Xem Nhiều 1/2023 #️ Bài Văn: Soạn Bài: Uy # Top 1 Trend | Maiphuongus.net

Xem Nhiều 1/2023 # Bài Văn: Soạn Bài: Uy # Top 1 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Bài Văn: Soạn Bài: Uy mới nhất trên website Maiphuongus.net. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

I. Kiến thức cơ bản 1. Tóm tắt đoạn trích Sau khi hạ được thành Tơ-roa, Uy-lít-xơ “hồi quân” trở về quê hương. Chàng phải lênh đênh góc biển chân trời mười năm đằng đẵng mà vẫn chưa về tới quê nhà. Chàng bị nữ thần Ca-líp-xô, vì yêu chàng nên cầm giữ. Cảm thương số phận Uy-lít-xơ, thần Dớt sai Héc-mét đến lệnh cho Ca-líp-xô phải để chàng đi. Bị bão đánh chìm bè, chàng dạt vào xứ Phê-a-ki, được công chúa Nô-xi-ca yêu và nhà vua tiếp đãi tử tế. Theo ý nhà vua, Uy-lít-xơ kể lại những chuyện li kì, mạo hiểm trên bước đường gian truân phiêu bạt của mình cùng đồng đội: chuyện thoát khỏi xứ sở những tên khổng lồ một mắt, chuyện thoát khỏi tiếng hát đầy quyến rũ của các nàng tiên cá Xi-ren nguy hiểm,… Cảm phục, nhà vua cho thuyền đưa chàng về quê hương I-tác. Về đến nhà, chàng giả dạng người hành khất nên Pê-nê-lốp, vợ chàng, không nhận ra. Để trả lời sự thúc ép của bọn cầu hôn, Pê-nê-lốp thách ai giương được chiếc cung của Uy-lít-xơ và bắn một phát xuyên qua mười hai chiếc vòng rìu thì sẽ lấy người đó. Tất cả bọn cầu hôn đều thất bại, Uy-lít-xơ xin được bắn và chàng đã thắng. Nhân cơ hội đó, cha con chàng trừng trị bọn cầu hôn cùng những gia nhân phản bội. 2. Đoạn trích là cảnh gặp gỡ của hai vợ chồng sau hai mươi năm xa cách nhưng nó diễn ra không bình thường mà trở thành một cảnh nhận mặt. Trong cảnh ấy các nhân vật đã thử thách lẫn nhau để tìm về hạnh phúc. Câu chuyện là bài ca về vẻ đẹp trí tuệ và khát vọng hạnh phúc của người Hi Lạp. Nó nhắc nhở ta tình cảm gia đình bao giờ cũng rất cao quý, thiêng liêng. II. Hướng dẫn học bài Câu 1: Cảnh này có thể chia thành hai phần: – Phần một từ đầu đến “…người kém gan dạ”. Cuộc đối thoại giữa bốn nhân vật (nhũ mẫu Ơ-ri-clê, con trai Tê-lê-mác, Pê-nê-lốp, Uy-lít-xơ), Pê-nê-lốp thận trọng chưa chịu nhận chồng. – Phần hai là đoạn còn lại. Pê-nê-lốp thử thách Uy-lít-xơ về bí mật của chiếc giường. Pê-nê-lốp nhận ra chồng. Câu 2: – Khi Pê-nê-lốp không chịu nhận chàng là người chồng Uy-lít-xơ, chàng vẫn mỉn cười bảo: “Đừng làm rầy mẹ, mẹ còn muốn thử thách cha ở tại nhà này. Thế nào rồi mẹ con cũng sẽ nhận ra, chắc chắn như vậy?”. Điều này thể hiện sự nhẫn nãi, bình tĩnh của Uy-lít-xơ, đồng thời thể hiện niềm tin mãnh liệt của chàng đối với vợ.

– Uy-lít-xơ bàn với con là Tê-lê-mác việc đối phó với những gia đình quyền quý có người bị chàng giết. Điều này thể hiện sự khôn ngoan, sáng suốt của Uy-lít-xơ. – Uy-lít-xơ hờn dỗi khi Pê-nê-lốp mãi vẫn không nhận ra chàng và chàng khóc khi nghe vợ giải thích nguyên nhân. Điều đó chứng tỏ Uy-lít-xơ là một người rất giàu tình cảm và rất yêu vợ. Câu 3: Pê-nê-lốp “lòng vẫn rất đỗi phân vân” vì nếu những vị hành khất là chồng nàng thực thì tại sao trong lần gặp trước lại không nói ra. Hơn nữa, nếu Pê-nê-lốp vội vã mà nhận lầm thì danh dự của nàng sẽ bị tổn thương rất lớn (điều tối kỵ của người Hi Lạp). Pê-nê-lốp có nhiều phẩm chất cao đẹp, đặc biệt là trí tuệ sắc sảo, sự bình tĩnh tự tin và luôn thận trọng trong mọi tình huống. Khi nàng nhấn mạnh “cha và mẹ… không ai biết hết” chính là lúc nàng cố ý tạo ra một hoàn cảnh thử thách đối với Uy-lít-xơ. Nó là gợi ý về dấu hiệu nhận ra nhau của vợ chồng nàng. Câu nói ấy vừa thể hiện sự thận trọng, vừa thể hiện sự thông minh sắc sảo của Pê-nê-lốp. Thực ra Pê-nê-lốp không phải là người “bao giờ lòng dạ cũng rắn hơn cả đá”, có “một trái tim sắt đá hơn ai hết”. Hai mươi năm phải làm chủ gia đình, lại phải đối diện với bao thử thách, nàng đã phải tạo cho mình cái vỏ bọc cứng rắn. Có như vậy nàng mới chờ được đến ngày người chồng trở về để được ùa vào lòng chàng mà bật lên bao nhiêu cảm xúc dồn nén mấy chục năm. Pê-nê-lốp phải dùng đến cách thử bí mật của chiếc giường trong màn nhận mặt nàng vì bí mật ấy giúp giải toả được nhiều mối nghi ngờ. Trước hết, để Pê-nê-lốp biết đó không phải là Uy-lít-xơ giả. Sau nữa, nó còn là minh chứng cho lòng chung thuỷ của nàng. Nếu chiếc giường đã bị chuyển đi hoặc đã không còn là bí mật của riêng hai vợ chồng nữa thì cũng có nghĩa là phẩm giá của Pê-nê-lốp cũng không còn nguyên vẹn. Phép thử ấy không những chỉ nói lên phẩm chất kiên trinh của Pê-nê-lốp mà còn khắc sâu sự bền vững của tình cảm gia đình, tình cảm vợ chồng cha con. Qua hành động của Pê-nê-lốp (một sự cẩn trọng gần như thái quá) chúng ta có thể thấy được tính chất phức tạp của thời đại – nơi mà những hiểm nguy luôn rình rập, đe doạ con người. Câu 4: Cách kể của Hô-me-rơ qua đoạn này thể hiện đặc trưng của phong cách kể chuyện sử thi, vừa chậm rãi, vừa tỉ mỉ, trang trọng. Ở đoạn trích này Pê-nê-lốp nghi ngờ, không tin Uy-lít-xơ là người chồng xa cách của mình. Do đó kiểu kể chuyện tỉ mỉ này tạo ra những đoạn đối thoại mang hình thức thăm dò, thử phản ứng từ đó dẫn tới bản chất của vấn đề. Để khắc hoạ bản chất nhân vật, Hô-me-rơ thường sử dụng hình thức gọi nhân vậ bằng cụm danh – tính từ rất phổ biến trong sử thi Hi Lạp (ví dụ: Pê-nê-lốp thận trọng, nhũ mẫu Ơ-ri-clê hiền thảo, Uy-lít-xơ cao quý và nhẫn nại…). Điều này tạo cho sử thi phong cách riên, hấp dẫn, đặc sắc. Biện pháp nghệ thuật được Hô-me-rơ sử dụng ở khố cuối đoạn trích (“Dịu hiền”… “buông rời”) là biện pháp so sánh có đuôi dài, ở đây, Hô-me-rơ đã ví niềm vui tái ngộ của Pê-nê-lốp với Uy-lít-xơ cũng giống như hạnh phúc của con người thoát nạn biển khởi. Vế so sánh được nói trước, dài hơn với hình ảnh cụ thể, sinh động, như cái đòn bẩy nghệ thuật nhằm tôn lên sự việc được so sánh, tạo hiệu quả đặc biệt cho câu văn.

