chữ “lễ”, cái “lễ”. Bởi, về bản chất mà nói, học cái lễ chính là học làm người. Muốn làm người thì con người phải thông qua 1 quá trình học hỏi, lĩnh hội, nội tâm hóa những giá trị chuẩn mực, chuẩn tắc, qui ước và cả những niềm tin chung của cộng đồng (kể cả những niềm tin về thế giới tâm linh).

    Học hỏi những kĩ năng, kĩ xảo, kiến thức, nghề nghiệp và tất cả những gì giúp cho con người có thể sinh sống, lao động, làm việc trong 1 nhóm hay 1 cộng đồng xã hội.

    Như vậy, xét đến cùng, “văn” là “kĩ năng cứng” còn “lễ” là “kĩ năng mềm” giúp cho con người sống, lao động, học tập, làm việc, hưởng thụ trong 1 cộng đồng xã hội nhất định.

    Do đó, chúng ta không nên quá câu nệ về câu chữ để đi đến bàn luận về cái “tiền” cái “hậu”, cái nào có trước cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào. Mấu chốt của vấn đề là, chúng không thể tách rời nhau: Học để làm người và làm người cần phải học.

    Trong văn có lễ và trong lễ có văn, bởi “văn” là người mà đã là người thì phải có “lễ”!

    BÓI KHÔNG RA THÀY DẠY “LỄ”

    Bài của LÃNH NGUYÊN trên VietNamNet. 9/8/2012

     Hẩu lốn tư sản và phong kiến

    Xã hội Việt Nam trước 19-8-1945 được cụ Hồ nhận định là “thuộc địa, nửa phong kiến”. Quả không sai. Thời xưa, ai đủ tuổi cắp sách là thấy. Trước mặt học sinh thời đó là các khẩu hiệu của cách mạng tư sản (ví dụ: Tự do – Bình đẳng – Bác ái), còn hai bên tường và phía sau là các phương châm giáo dục của đạo Nho (ví dụ: Ấu bất học, lão hà vi). Hẩu lốn, nhưng bọn trẻ lại hiểu được, hiểu đúng nội dung.

    Ví dụ, khẩu hiệu CẦN LAO – GIA ĐÌNH – TỔ QUỐC thời xưa được diễn nghĩa cho đứa trẻ 8-9 tuổi bằng bài thơ 32 chữ, dễ thuộc và dễ hiểu “tại sao phải thế”:

    “Siêng năng công việc; Để mà mưu sinh.

    Yêu quý gia đình; Để mà giữ giống.

    Muốn còn, muốn sống; Ở trên hoàn cầu;

    Ta phải cùng nhau; Phụng thờ tổ quốc”.

    TIÊN HỌC LỄ cũng có cách dạy để học sinh 8-10 tuổi hiểu đúng nghĩa gốc, dù chỉ ở mức độ sơ đẳng. Đó là ứng xử sao cho đúng “lễ”, như kinh Lễ đã dạy.

    Tới năm 2012 học sinh tiểu học của nước ta vẫn chưa hiểu: a) vì sao phải học “lễ” (các cháu không đủ khả năng vô diễn đàn VietNamNet để nghe các bậc cao minh tranh luận); và b) đó là học những gì. Còn các Cụ và Ông Bà họ, nay 80 tuổi, thời xa xưa được học môn Luân Lý (Morale) ở 3 năm đầu của bậc tiểu học. Họ hiểu: Cha mẹ cho mình sinh mạng, lại nuôi sống mình. Thầy truyền cho mình đạo và lý để tồn tại trong xã hội. Công lao trời biển, cho nên ứng xử phải cực kỳ tôn kính. Cãi lại cha mẹ (dù nửa câu) dứt khoát là con hư. Cãi lại thầy, chính là cãi sách thánh hiền, là điều “đại bất lễ”.

    Ngoài lý thuyết, còn có cả những quy định cụ thể khi thực hành “lễ” – sách xưa gọi là lế pháp (việt hoá thành lễ phép). Và họ cũng được thực hành: cách chào thầy, cách thưa gửi với cha mẹ, cách đưa cái tăm tre cho khách…

    Đố học sinh nào dám không thuộc hai câu răn đe:

    Cá không ăn muối cá ươn

    Con cãi cha mẹ: Trăm đường con hư.

    Còn cãi lại vua ư? Tội chết đấy.

    Các cụ xưa hiểu “văn” thế nào?

    Cho tới khi chữ Nho và đạo Nho hoàn toàn bị bãi bỏ (năm 1915, dưới triều Nguyễn), các kỳ thi trước đó chủ yếu chỉ khảo sát về trình độ “văn”. Nội dung chủ yếu phải học và phải thi là “văn”. Không có Toán, Lý, Hoá, Địa… gì hết. Do vậy các thế hệ xa xưa hiểu rất đúng khái niệm “văn”. Nó chính là… văn (trong “văn hay, chữ tốt”).

    Tiếc rằng thế hệ con cháu lại được cắt nghĩa vòng vèo để hiểu khác, dùng khác. Ví dụ, những người bạo gan thời nay nhất dám “suy” lễ là… Đức; từ đó, văn ắt sẽ là… Tài (thế thì tài kinh doanh là “văn” vậy!). Đó là sáng tạo hay xuyên tạc một khái niệm do người xưa để lại?

    Thời nào cũng vậy, đưa ra một khẩu hiệu giáo dục, nhưng về nội dung mỗi người hiểu một cách, tha hồ suy diễn, phải tranh cãi ỏm tỏi vài chục năm, thì quả là phản giáo dục.