Sau khi hạ được thành Tơ-roa, Uy-lít-xơ “hồi quân” trở về quê hương. Chàng phải lênh đênh góc biển chân trời mười năm đằng đẵng mà vẫn chưa về tới quê nhà. Chàng bị nữ thần Ca-líp-xô, vì yêu chàng nên cầm giữ. Cảm thương số phận Uy-lít-xơ, thần Dớt sai Héc-mét đến lệnh cho Ca-líp-xô phải để chàng đi. Bị bão đánh chìm bè, chàng dạt vào xứ Phê-a-ki, được công chúa Nô-xi-ca yêu và nhà vua tiếp đãi tử tế. Theo ý nhà vua, Uy-lít-xơ kể lại những chuyện li kì, mạo hiểm trên bước đường gian truân phiêu bạt của mình cùng đồng đội: chuyện thoát khỏi xứ sở những tên khổng lồ một mắt, chuyện thoát khỏi tiếng hát đầy quyến rũ của các nàng tiên cá Xi-ren nguy hiểm,… Cảm phục, nhà vua cho thuyền đưa chàng về quê hương I-tác. Về đến nhà, chàng giả dạng người hành khất nên Pê-nê-lốp, vợ chàng, không nhận ra. Để trả lời sự thúc ép của bọn cầu hôn, Pê-nê-lốp thách ai giương được chiếc cung của Uy-lít-xơ và bắn một phát xuyên qua mười hai chiếc vòng rìu thì sẽ lấy người đó. Tất cả bọn cầu hôn đều thất bại, Uy-lít-xơ xin được bắn và chàng đã thắng. Nhân cơ hội đó, cha con chàng trừng trị bọn cầu hôn cùng những gia nhân phản bội.Đoạn trích là cảnh gặp gỡ của hai vợ chồng sau hai mươi năm xa cách nhưng nó diễn ra không bình thường mà trở thành một cảnh nhận mặt. Trong cảnh ấy các nhân vật đã thử thách lẫn nhau để tìm về hạnh phúc. Câu chuyện là bài ca về vẻ đẹp trí tuệ và khát vọng hạnh phúc của người Hi Lạp. Nó nhắc nhở ta tình cảm gia đình bao giờ cũng rất cao quý, thiêng liêng.Cảnh này có thể chia thành hai phần:- Phần một từ đầu đến “…người kém gan dạ”. Cuộc đối thoại giữa bốn nhân vật (nhũ mẫu Ơ-ri-clê, con trai Tê-lê-mác, Pê-nê-lốp, Uy-lít-xơ), Pê-nê-lốp thận trọng chưa chịu nhận chồng.- Phần hai là đoạn còn lại. Pê-nê-lốp thử thách Uy-lít-xơ về bí mật của chiếc giường. Pê-nê-lốp nhận ra chồng.- Khi Pê-nê-lốp không chịu nhận chàng là người chồng Uy-lít-xơ, chàng vẫn mỉn cười bảo: “Đừng làm rầy mẹ, mẹ còn muốn thử thách cha ở tại nhà này. Thế nào rồi mẹ con cũng sẽ nhận ra, chắc chắn như vậy?”. Điều này thể hiện sự nhẫn nãi, bình tĩnh của Uy-lít-xơ, đồng thời thể hiện niềm tin mãnh liệt của chàng đối với vợ.- Uy-lít-xơ bàn với con là Tê-lê-mác việc đối phó với những gia đình quyền quý có người bị chàng giết. Điều này thể hiện sự khôn ngoan, sáng suốt của Uy-lít-xơ.- Uy-lít-xơ hờn dỗi khi Pê-nê-lốp mãi vẫn không nhận ra chàng và chàng khóc khi nghe vợ giải thích nguyên nhân. Điều đó chứng tỏ Uy-lít-xơ là một người rất giàu tình cảm và rất yêu vợ.Pê-nê-lốp “lòng vẫn rất đỗi phân vân” vì nếu những vị hành khất là chồng nàng thực thì tại sao trong lần gặp trước lại không nói ra. Hơn nữa, nếu Pê-nê-lốp vội vã mà nhận lầm thì danh dự của nàng sẽ bị tổn thương rất lớn (điều tối kỵ của người Hi Lạp).Pê-nê-lốp có nhiều phẩm chất cao đẹp, đặc biệt là trí tuệ sắc sảo, sự bình tĩnh tự tin và luôn thận trọng trong mọi tình huống. Khi nàng nhấn mạnh “cha và mẹ… không ai biết hết” chính là lúc nàng cố ý tạo ra một hoàn cảnh thử thách đối với Uy-lít-xơ. Nó là gợi ý về dấu hiệu nhận ra nhau của vợ chồng nàng. Câu nói ấy vừa thể hiện sự thận trọng, vừa thể hiện sự thông minh sắc sảo của Pê-nê-lốp.Thực ra Pê-nê-lốp không phải là người “bao giờ lòng dạ cũng rắn hơn cả đá”, có “một trái tim sắt đá hơn ai hết”. Hai mươi năm phải làm chủ gia đình, lại phải đối diện với bao thử thách, nàng đã phải tạo cho mình cái vỏ bọc cứng rắn. Có như vậy nàng mới chờ được đến ngày người chồng trở về để được ùa vào lòng chàng mà bật lên bao nhiêu cảm xúc dồn nén mấy chục năm.Pê-nê-lốp phải dùng đến cách thử bí mật của chiếc giường trong màn nhận mặt nàng vì bí mật ấy giúp giải toả được nhiều mối nghi ngờ. Trước hết, để Pê-nê-lốp biết đó không phải là Uy-lít-xơ giả. Sau nữa, nó còn là minh chứng cho lòng chung thuỷ của nàng. Nếu chiếc giường đã bị chuyển đi hoặc đã không còn là bí mật của riêng hai vợ chồng nữa thì cũng có nghĩa là phẩm giá của Pê-nê-lốp cũng không còn nguyên vẹn. Phép thử ấy không những chỉ nói lên phẩm chất kiên trinh của Pê-nê-lốp mà còn khắc sâu sự bền vững của tình cảm gia đình, tình cảm vợ chồng cha chúng tôi hành động của Pê-nê-lốp (một sự cẩn trọng gần như thái quá) chúng ta có thể thấy được tính chất phức tạp của thời đại – nơi mà những hiểm nguy luôn rình rập, đe doạ con người.Cách kể của Hô-me-rơ qua đoạn này thể hiện đặc trưng của phong cách kể chuyện sử thi, vừa chậm rãi, vừa tỉ mỉ, trang trọng. Ở đoạn trích này Pê-nê-lốp nghi ngờ, không tin Uy-lít-xơ là người chồng xa cách của mình. Do đó kiểu kể chuyện tỉ mỉ này tạo ra những đoạn đối thoại mang hình thức thăm dò, thử phản ứng từ đó dẫn tới bản chất của vấn đề.Để khắc hoạ bản chất nhân vật, Hô-me-rơ thường sử dụng hình thức gọi nhân vậ bằng cụm danh – tính từ rất phổ biến trong sử thi Hi Lạp (ví dụ: Pê-nê-lốp thận trọng, nhũ mẫu Ơ-ri-clê hiền thảo, Uy-lít-xơ cao quý và nhẫn nại…). Điều này tạo cho sử thi phong cách riên, hấp dẫn, đặc sắc.Biện pháp nghệ thuật được Hô-me-rơ sử dụng ở khố cuối đoạn trích (“Dịu hiền”… “buông rời”) là biện pháp so sánh có đuôi dài, ở đây, Hô-me-rơ đã ví niềm vui tái ngộ của Pê-nê-lốp với Uy-lít-xơ cũng giống như hạnh phúc của con người thoát nạn biển khởi. Vế so sánh được nói trước, dài hơn với hình ảnh cụ thể, sinh động, như cái đòn bẩy nghệ thuật nhằm tôn lên sự việc được so sánh, tạo hiệu quả đặc biệt cho câu văn.

Soạn Bài Môn Văn Lớp 10 Bài Uy

1. Soạn bài Uy-Lít-Xơ trở về mẫu 1

1.1. Tìm hiểu chung

Việc tìm hiểu chung giúp chúng ta hiểu rõ về nội dung, ý nghĩa của bài, và trả lời câu hỏi cuối bài.

Nội dung chính:

Đoạn trích kể về cảnh gặp gỡ của hai vợ chồng Uy – lít – xơ sau hai mươi năm xa cách. Trong cảnh ấy các nhân vật đã thử thách lẫn nhau để tìm về hạnh phúc. Câu chuyện ngợi ca vẻ đẹp trí tuệ và khát vọng hạnh phúc của người Hi Lạp. Nó nhắc nhở ta tình cảm gia đình bao giờ cũng rất cao quý, thiêng liêng.

Mở bài Uy-Lít-Xơ trở về

Kết bài Uy-Lít-Xơ trở về

Ý nghĩa văn bản:

– Ca ngợi tình vợ chồng son sắt, thủy chung.

– Ca ngợi trí tuệ và đạo đức con người.

1.2. Câu 1 (trang 52 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1)

Bố cục: 2 phần

– Phần 1 (từ đầu…người kém gan dạ): Cuộc đối thoại giữa bốn nhân vật, Pê – nê – lốp chưa chịu nhận chồng.

– Phần 2 (còn lại): Vượt qua thử thách, Uy – lít – xơ được đoàn tụ cùng gia đình.

1.3. Câu 2 (trang 52 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1)

– Tâm trạng của Uy – lít – xơ khi gặp lại vợ và gia đình:

+ Vui vẻ, mừng rỡ, vui sướng.

+ Bình tĩnh, sáng suốt.

+ Nhẫn nại mỉm cười với con trai.

– Cách ứng xử của chàng bộc lộ phẩm chất:

+ Cao quý: yêu thương vợ con, quê hương.

+ Nhẫn nại: bị Pê – nê – lốp dửng dung, thử thách mà không hề tức giận.

+ Khôn ngoan: hiểu được tấm lòng của Pê – nê – lốp, lo liệu trước mọi chuyện để đối phó với những kẻ cầu hôn vừa bị giết.