    Dạy “lễ” hiện nay: Bói không ra thầy

    Khẩu hiệu có tới 2 chữ HỌC. Vậy 100% là dành cho trò. Nếu là “Tiên giáo lễ, hậu giáo văn” thì chỉ cần treo nó ờ phòng họp của các thầy là đủ. Và mọi trách nhiệm là ở thầy.

    Thực tế, khẩu hiệu được trưng ở những nơi dễ thấy nhất, chính là để răn dạy tất thảy trẻ tiểu học. Khốn nỗi, khẩu hiệu chỉ nhắc nhở “cần phải học gì trước” mà tuyệt nhiên không nói nội dung phải học. Tuyệt nhiên chưa có chương trình, số giờ phải học trong thời khoá biểu… Rôi kiếm đâu ra sách giáo khoa? Các cháu cũng bói không ra ông thầy nào sẽ giảng “lễ” cho mình và giảng vào lúc nào trong thời khoá biểu… để mà học.

    Tạm khất các cháu: Hãy kiên nhẫn đợi đến khi người lớn tranh luận ngã ngũ… 

    Người lớn hiểu về “lễ”: Rất khác nhau

    Nếu đòi duy trì học “lễ”, đương nhiên chúng ta phải nói nội dung của “lễ”. Nếu nội dung này trái với Người lớn, kể cả trong ngành giáo dục, cũng hiểu không giống nhau về “lễ”. Thế mà cứ hô trẻ em cả nước hãy sớm học “lễ” đi. Học cái gì vậy?

    – Trước hết, là sự giải thích theo cách suy luận, và đi hơi bị… xa. Có vị nói “lễ” là ĐỨC, còn “văn” là TÀI. Có vị bảo “lễ” là HỒNG, còn “văn” là CHUYÊN…

    Thế thì cứ đổi béng cái phương châm của đạo Nho thành “Học đức trước, học tài sau”, hoặc là “Hồng cần hơn Chuyên”… có phải dễ hiểu và hợp thời hơn không? Can gì phải khấn đức thánh Khổng từ mấy ngàn năm trước hiện về (?) để mượn (và làm méo mó) một khái niệm đã được xác lập từ xa xưa? 

    – Tiếp đó là một số vị đưa ra cách hiểu cụ thể của mình. Và chẳng ai giống ai (!). Xin độc giả đọc lại bài (rất hay) trên báo điện tử TienPhong, nhan đề Chữ ‘lễ’ thời nay Trích vài ý:

    Vị phó giám đốc sở GD của thành phố lớn nhất nước cho rằng: Nếu thầy trò “sống có trách nhiệm là đạt được phần lớn chữ lễ”.

    – Vị phó hiệu trưởng của một đại học quốc gia quan niệm rằng Ngày xưa, trò đối với thầy là kính và sợ, ngày nay chuyển thành kính và phục. Đó là lễ.

    – Thầy trưởng khoa Lý luận, Phê bình và Sáng tác của ĐH Văn hóa: Một chữ lễ chung cho cả thầy và trò thời nay là dạy tử tế, học tử tế. Ấy là chữ lễ đấy (!).

    – Một sinh viên lớp Xã hội học 8B ĐH Công đoàn: Lễ trong trường chính là thái độ ứng xử của trò với thầy sao cho phù hợp với chuẩn mực đạo đức. Một cựu sinh viên khoa Triết, Học viện Báo chí và Tuyên truyền: Lễ là một từ chỉ cái đạo của trò đối với thầy cô giáo.

    Nói chung, các sinh viên khác khi được hỏi đều coi “lễ” chỉ là thái độ ứng xứ với thầy, cô…

    Tóm lại, dù với nghĩa rất hẹp, thì cách hiểu về “lễ” đã rất khác nhau. Và nói chung, chữ Lễ chỉ thu hẹp trong quan hệ thầy – trò.

    Học cụ Hồ

    Cụ Hồ dùng nhiều khái niệm cũ, nhưng nghĩa của nó vẫn là nghĩa gốc. Không bao giờ phải suy luận và cải đổi như cách chúng ta đã làm với “lễ” và “văn”.

    Khi cụ cho rằng một vị tướng cần có: Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm thì các từ này vẫn giữ nội hàm gốc. Miễn cần giải thích “nghĩa mới” của chúng.  

    Cụ nói: Quân đội phải “trung với nước, hiếu với dân” thì nghĩa Trung và Hiếu vẫn cơ bản như xưa. Nước và Dân vẫn như ngàn năm trước. Đố ai sửa nổi một chữ của Cụ mà không làm sai lạc ý nghĩa cao cả của câu nói.

    Trong giáo dục, chả lẽ cụ không biết “tiên học lễ, hậu học văn”? Nhưng cả đời cụ tịnh không nói tới, không dùng tới một lần nào. Cụ chỉ nhắc: Dạy tốt, học tốt. Thế là đủ.

    • Lãnh Nguyên

     

     

     

     

     

     

    Share this:

    Like this:

    Số lượt thích

    Đang tải…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Về Khẩu Hiệu “Tiên Học Lễ Hậu Học Văn”
  • Outline Trong Corel – Cách Tạo, Quản Lý Đường Viền Trong Corel
  • Hướng Dẫn Cách Tạo Khung Viền Đẹp Và Độc Đáo Trong Word
  • Sheet Nhạc Những Bài Hát Hay Về Thầy Cô Ngày 20
  • Hướng Dẫn Cách Vẽ Nhanh 3 Hình Chiếu Tấm Trượt Ngang – Hình 4 Bài 3 Trang 21 Sgk Công Nghệ 11
  • Bạn đang xem bài viết Bàn Về Khẩu Hiệu “Tiên Học Lễ, Hậu Học Văn” trên website Maiphuongus.net. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100