1.4. Câu 3 (trang 52 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1)

– Pê – nê – lốp “lòng vẫn rất đỗi phân vân” vì Uy – lít – xơ xuất hiện với bộ dạng của người hành khất, quần áo rách mướp…Nàng không muốn nhận nhầm chồng vì đó là điều tối kị của người Hi Lạp.

– Pê – nê – lốp đặt ra thử thách “bí mật của chiếc giường” cho thấy nàng là con người trí tuệ sắc sảo, thận trọng, bình tĩnh, tự tin và giàu lòng yêu thương.

1.5. Câu 4 (trang 52 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1)

– Cách kể của Hô – me – rơ qua đoạn trích thể hiện đặc trưng phong cách sử thi: chậm rãi, tỉ mỉ, trang trọng.

– Tác giả dùng cụm danh – tính từ để gọi nhân vật, khắc họa bản chất của nhân vật.

– Ở đoạn cuối, tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật so sánh mở rộng và so sánh có đuôi dài.

1.6. Luyện tập

Câu 1 (trang 52 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):

Tổ chức diễn kịch cảnh “cảnh nhận mặt bằng phép thử bí mật của chiếc giường”.

Câu 2 (trang 52 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):

Kể lại đoạn trích Uy-lít-xơ trở về trích Ô-đi-xê – sử thi Hi Lạp theo nhân vật Uy-lít-xơ

Nhập vai kể lại cảnh:

Sau khi tiêu diệt hết bọn cầu hôn và cùng với con trai Tê – lê – mác trừng phạt lũ đầy tớ, ta hồi hộp đợi mong thời khắc, Pê – nê – lốp nhận ra ta. Thế nhưng hôm ấy, ta ngồi đợi rất lâu nàng yên lặng bước vào và lặng thing không nói. Trong lúc đang băn khoăn thì Tê – lê – mác lên lời trách mẹ. Nàng khẳng định với con trai nếu ta đúng là chồng nàng thật thì hẳn sẽ có những dấu hiệu riêng để nhận ra nhau. Ta trở về ngồi đối diện vớ Pê – nê – lốp trên chiếc ghé bành rồi nhắc nhũ mẫu Ơ – ri – clê chuẩn bị kê riêng cho mình một chiếc giường để ngủ. Nghe Pê – nê – lốp nói, ta bỗng nhắc lại tất cả bí mật về quá trình chế tác chiếc giường xưa. Vừa mới nói dứt lời, ta thấy Pê – nê – lốp chạy đến ôm chầm lấy cổ ta và nói lời yêu thương nghẹn ngào trong nước mắt. Ta ôm chặt nàng, người vợ xiết bao thân yêu, người bạn đời thủy chung sau bao nhiêu năm xa cách.

2. Soạn bài Uy-Lít-Xơ trở về mẫu 2

2.1. KIẾN THỨC CƠ BẢN

Tóm tắt đoạn trích

Sau khi hạ được thành Tơ-roa, Uy-lít-xơ “hồi quân” trở về quê hương. Chàng phải lênh đênh góc biển chân trời mười năm đằng đẵng mà vẫn chưa về tới quê nhà. Chàng bị nữ thần Ca-líp-xô, vì yêu chàng nên cầm giữ. Cảm thương số phận Uy-lít-xơ, thần Dớt sai Héc-mét đến lệnh cho Ca-líp-xô phải để chàng đi. Bị bão đánh chìm bè, chàng dạt vào xứ Phê-a-ki, được công chúa Nô-xi-ca yêu và nhà vua tiếp đãi tử tế. Theo ý nhà vua, Uy-lít-xơ kể lại những chuyện li kì, mạo hiểm trên bước đường gian truân phiêu bạt của mình cùng đồng đội: chuyện thoát khỏi xứ sở những tên khổng lồ một mắt, chuyện thoát khỏi tiếng hát đầy quyến rũ của các nàng tiên cá Xi-ren nguy hiểm,… Cảm phục, nhà vua cho thuyền đưa chàng về quê hương I-tác. Về đến nhà, chàng giả dạng người hành khất nên Pê-nê-lốp, vợ chàng, không nhận ra. Để trả lời sự thúc ép của bọn cầu hôn, Pê-nê-lốp thách ai giương được chiếc cung của Uy-lít-xơ và bắn một phát xuyên qua mười hai chiếc vòng rìu thì sẽ lấy người đó. Tất cả bọn cầu hôn đều thất bại, Uy-lít-xơ xin được bắn và chàng đã thắng. Nhân cơ hội đó, cha con chàng trừng trị bọn cầu hôn cùng những gia nhân phản bội.

Đoạn trích là cảnh gặp gỡ của hai vợ chồng sau hai mươi năm xa cách nhưng nó diễn ra không bình thường mà trở thành một cảnh nhận mặt. Trong cảnh ấy các nhân vật đã thử thách lẫn nhau để tìm về hạnh phúc. Câu chuyện là bài ca về vẻ đẹp trí tuệ và khát vọng hạnh phúc của người Hi Lạp. Nó nhắc nhở ta tình cảm gia đình bao giờ cũng rất cao quý, thiêng liêng.

2.2. RÈN KĨ NĂNG

1. Cảnh này có thể chia thành hai phần: Phần một từ đầu đến “…người kém gan dạ” và phần hai là đoạn còn lại.

Đoạn 1 (từ đầu đến… xác chết của bọn cầu hôn và người giết chúng.), Ơ-ri-clê và Pê-nê-lốp: Ơ-ri-clê báo tin và thuyết phục Pê-nê-lốp.

Đoạn 2 (từ Nói xong, nàng bước xuống lầu cho đến chúng tôi cũng không phải là người kém gan dạ), Tê-lê-mác, Uy-lít-xơ và Pê-nê-lốp: Thái độ của Tê-lê-mác đối với việc mẹ không chịu thừa nhận cha.

Đoạn 3 (phần còn lại), Pê-nê-lốp và Uy-lít-xơ: Pê-nê-lốp thử thách Uy-lít-xơ, vợ chồng đoàn tụ.

2. Đối thoại của các nhân vật trong các đoạn ấy thể hiện những sắc thái tình cảm riêng: đối thoại của nhũ mẫu Ơ-ri-clê cho thấy niềm vui sướng của người đầy tớ trung thành gắn bó với gia đình, đối thoại của Pê-nê-lốp với nhũ mẫu cho thấy sự thanh thản, với con trai lại cho thấy sự phân vân v.v…

3. Pê-nê-lốp “lòng vẫn rất đỗi phân vân” vì nếu những vị hành khất là chồng nàng thực thì tại sao trong lần gặp trước lại không nói ra. Hơn nữa, nếu Pê-nê-lốp vội vã mà nhận lầm thì danh dự của nàng sẽ bị tổn thương rất lớn (điều tối kỵ của người Hi Lạp).

4. Pê-nê-lốp có nhiều phẩm chất cao đẹp, đặc biệt là trí tuệ sắc sảo, sự bình tĩnh tự tin và luôn thận trọng trong mọi tình huống. Khi nàng nhấn mạnh “cha và mẹ… không ai biết hết” chính là lúc nàng cố ý tạo ra một hoàn cảnh thử thách đối với Uy-lít-xơ. Nó là gợi ý về dấu hiệu nhận ra nhau của vợ chồng nàng. Câu nói ấy vừa thể hiện sự thận trọng, vừa thể hiện sự thông minh sắc sảo của Pê-nê-lốp.

Thực ra Pê-nê-lốp không phải là người “bao giờ lòng dạ cũng rắn hơn cả đá”, có “một trái tim sắt đá hơn ai hết”. Hai mươi năm phải làm chủ gia đình, lại phải đối diện với bao thử thách, nàng đã phải tạo cho mình cái vỏ bọc cứng rắn. Có như vậy nàng mới chờ được đến ngày người chồng trở về để được ùa vào lòng chàng mà bật lên bao nhiêu cảm xúc dồn nén mấy chục năm.

5. Pê-nê-lốp phải dùng đến cách thử bí mật của chiếc giường trong màn nhận mặt nàng vì bí mật ấy giúp giải tỏa được nhiều mối nghi ngờ. Trước hết, để Pê-nê-lốp biết đó không phải là Uy-lít-xơ giả. Sau nữa, nó còn là minh chứng cho lòng chung thủy của nàng. Nếu chiếc giường đã bị chuyển đi hoặc đã không còn là bí mật của riêng hai vợ chồng nữa thì cũng có nghĩa là phẩm giá của Pê-nê-lốp cũng không còn nguyên vẹn. Phép thử ấy không những chỉ nói lên phẩm chất kiên trinh của Pê-nê-lốp mà còn khắc sâu sự bền vững của tình cảm gia đình, tình cảm vợ chồng cha con.

Qua hành động của Pê-nê-lốp (một sự cẩn trọng gần như thái quá) chúng ta có thể thấy được tính chất phức tạp của thời đại – nơi mà những hiểm nguy luôn rình rập, đe dọa con người.

Sau khi nghe Pê-nê-lốp nói với Tê-lê-mác, Uy-lít-xơ vẫn nhẫn nại mỉm cười nói với con trai: “Tê-lê-mác, con! Đừng làm rầy mẹ, mẹ còn muốn thử thách cha ở tại nhà này. Thế nào rồi mẹ con cũng sẽ nhận ra, chắc chắn như vậy…”; thì còn là nói với chính Pê-nê-lốp. Như vậy, khi nói những lời này, Uy-lít-xơ đã nhận ra ý định thử thách của Pê-nê-lốp và mặc dù chưa biết sự thử thách đó là gì nhưng chàng vẫn sẵn sàng chấp nhận. Có thể nói, Pê-nê-lốp và Uy-lít-xơ đã ngầm đối thoại với nhau. Cái “mỉm cười” của Uy-lít-xơ cho thấy chàng là người hết sức bản lĩnh, biết kìm chế tình cảm để có được sự sáng suốt, chín chắn. Đó là cái “mỉm cười” của người hiểu rõ khả năng của mình, tin vào mình, cũng là cái cười thấu hiểu và độ lượng đối với vợ và con trai mình.

7. Cách kể của Hô-me qua màn gặp mặt là một lối kể mang đậm phong cách kể chuyện của sử thi: chậm rãi, tỉ mỉ và trang trọng. Lối kể ấy làm các sự việc như được kéo dài ra và hồi hộp hơn. Sử thi thường được kể (diễn xướng) trong những khoảng thời gian dài. Vì thế phong cách kể ấy làm cho những đêm nghe kể sử thi hứng khởi và hấp dẫn hơn. Phẩm chất của các nhân vật thường được nhà văn miêu tả qua đối thoại – những đối thoại đầy trí tuệ, có chiều sâu và thường đa nghĩa. Bên cạnh đó biện pháp phân tích diễn biến nội tâm của nhân vật cũng tham gia tích cực vào việc xây dựng nên hình tượng các nhân vật trong đoạn trích này.

Trong khổ cuối (“Dịu hiền… buông rời”), Hô-me đã sử dụng biện pháp so sánh mở rộng, kiểu câu tầng bậc và lối lặp đi lặp lại các định ngữ chỉ phẩm chất của nhân vật. Các biện pháp nghệ thuật ấy đã cho thấy vẻ đẹp, phẩm chất đặc biệt là niềm vui mừng khôn xiết của Pê-nê-lốp khi nhận ra người chồng yêu quý của mình.

Để khắc hoạ nổi bật hình tượng nhân vật, Hô-me-rơ đã sử dụng một nghệ thuật miêu tả tâm lí đặc sắc. Trong đoạn trích, nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật sử thi được thể hiện rất rõ trong đoạn từ “Nói xong, nàng bước xuống lầu” cho đến “dưới bộ quần áo rách mướp.”. Nếu như trong tiểu thuyết hiện đại, tâm lí nhân vật thường được diễn tả trực tiếp, với cái nhìn từ bên trong thì ở đây, bút pháp sử thi lại diễn tả tâm lí nhân vật thông qua hành động, cách ứng xử, thái độ từ những biểu hiện bên ngoài, với cái nhìn từ bên ngoài. Tâm trạng phân vân, đầy nghi hoặc của Pê-nê-lốp được diễn tả bằng những chi tiết như :

… nàng không biết nên đứng xa xa hỏi chuyện người chồng yêu quý của mình hay nên lại gần, ôm lấy đầu, cầm lấy tay người mà hôn?

Khi vào đến nhà, bước qua ngưỡng cửa bằng đá, nàng đến ngồi trước mặt Uy-lít-xơ, dưới ánh lửa hồng, dựa vào bức tường đối diện…

…nàng vẫn ngồi lặng thinh trên ghế hồi lâu, lòng sửng sốt, khi thì đăm đăm âu yếm nhìn chồng, khi lại không nhận ra chồng dưới bộ quần áo rách mướp.

8. Có thể so sánh giữa cách miêu tả tâm lí nhân vật giữa sử thi Đam Săn của Việt Nam và sử thi cổ điển Ô-đi-xê của Hi Lạp qua hai đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây và đoạn trích Uy-lít-xơ trở về để thấy được sự giống nhau và khác nhau về bút pháp sử thi giữa hai tác phẩm, hai truyền thống văn học, qua đó nắm được những đặc điểm tiêu biểu của bút pháp sử thi:

Giống nhau:

Dùng cái bên ngoài hay trực tiếp diễn tả từ bên trong tâm lí nhân vật? Ví dụ?

Có sử dụng lối miêu tả cụ thể, tỉ mỉ, chi tiết không? Những đặc điểm miêu tả được lí tưởng hoá như thế nào? Ví dụ?

Khác nhau:

Những chi tiết dùng để diễn tả tâm lí nhân vật trong trích đoạn sử thi Đam Săn có gì khác so với những chi tiết dùng để diễn tả tâm lí nhân vật trong trích đoạn sử thi Ô-đi-xê?

Chất dân gian trong sử dụng hình ảnh, ngôn ngữ ở trích đoạn Đam Săn khác như thế nào cách sử dụng hình ảnh, ngôn ngữ trau chuốt, trang trọng, cao nhã trong trích đoạn Ô-đi-xê?

9. Dựa theo đoạn trích, có thể tự biểu diễn cảnh Uy-lít-xơ trở về. Để tổ chức được một buổi biểu diễn, mỗi lớp cần chọn ra một số bạn có năng khiếu kịch, tổ chức phân vai, học lời thoại… Để tập luyện và biểu diễn được dễ dàng cần có sự cố vấn của thày cô, cũng cần rút bớt những phần rườm rà trong lời thoại có như vậy, mục đích của buổi biểu diễn mới thành công.

Sau khi tiêu diệt hết bọn cầu hôn và cùng với con trai Tê-lê-mác yêu quý trừng phạt những lũ đầy tớ vong ân phản chủ, ta hồi hộp đợi mong thời khắc, Pê-nê-lốp nhận mình. Thế nhưng hôm ấy, sau khi đã ngồi đợi rất lâu, ta mới thấy nang yên lặng bước vào. Nàng ngồi đối diện vơi ta nhưng lặng thinh không nói. Có lúc ta thấy nàng đăm đăm âu yếm nhìn ta nhưng có lúc lại thấy nàng thờ ơ lạnh nhạt. Trong lúc đang băn khoăn quá đỗi thì Tê-lê-mác lên lời. Ta chờ đợi sự phản ứng của nàng sau những lời con trai trách mẹ nhưng nàng vẫn không vồ vập. Nàng khẳng định với con trai nếu ta đúng là chồng nàng thật thì hẳn sẽ có những dấu hiệu riêng để nhận ra nhau. Nghe nàng nói vậy ta đã hiểu nàng muốn nói điều gì. Ta bèn vừa an ủi vừa nhắc nhở con trai Tê- lê-mác hãy đề phòng sự trả thù của bọn cầu hôn, nhắc nhở mọi người mặc quần áo đẹp ca múa làm người ngoài lầm tưởng trong nhà đang làm lễ cưới, rồi ta cũng đi tắm rửa.

Ta trở về chỗ cũ ngồi đối diện với Pê-nê-lốp trên chiếc ghế bành rồi nhắc nhũ mẫu Ơ- ri-clê chuẩn bị kê riêng cho mình một chiếc giường để ngủ. Không ngờ ngay lúc ấy người cũng bạo dạn nói với u già: Già hãy khiêng chiếc giường chắc chắn ra khỏi gian phòng vách tường kiên cố do chính tay Uy-lít-xơ đã kê nó ngày xưa. Nghe Pê-nê-lốp nói vậy, ta bỗng giật nẩy mình bởi ta nghĩ rằng bí mật về chiếc giường xưa không còn nữa. Buột miệng ta đã nhắc lại tất cả bí mật về quá trình chế tác chiếc giường. Nhưng vừa mới nói dứt lời song bỗng dưng ta thấy Pê-nê-lốp chạy đến ôm chầm lấy cỏ ta và nói bao lời yêu thương nghẹn ngào trong nước mắt. Lúc ấy ta mới chợt hiểu ra sự thông minh và sắc sảo của vợ mình. Ta ôm chặt lấy nàng, người vợ xiết bao thân yêu, người bạn đời thuỷ chung sau bao nhiêu năm xa cách.

………………………………………………………………………………………..

Soạn Bài Và Tóm Tắt Uy Lít Xơ Trở Về

Giới thiệu về nhà văn Hô-me-rơ

Tác giả Hô-me-rơ ( Hómēros) là nhà văn mù nổi tiếng của xứ sở Hi Lạp, sống trong khoảng thời gian từ thế kỉ IX đến VIII giai đoạn trước Công nguyên. Nhà văn sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo khó, từng phải trải qua cuộc sống mưu sinh khổ cực bươn trải. Những kiệt tác mà ông để lại cho đời là hai bộ sử thi nổi tiếng I-li-at và Ô-đi-xê.

Giới thiệu về tác phẩm Ô-đi-xê và đoạn trích

Nhân vật chính của tác phẩm kinh điển này hai nhân vật Uy lít xơ và Pê nê lốp. Tác giả đã gửi gắm và hiện thức hóa, lí tưởng hóa những điều tốt đẹp vào hai nhân vật trung tâm này. Họ là biểu tượng của cao đẹp về hạnh phúc, khát khao tự do và mơ ước bình yên về mái ấm gia đình.

Tác phẩm Ô-đi-xê bao gồm 24 khúc ca với 12110 câu thơ kể về cuộc hành trình gian truân của Uy lít xơ. Khi tóm tắt Uy lít xơ trở về cùng đoạn trích trong sách ngữ văn 10, các em cần lưu ý nắm được nội dung của tác phẩm Ô-đi-xê.

Đoạn trích trong chương trình thuộc khúc ca XVIII của tác phẩm Ô-đi-xê. Khi đó, Uy lít xơ giả vờ làm người khách khất, sau đó thử thách những tên nô bộc phản hồi và những kẻ cầu hôn vợ mình. Tiếp đó, cha con chàng đã tiêu diệt 108 tên công tử láo xược và gia nhân không trung thành. Đoạn trích này được bắt đầu từ đây. Do vậy, khi tóm tắt Uy lít xơ trở về, các em cần lưu ý về nội dung của tác phẩm Ô-đi-xê cũng như đoạn trích cần nghiên cứu trong sách giáo khoa.

Hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm Ô-đi-xê

Để nắm được trọn nội dung cũng như soạn bài một cách tốt nhất, khi tóm tắt Uy lít xơ trở về, các em cần nắm được hoàn cảnh ra đời của tác phẩm. Qua đó, các em sẽ nắm được căn nguyên nội dung và tính cách của nhân vật khi tác giả tạo dựng lên.

Ô-đi-xê là kiệt tác được ra đời khi người Hi Lạp mở rộng vùng hoạt động ra vùng biển cả. Hình tượng nhân vật Uy lít xơ chính là sự thần tượng hóa và lí tưởng hóa của những mơ ước và khao khát của người dân Hi Lạp trong công cuộc chinh phục thế giới và khám phá thiên nhiên. Con người ngoài sự gan góc kiên cường cũng cần phải có sự thông minh, nhanh nhaỵ và khôn ngoan để giành được những mơ ước đó.

Bên cạnh đó, ảnh hưởng của đời sống xã hội đã tác động đến suy nghĩ của tác giả khi tạo nên tác phẩm. Ô-đi-xê ra đời khi nhân dân Hi Lạp đang ở giai đoạn từ giã chế độ công xã thị tộc, và đang ở ngưỡng chế độ chiếm hữu nô lệ. Do vậy, thời điểm này xuất hiện tổ chức gia đình với hình thái một vợ một chồng. Chính vì thế, bên cạnh là tình yêu với quê hương, tác phẩm còn ngợi ca tình cảm gia đình gắn bó, thủy chung và son sắt.

Người anh hùng Uy lít xơ lênh đênh mười năm trên biển mà vẫn chưa đặt chân đến mảnh đất quê hương. Vì tình yêu say đắm của mình mà nữ thần Ca-lip-xô ích kỉ đã giữ chàng lại. Thương thay thân phận Uy lít xơ, thần Dớt bèn sai Hec-mec đến để lệnh cho nữ thần Ca-lip-xô phải cho chàng đi. Trong quá trình trở về, chàng phải dạt vào xứ Phê a ki vì thuyền đã bị bão đánh chìm.

Tại xứ Phê a ki, Uy lít xơ được nhà vua tiếp đón tử tế, đồng thời cũng được công chúa Nô xi ca yêu mến và phải lòng. Theo ý cửa đức vua, chàng kể lại bước đường gian truân và chặng đường gian nan của mình cùng đồng đội: từ câu chuyện thoát khỏi xứ sở khổng lồ của tên một mắt, chuyện thoát khỏi tiếng hát nguy hiểm của những nàng tiên cá Xi ren…

Nghe xong những câu chuyện ấy, nhà vua cảm phục chàng, bèn cho thuyền đưa chàng về quê hương. Về đến nhà, chứng kiến cảnh vợ mình khi xa chồng được nhiều người theo đuổi cầu hôn, Uy lít xơ giả dạng người hành khất để vợ không nhận ra mình. Trước sự thúc ép của những người cầu hôn, chàng thách ai giương được chiếc cung của Uy lít xơ và bắn một phát trúng mười hai chiếc vòng rìu thì sẽ lấy người đó. Tuy nhiên, tất cả đều thất bại. Chàng ra tay trừng phạt những tên cầu hôn và những kẻ gia nhân phản bội.

Văn bản được học trong chương trình Ngữ Văn 10 là đoạn trích về cảnh gặp gỡ giữa Uy lít xơ và gia đình tại quê hương. Tuy nhiên, cảnh gặp mặt trong lần trở về này lại trở thành cảnh “nhận mặt”. Các nhân vật trong đoạn trích đều được thử thách để tìm được hạnh phúc. Câu chuyện chính là bài ca về hạnh phúc gia đình, khát vọng và ước mơ đoàn tụ và tự do của người dân Hi Lạp.

Bên cạnh đó, tác giả của đoạn trích cũng gửi đến bạn đọc thông điệp về sự trân quý hạnh phúc gia đình giản đơn. Chỉ có gia đình mới đem lại những giá trị to lớn và bên lâu. Đó chính là thứ tình cảm cao quý, thiêng liêng mà mỗi người cần phải lưu giữ trong tim mình.

Phần 1 – Từ đầu… người kém gan dạ: Đây là cuộc đối thoại giữa các nhân vật, trong đó có những người cầu hôn vợ Uy lít xơ và chàng. Tuy nhiên, vợ chàng vẫn chưa chịu nhận chồng

Phần 2- Đoạn còn lại: Vợ chàng thử thách qua bí mật về chiếc giường, cuộc thánh thức diễn ra thành công do Uy lít xơ khởi xướng.

Mỗi tác phẩm nghệ thuật đều mang giá trị và ý nghĩa riêng của nó. Để một kiệt tác đi vào lòng người đọc nó cần có nội dung sâu sắc và nghệ thuật điêu luyện, và đoạn trích này cũng không phải một ngoại lệ.

Nội dung của tác phẩm: Đây là bài ca đề cao sức mạnh của trí tuệ, của ý chí nghị lực và niềm tin của loài người về khát vọng chinh phục tự nhiên. Đồng thời, khi khám phá tác phẩm qua việc tóm tắt Uy lít xơ trở về, chúng ta còn thấy được ở đó là khát khao về một cuộc sống hạnh phúc ấm no.

Nghệ thuật của tác phẩm: Năng lực quan sát và tưởng tượng đầy phong phú đa dạng, sự quan sát tỉ mỉ tinh tế đầy sâu sắc, cốt truyện gây cấn với nhiều chi tiết hấp dẫn, tính cách nhân vật nhất quán tiêu biểu, ngôn ngữ sử dụng nhiều định ngữ với các hình ảnh ẩn dụ, so sánh…

Chàng lập mưu kế để tiêu diệt chúng một cách êm đẹp. Với sự trợ giúp của cậu con trai tên là Tê-lê-mác, bọn cầu hôn láo xược cùng những kẻ thất tín đã bị chàng dẹp bỏ. Mặc dù hồi hộp khi gặp vợ là thế, những chàng vẫn giữ được phong thái bình tĩnh của mình, kiên nhẫn để Pê nê lốp nhận ra chàng. Chi tiết đơn giản này cũng cho thấy phẩm chất cao quý và nhân phẩm sáng ngời của chàng trai Hi Lạp. Do vậy, khi tóm tắt Uy lít xơ trở về, chúng ta cần phân tích kĩ tâm trạng của nhân vật.

Sự phân vân trong tâm trạng của nàng Pê nê lốp thể hiện cụ thể trong từng cử chỉ, điệu bộ, dáng vẻ, sự lúng túng trong cách ứng xử. Nàng tính toán, xem xét, suy nghĩ mông lung nhưng cũng không giấu được sự bàng hoàng xúc động “lòng sửng sốt, khi thì đăm đăm âu yếm nhìn chồng, khi lại không nhận ra chồng“

Việc nàng Pê-nê-lốp sử dụng cách thử bí mật của chiếc giường cho thấy sự thông minh, lanh lơi của nàng, đồng thời cũng thể hiện sự bình tĩnh, thận trọng và cốt cách thanh tao. Điều này là vô cùng phù hợp với hoàn cành của nàng lúc đó. Sự tế nhị, tỉnh táo và đầy kiên quyết của Pê nê lốp thể hiện nàng là con người tình cảm và có lối sống cao thượng. Khi tóm tắt Ut lít xơ trở về, chúng ta cần lưu ý đến tâm trạng cũng như phân tích suy nghĩ của nàng để thấy được vẻ đẹp sáng ngời mà tác giả gửi gắm trong nhân vật.

Một số biện pháp nghệ thuật điển hình được vận dùng tài tình đầy tinh tế trong đoạn trích chính là biện pháp tương phản, tạo bất ngờ kịch tính… Ở đoạn cuối của đoạn trích, biện pháp so sánh được sử dụng vô cùng thành công. “Người đi biển” và “mặt đất” là hai hình ảnh nói lên tâm trạng khát khao đến tuyệt vọng nhưng cũng mừng vui của nàng Pê nê lốp khi gặp lại người chồng bấy lâu xa cách.

Có thể thấy, ngòi bút của nhà văn Hô mê rơ mang đậm phong cách sử thi, vừa chậm rãi nhưng cũng đầy trang trọng. Kiểu kể chuyện tỉ mỉ trong các cuộc đối thoại khiến tính cách các nhân vật trở nên chân thật hơn. Để khắc họa nhân vật một cách cụ thể nhất, tác giả đã sử dụng hình thức gọi thân mật bằng cụm danh-tính từ rất đặc trưng của sử thi Hi Lạp, ví dụ điển hình như Uy lít xơ cao quý, Pê nê lốp thận trọng hay nhũ mẫu Ori cle hiền thảo…

Soạn Văn 9 Soạn Bài Rô

Soạn văn 9 Soạn bài Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang thuộc phần: Bài 29 SGK Ngữ Văn 9

I. Đọc hiểu văn bản

Trả lời câu 1 (trang 129 SGK Ngữ văn 9, tập 2):

Bài văn có thể chia làm 3 phần

– Phần 2: Tiếp theo đến áo quần của tôi: Trang bị và trang phục của Chúa đảo.

– Phần 3: Còn lại: Diện mạo của vị chúa đảo.

Trả lời câu 2 (trang 129 SGK Ngữ văn 9, tập 2):

– Trước tiên tác giả nói đến trang phục từ trên xuống dưới, tiếp đó là trang bị nghĩa là các vật mang theo rồi sau hết mới đến diện mạo của mình.

– Phần diễn tả diện mạo cũng chỉ chiếm một dung lượng ít ỏi. Nói thoáng qua về nước da, trên bộ mặt, Rô-bin-xơn chỉ đặc tả bộ ria mép…

Trả lời câu 3 (trang 129 SGK Ngữ văn 9, tập 2):

– Thời tiết mưa nắng khắc nghiệt, chỉ cần nước mưa thấm vào da thịt cũng sẽ bị ốm một trận thập tử nhất sinh. Tuy nhiên nó cũng giúp cho cây cối rất phát triển.

– Trên đảo không có người, không có vải để may quần áo, Rô-bin-xơn liền lấy những tấm da dê may tạm làm quần áo cho mình.

– Thiếu thốn những vật dụng sinh hoạt hằng ngày

– Trên đảo không có sự nguy hiểm của người thổ dân hoặc thú dữ.

Chỉ qua trang phục thôi, chúng ta cũng đã thấy ý chí và nghị lực của nhân vật “tôi” lớn đến mức nào. Thay vì bị hoàn cảnh éo le khuất phục, Rô-bin-xơn đã không ngừng lao động, cải tạo nó để nó phục vụ cho cuộc sống của mình. Bên cạnh đó, giọng kể còn mang tính hài hước, dí dỏm, thể hiện sự lạc quan, vượt lên trên hoàn cảnh. Chàng không bị khuất phục trước thiên nhiên mà đã để thiên nhiên phải khâm phục mình.

Soạn văn 9 Soạn bài Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang được biên soạn và tổng hợp bởi các thầy cô giáo dạy giỏi môn văn lớp 9 giúp học sinh soạn bài, tóm tắt, phân tích, thuyết minh, nghị luận,… hay nắm bắt rõ cách soạn văn 9 như nào, cho thật ngắn gọn, dễ hiểu mà vẫn đủ ý chính. chúng tôi gửi tới các bạn học sinh đầy đủ các bài soạn văn lớp 9 hay nhất giúp các bạn học tốt môn ngữ văn 9.

Xem Video bài học trên YouTube

Giáo viên dạy thêm cấp 2 và 3, với kinh nghiệm dạy trực tuyến trên 5 năm ôn thi cho các bạn học sinh mất gốc, sở thích viết lách, dạy học

Bạn đang xem bài viết Bài Văn: Soạn Bài: Uy trên website Maiphuongus.net. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!